Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của Pháp luật Việt Nam trong xu thế hội nhập - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN CAO HIẾN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI
NGƯỜI NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan

HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng

1.1.2.2.
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
16
1.2.
Đặc điểm của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
17
1.2.1.
Đặc điểm chung
17
1.2.2.
Những đặc điểm đặc thù của quan hệ kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền của Việt Nam
19
1.3.
Nguyên tắc giải quyết quan hệ kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
22
1.4.
Ý nghĩa của việc pháp luật ghi nhận quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài
27

Chương 2: KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
31
2.1.
Các điều kiện để việc kết hôn hợp pháp

Điều kiện về nghi thức kết hôn
51
2.2.
Thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
55
2.2.1.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tại Việt Nam
55
2.2.2.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại khu vực biên giới
57
2.2.3.
Việc đăng ký kết hôn được tiến hành tại Cơ quan đại diện
của Việt Nam ở nước ngoài
59
2.3.
Trình tự, thủ tục đăng ký kết giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
61
2.3.2.
Về thủ tục nộp và nhận hồ sơ kết hôn
64
2.3.3.
Về trình tự giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
65
2.3.4.
Về tổ chức lễ đăng ký kết hôn

Một số vướng mắc liên quan đến việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
95
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan
hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
102
3.2.1.
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kết hôn giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài
103
3.2.2.
Đảm bảo hoạt động có hiệu quả của các cơ quan có liên
quan trong việc thi hành pháp luật về kết hôn có giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài
110

KẾT LUẬN
115

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
118

PHỤ LỤC
122
DANH MỤC CÁC BẢNG


3.4
Tình hình công dân Việt Nam kết hôn với công dân Đài
Loan giai đoạn 1998-2005
83
3.5
Tình hình công dân Việt Nam kết hôn với công dân Hàn
Quốc giai đoạn 2007-2010
85
3.6
Tình hình đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với
công dân Hàn Quốc tại Việt Nam và Hàn Quốc
86 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chính sách mở rộng hội nhập quốc tế của
Đảng và nhà nước ta đã làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện đáng
kể. Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ về hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cũng phát
sinh ngày càng nhiều. Việc điều chỉnh quan hệ này trở thành một yêu cầu cấp
bách, quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng
thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các nước có liên quan.
Để kịp thời điều chỉnh được các quan hệ hôn nhân và gia đình nói
chung, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài nói
riêng, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật có giá trị như: Luật
Hôn nhân và gia đình năm 1986; Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài 2/12/1993; Luật Hôn nhân và gia đình

pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu một
số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, từ đó rút ra được một số đề xuất
thực tế nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết
sức quan trọng, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được điều đó,
em đã mạnh dạn chọn vấn đề "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật
Việt Nam trong xu thế hội nhập" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là vấn đề có
tính thời sự cao. Do vậy, từ trước tới nay có không ít các công trình nghiên
cứu về vấn đề này. Có thể chia các công trình nghiên cứu về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài thành ba nhóm lớn sau:

3
- Nhóm luận văn, luận án: ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như: Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, của Vilayvong Senebouttarat, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2008. Với đề tài này, tác giả đã nghiên cứu các quy định
của pháp luật Việt Nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy
định của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên tác giả lại không đề cập tới việc kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa công dân Việt Nam
với nhau tại cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam tại nước
ngoài. Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Lào theo quy
định của pháp luật Việt Nam và Lào, Khóa luận tốt nghiệp, của Vithanha
Inthivixay, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010. Ở đề tài này, tác giả đã bước
đầu nghiên cứu về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, nhưng chủ yếu là quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với công
dân Lào mà không đề cập tới việc công dân Việt Nam kết hôn với công dân
nước khác. Mặt khác, tác giả đã nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ tư pháp

ngoài, chưa đề cập hoặc ít đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của
pháp luật về vấn đề trên.
- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu
thuộc nhóm này chủ yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Tòa án
nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… Trong đó phải kể đến bài viết của tác giả
Đỗ Văn Chỉnh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 1 (1/2011) với nhan đề:
"Kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng pháp luật"; "Một số
vướng mắc liên quan đến việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài" của tác
giả Ngô Văn Thìn, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2009; "Thực
trạng về việc phỏng vấn trong kết hôn với người nước ngoài hiện nay" của
Nguyễn Văn Thắng, đăng trên Tạo chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về
đăng ký khai sinh và đăng ký kết hôn… Phần lớn các bài viết thuộc nhóm này
chỉ đề cập tới một số vấn đề cụ thể của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt

5
Nam với người nước ngoài, chưa đề cập được sâu sắc và toàn diện các vấn đề
của việc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài.
Tóm lại, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên
cứu một cách toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài. Các công trình nghiên cứu hoặc
chủ yếu tập trung vào một mảng cụ thể của quan hệ này hoặc nghiên cứu dưới
góc độ xung đột pháp luật và đi sâu vào việc luận giải hệ thống pháp luật nào
giải quyết quan hệ đó. Do vậy, các công trình nghiên cứu trên so với đề tài
của Luận văn này là hoàn toàn không có sự trùng lắp về mặt nội dung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là qua quá trình nghiên cứu các
quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài và thực trạng của vấn đề này trong những
năm gần đây, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và

- Các quy định của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài trong một số văn bản pháp luật như: Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1986; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Bộ luật dân sự năm 2005
và các văn bản pháp luật khác liên quan. Trong đó, luận văn tập trung nghiên
cứu về quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài trước cơ
quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và theo các quy định của pháp luật
Việt Nam mà không đề cập tới việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài theo pháp luật nước ngoài và yêu cầu pháp luật Việt Nam công nhận
- Một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về kết hôn có
yếu tố nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan, Anh, Mỹ, có sự so sánh và đối
chiếu với pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, qua đó tiếp thu những
điểm tiến bộ và phù hợp với các quy định về kết hôn giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài trong luật HN&GĐ Việt Nam.

7
- Tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
mà chủ yếu là nữ công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trong vài
năm gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ
yếu như phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; phương pháp phân
tích luật học; phương pháp phân tích - so sánh; phương pháp tổng hợp (trên
cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo pháp luật nước ngoài); phương pháp
trích dẫn, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia v.v Trên cơ sở
phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của
pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đặc biệt đánh
giá, phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh một số quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài đã lựa chọn, tác giả rút ra những ưu điểm, tồn tại
trong việc thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi,

quy định của pháp luật về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Mặt khác, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm thực thi việc kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài.
Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ là nguồn tư
liệu mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc để các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền có thể tham khảo góp phần sửa đổi một số quy định trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 về kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài. Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được
dùng làm tư liệu học tập, tài liệu tham khảo, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo
luật hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm đến quan hệ kết hôn giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài.

9
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quan hệ kết hôn giữa công dân
Việt Nam với người nước ngoài
Chương 2: Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài trong những năm gần đây và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.

10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN
GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI


Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái
niệm về kết hôn, theo đó: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [33].
Theo quy định trên, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn. Kết hôn chính là
sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của
hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau.
Hệ thống pháp luật của nước ta quy định, việc kết hôn phải đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi yêu cầu đăng ký kết hôn, hai bên nam
nữ phải có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và
những giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một
trong hai bên kết hôn không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi
cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ tạm vắng mặt, trong đơn phải
nêu rõ lý do vắng mặt và phải có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở
nơi người vắng mặt cư trú.
Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hôn phải đảm
bảo hai yếu tố:
Thứ nhất, việc kết hôn phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong
muốn được kết hôn với nhau. Như vậy, trước hết kết hôn là một quyền gắn
liền nhân thân của mỗi bên nam nữ. Quyền kết hôn xuất phát từ tình cảm yêu
thương giữa nam và nữ. Bởi vậy, đó là quyền tự do của mỗi cá nhân và được
pháp luật bảo vệ, điều này được thể hiện tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2005,
theo đó: "nam, nữ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và
gia đình có quyền tự do kết hôn" [35] và khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và

12
gia đình: "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào
được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép, cản trở" [33]. Do
vậy, sự tự nguyện của nam và nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo
cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia

Theo đó, tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
ghi nhận:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan
hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài
sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [33].
Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình còn quy
định: "Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai
bên định ở nước ngoài" [33].
Việc nhận diện đúng "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và
gia đình là hết sức cần thiết. Nhiều trường hợp không xác định đúng "yếu tố
nước ngoài" nên gây không ít khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài. Khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã
đưa ra tiêu chí để xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia
đình. Điều này đã khẳng định sự phát triển về lý luận của pháp luật Việt Nam
trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài có thể hiểu là các quan hệ hôn nhân và gia đình sau:

14
- Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài.
- Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.

Hôn nhân và gia đình năm 2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định số 68/2002/NĐ-CP) thì "người nước
ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài
và người không quốc tịch" [12]. Theo các quy định trên thì người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam có thể là công dân nước ngoài hoặc có thể là người không
có quốc tịch.
Công dân nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài, có thể là
người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài. Người có nhiều quốc tịch
nước ngoài là tình trạng pháp lý của một người có cùng một lúc là công dân
của nhiều quốc gia. Người không có quốc tịch là người không có quốc tịch
của bất cứ nước nào. Địa vị pháp lý của người không có quốc tịch bị hạn chế
nhiều hơn so với công dân nước sở tại và người có quốc tịch nước ngoài. Họ
không được hưởng các quyền mà các bộ phận khác của dân cư được hưởng
trên cơ sở điều ước quốc tế giữa các quốc gia hữu quan. Họ cũng không được
hưởng sự bảo hộ ngoại giao của bất kỳ nước nào.
Người nước ngoài là một bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng
dân cư của một quốc gia nên bên cạnh các quy định pháp luật bảo vệ quyền
lợi của công dân, từng quốc gia đều phải đối diện với nghĩa vụ quốc tế là tạo
cơ sở và điều kiện để người nước ngoài được hưởng chế độ pháp lý phù hợp
với sự tồn tại hợp pháp của họ trên lãnh thổ quốc gia đó. Một đặc thù quan
trọng liên quan đến địa vị pháp lý của người nước ngoài trên lãnh thổ nước sở

16
tại là người nước ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước này
mà đồng thời còn phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước người đó là
công dân. Do vậy, về nguyên tắc, người nước ngoài được hưởng các quyền
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa cơ bản như công dân của nước sở tại, ngoại
trừ một số quyền do pháp luật quốc gia sở tại có quy định hạn chế nhất định
vì lợi ích và an ninh quốc gia của nước đó. Vì thế, theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung, kết hôn nói riêng,

Việt Nam tại nước ngoài.
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là một trong
ba trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài và theo quy định của pháp luật
Việt Nam, các trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài bao gồm:
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài (người có
một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài)
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người không có quốc tịch.
1.2. Đặc điểm của quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài
Như đã phân tích trên, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài là một trường hợp của quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Do vậy, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài vừa mang những đặc điểm chung của quan hệ kết hôn vừa có những
đặc điểm đặc thù.
1.2.1. Đặc điểm chung
Thứ nhất, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài chỉ được nhà nước công nhận giữa những người khác nhau về giới tính
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình, thể hiện trong việc sinh
đẻ, nuôi dưỡng và giáo dục con cái, đáp ứng lẫn nhau những nhu cầu vật chất

18
và tinh thần trong cuộc sống hàng ngày. Sự liên kết giữa những người khác
giới là một đặc điểm vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Nếu hôn
nhân được xây dựng giữa hai người cùng giới tính thì đương nhiên mục đích
của hôn nhân không đạt được, chức năng của gia đình không đảm bảo. Do đó,
để bảo vệ yếu tố truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân loại và tính tự nhiên
trong hôn nhân, pháp luật đa số các nước cũng như pháp luật hôn nhân và gia
đình nước ta đều cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính. Hiện nay, ở
nước ta đã xuất hiện một số trường hợp hai người cùng giới tính chung sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status