quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 30

Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ HỌC : 2010-2014
Đề tài:
QUAN HỆ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1.1.1.1.1.1.1

Giảng viên hướng dẫn:
Ths Bùi Thị Mỹ Hương
Bộ môn: Luật thương mại

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Kha
MSSV: 5105961
Lớp: LK1064A1-K36

Cần Thơ, tháng 12/2014

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 1

SVTH: Nguyễn Văn Kha




Trang 2

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................


1.2.2 Đặc trưng của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài..................................... 8
1.2.2.1 Về chủ thể .............................................................................................. 8
12.2.2 Về khách thể.......................................................................................... 12
12.2.3 Về sự kiện pháp lý ................................................................................. 13
1.3 Xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài ...................................... 13
1.3.1 Định nghĩa xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài .................. 13
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 4

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.3.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật ......................................... 14
1.3.3 Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài .... 14
1.4

Nguyên tắc chọn luật áp dụng cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài . 15

1.4.1 Nguyên tắc Luật quốc tịch .......................................................................... 15
1.4.2 Nguyên tắc Luật nơi cư trú.......................................................................... 16
1.4.3 Nguyên tắc Luật nơi có vật ......................................................................... 16
1.4.4 Nguyên tắc Luật Toà án .............................................................................. 17
1.4.5 Nguyên tắc Luật nơi thực hiện hành vi ........................................................ 17
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI ....................................................................................................... 18
2.1 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ..................................................... 18
2.1.1 Về năng lực lập di chúc ................................................................................ 18
2.1.2 Về hình thức di chúc ................................................................................... 23

3.1.2.2 vấn đề hàng thừa kế ................................................................................ 55
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
................................................................................................................................. 55
3.2.1 Về quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài ................................ 55
3.2.2 Về quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài ............................. 57
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 6

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật về thừa kế đã có từ xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội
loài người. Tuy có những đặc thù riêng nhưng dân tộc nào, đất nước nào và từng con
người cụ thể nào đều chịu sự tác động của quan hệ thừa kế. Với ý nghĩa và tầm quan
trọng như vậy nên trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng là
một trong các chế định quan trọng trong pháp luật của mỗi quốc gia. Nó là cơ sở cho
việc duy trì tài sản giữa các thế hệ trong gia đình-xã hội và là hình thức pháp lý chủ
yếu bảo vệ quyền của công dân (quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế tài sản). Chính
vì thế, để hoàn thiện hơn pháp luật quốc gia cũng như vươn tầm ra thế giới pháp luật
thừa kế trên thế giới nói chung và pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói riêng đã không
ngừng phát triển và hoàn thiện chế định thừa kế để bảo vệ quyền lợi của công dân
mình.

2. Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã tìm hiểu và khai thác một số vấn
đề khái quát chung về thừa kế bao gồm thừa kế trong nước và thừa kế có yếu tố nước
ngoài, đưa ra các quy định chọn luật áp dụng của pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài. Người viết cũng phân tích các quy định của pháp luật nước ta
về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, bao gồm thừa kế theo di chúc và thừa kế theo
pháp luật có yếu tố nước ngoài. Qua đó, người viết tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp
luật trong các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài và
nêu lên một số giải pháp hoàn thiện.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập và phát triễn toàn cầu như hiện nay, thì quan hệthừa kế có
yếu tố nước ngoài cũng từng bước hình thành và phát triển. Do đó việc nghiên cứu để
ngày một hoàn thiện pháp luật về thừa kế là điều hết sức cần thiết. Vì vậy, đề tài mà
tôi nghiên cứu nhằm mục tiêu giúp tôi hiểu sâu, hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật
về thừa kế có yếu tố nước ngoài. Việc nghiên cứu giúp người viết thấy những thiếu sót
trong các quy định của pháp luật và đưa ra một vài đề xuất nhằm hoàn thiện hơn pháp
luật nước nhà.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, người viết đã vận dụng các
phương pháp phân tích, diễn dịch, so sánh…thu thập và rút gọn những thông tin trên
sách, báo, tạp chí…nhằm giới thiệu một cách khái quát nhất về đề tài nghiên cứu cũng
như làm rõ một cách sâu sắc nhất, chi tiết nhất đề tài nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Chương 3: Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quan hệ thừa kế có yếu
tố nước ngoài tại Việt Nam.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Tại Điều 37 Pháp lệnh 1990 quy định về quyền thửa kế của người nước ngoài như
sau:“Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền thừa kế của người
nước ngoài đối với tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam theo quy chế về người nước
ngoài tại Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận”.
Như vậy Pháp lệnh thừa kế 1990 đã xác định nguyên tắc chung là: Nhà nước Việt
Nam bảo đảm người nước ngoài được hưởng thừa kế đối với di sản thừa kế có trên
lãnh thổ Việt Nam để lại và việc thừa kế của công dân Việt Nam đối với tài sản ở nước
ngoài do người thân của họ để lại ở nước ngoài cũng được cho phép bảo hộ.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 9

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Cho ta thấy Pháp lệnh 1990 còn thiếu những quy định chi tiết, nhất là những quy
phạm xung đột làm cơ sở để giải quyết những vụ việc cụ thể về thừa kế có yếu tố nước
ngoài. Nên trong thời gian này việc giải quyết các quan hệ thừa kế có yếu tố nước
ngoài gặp nhiều khó khăn.
1.1.2 Giai đoạn Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực đến trước ngày Bộ luật Dân
sự 2005 có hiệu lực
Trước những thiếu sót của Pháp lệnh 1990 và đòi hỏi có những quan hệ thừa kế có
yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều hơn. Yêu cầu đặt ra là một hệ thống pháp luật điều
chỉnh vấn đề này chính xác hơn. Trước yêu cầu đó nhà nước ta đã ban hành BLDS (Bộ
luật Dân sự) 1995 (Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995). Chế định thừa kế nói chung
và thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định rỏ hơn trong phần thứ tư và
một số điều khác của BLDS 1995.
- Tại khoản 3 và 4 Điều 15 BLDS 1995 quy định: “3. Bộ luật dân sự được áp

nước ngoài để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng chế định thừa
kế có yếu tố nước ngoài còn để trống.
1.1.3 Giai đoạn Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực đến nay
Ngày 14/6/2005 BLDS (Bộ luật Dân sự) được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ
ngày 01/1/2006 thay thế BLDS 1995. Bộ luật này đã quy định quan hệ thừa kế có yếu
tố nước nước ngoài trong phần thứ bảy cụ thể hơn tại Điều 767 và 768: “Thừa kế theo
pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc
tịch trước khi chết; Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của
nước nơi có bất động sản đó; Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về
Nhà nước nơi có bất động sản đó; Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về
Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết. Năng lực lập di
chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di
chúc là công dân; Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di
chúc”.
Điểm mới của BLDS 2005 là cụ thể hoá được nguyên tắc giải quyết xung đột pháp
luật trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Một điểm mới nữa của BLDS 2005
so với BLDS 1995 là quy định quy tắc chọn luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kế
tương đối rõ ràng hệ thuộc luật được sử dụng trong pháp luật Việt Nam để giải quyết
tranh chấp về thừa kế là hệ thuộc luật quốc tịch. Bộ luật này cũng phân chia tài sản
thành hai loại là động sản và bất động sản là căn cứ hợp lý, chính xác để giải quyết
xung đột pháp luật.
Nhìn chung hệ thống pháp luật Việt Nam qua từng thời kì cũng đã từng bước được
hoàn thiện hơn nhưng với sự ra đời của BLDS 2005 là một bước tiến dài trong việc
xây dựng các quy phạm điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Bộ luật
này đã góp phần chám vào lỗ hỏng mà các văn bản pháp luật trước để lại, tạo thuận lợi
lớn trong việc giải quyết xung đột pháp luật.

1

Quy định ở các Điều từ 833 đến 838 Bộ luật Dân sự 1995.

quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Do đó, tại Điều 758 BLDS 2005 quy định:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên
tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Từ việc quy định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 của BLDS 2005.
Ta có thể thấy, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng được nhìn nhận như các
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

2

Phùng trung tập: Thừa kế theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2004,
trang 9.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 12

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Vậy quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là các quan hệ thừa kế có ít nhất một
trong ba yếu tố nước ngoài sau: Yếu tố về mặt chủ thể, Yếu tố nước ngoài về mặt
khách thể, Yếu tố nước ngoài về mặt sự kiện pháp lý3. Yếu tố nước ngoài về mặt chủ
thể được thể hiện trong trường hợp một bên hoặc các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú
ở nước ngoài (điều này không phụ thuộc vào tài sản đối tượng của quan hệ hoặc sự
kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở đâu). Yếu tố nước
ngoài về mặt khách thể được thể hiện trong trường hợp khi tài sản đối tượng của quan

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 13

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
có nước ngoài hay không. Có thể nói quan hệ giữa những cá nhân (người để lại di sản,
người thừa kế) mang quốc tịch khác nhau cũng chính là quan hệ thừa kế có yếu tố
nước ngoài. Ở nước ta vấn đề quốc tịch được quy định trong luật quốc tịch được Quốc
hội khoá XII, kì họp thứ tư thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, trong đó quy định
tiêu chí xác định người có quốc tịch Việt Nam.
Để xác định một chủ thể có có phải là công dân Việt Nam hay không nước ta căn
cứ vào quốc tịch mà người đó được hưởng, “công dân nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”4. Vấn đề đặt ra là người như thế nào
thì được hưởng quốc tịch Việt Nam? Mỗi cá nhân phải có những quyền và nghĩa vụ
nhất định với một quốc gia nhất định vì vậy việc hưởng quốc tịch nước nào là điều
quan trọng đối với mỗi cá nhân để mỗi người có được những quyền và lợi ích liên
quan đến quốc tịch ấy, cũng như thực hiện những nghĩa vụ liên quan. Ở Việt Nam,
quốc tịch của công dân Việt Nam được quy định rõ trong Luật quốc tịch 2008. Theo
đó một người có quốc tịch Việt Nam phải thuộc vào một trong các trường hợp sau đây:
Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là
công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh
thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là
người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có
quốc tịch Việt Nam. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn
người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận
bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em
được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn

pháp quốc tế”.
Người nước ngoài: Người nước ngoài là một trong những chủ thể cơ bản của tư
pháp quốc tế nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng. Do đó,
thuật ngữ người nước ngoài được sử dụng rộng rãi trong pháp luật của các nước trên
thế giới. hầu hết các nước đều lấy dấu hiệu quốc tịch làm căn cứ để định nghĩa người
nước ngoài.
Theo pháp luật Việt Nam, tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành các quy định của BLDS 2005 về quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài thì: “người nước ngoài là người không quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có
quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch”. Ngoài ra, theo khoản 1 và 2 Điều 3
Luật quốc tịch 2008 cũng quy định: “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước
khác không phải là quốc tịch Việt Nam. Người không quốc tịch là người không có
quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài”. Phân tích những điều
luật trên ta có thể hiểu quy định của pháp luật Việt Nam về người nước ngoài như sau:
người nước ngoài là người người không có quốc tịch Việt Nam, họ có thể là người có
quốc tịch của một nước khác, một vài nước khác hoặc không mang quốc tịch của một
nước nào.
Về vấn đề xác định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của
người nước ngoài, pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 761 BLDS 2005: “Năng lực
pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của
nước mà người đó có quốc tịch. Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại
Việt Nam như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có quy định khác”.
Điều 762, Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài: “Năng lực
hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của
nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có quy định khác. Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện
các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài
được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên cũng
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

thành lập, hợp nhất, sát nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân thanh lý tài sản sau khi giải
thể pháp nhân do pháp luật Việt Nam quy định. Các pháp nhân Việt Nam trong tư
pháp quốc tế bất kể dù hoạt động trong nước hay ngoài nước điều tự chịu trách nhiệm
dân sự trong phạm vi tài sản của mình, nhà nước Việt Nam chỉ bảo hộ về mặt ngoại
giao đối với quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân.
Pháp nhân nước ngoài: Thông thường pháp nhân phải mang quốc tịch của một
nước nhất định và được tổ chức, hoạt động theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó
mang quốc tịch, khi hoạt động với tư cách là pháp nhân nước ngoài ở nước nào đó,
năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân trên lãnh thổ nước sở tại tuỳ thuộc vào quy
6
7

Giáo trình tư pháp quốc tế Đại học luật Hà Nội-NXB Tư pháp, trang 95.
Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 16

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
định của pháp luật sở tại. Tuy nhiên, những vấn đề về tổ chức nội bộ, giải thể thanh lý
tài sản khi giải thể vẫn phải tuân thủ theo pháp luật mà pháp nhân đó mang quốc tịch.
Như vậy cùng một lúc pháp nhân nước ngoài phải tuân theo hai hệ thống pháp luật là
pháp luật của nước sở tại và pháp luật của nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch.
Còn tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định 138/2006/NĐ-CP
thì: “pháp nhân nước ngoài là pháp nhân được thành lập theo pháp luật nước ngoài”.
Việc áp dụng pháp luật để xác định năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước


SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Quyền được miễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế đảm bảo sơ bộ đối với đơn
kiện hoặc bảo đảm thi hành phán quyết của toà án nước ngoài: Toà án nước ngoài chỉ
được phép áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó trong trường hợp quốc gia cho phép,
ta có thể hiểu một cách gián tiếp là tài sản của quốc gia cũng được hưởng quyền bất
khả xâm phạm.
Quốc gia có quyền đứng tên nguyên đơn trong vụ tranh chấp với cá nhân cũng như
pháp nhân nước ngoài: trong tình huống đó Toà án nước ngoài được phép giải quyết
tranh chấp. Tuy nhiên bị đơn là cá nhân, pháp nhân nước ngoài chỉ được phép phản
kiện khi quốc gia đồng ý.
Quốc gia là một chủ thể rất đặc biệt trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố
nước ngoài nói chung và trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng, thế
nhưng trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện chưa có quy định đề cập vấn đề này.
1.2.2.2 Về khách thể
Ngoài các chủ thể được nêu ở phần trên thì khách thể của quan hệ thừa kế là một
yếu tố xác định quan hệ có thể là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài hay không?
Điều 758 BLDS 2005 quy định “quan hệ dân sự có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở
nước ngoài thì đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”. Điều 163 BLDS 2005 quy
định tài sản bao gồm: “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 181 BLDS
2005 cũng quy định: “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển
giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Trong quan hệ thừa kế tài sản
chính là di sản thừa kế, di sản bao gồm: “tài sản riêng của người chết, phần tài sản
của người chết trong tài sản chung với người khác” (Điều 634 BLDS 2005). Qua đó ta
thấy di sản thừa kế có mối quan hệ với quyền sở hữu, quyền sở hữu tài sản của cá nhân
là cơ sở chủ yếu dể xác định được di sản thừa kế.
Để điều chỉnh những tranh chấp xung quanh vấn đề di sản có yếu tố nước ngoài,

gian hiệu lực pháp luật của một quốc gia và liên quan đến ít nhất là từ hai quốc gia trở
lên, đến ít nhất hai hệ thống pháp luật. Trong trường hợp điều chỉnh các quan hệ xã hội
có yếu tố nước ngoài bao giờ cũng xuất hiện hiện tượng mà người ta gọi là xung đột
pháp luật. Trong tư pháp quốc tế hiện tượng xung đột pháp luật là hiện tượng pháp luật
của hai hay nhiều quốc gia khác nhau cùng có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ
xã hội có yếu tố nước ngoài.
Vậy từ hai quan điểm trên ta có thể định nghĩa xung đột pháp luật về thừa kế có
yếu tố nước ngoài như sau: “xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài là
hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều quốc gia khác nhau cùng có thể áp dụng để
điều chỉnh một quan hệ về thừa kế có yếu tố nước ngoài”.
1.3.2 Nguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật
Có hai nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật về thừa kế có yếu
tố nước ngoài.
- Pháp luật về nội dung, đó là cùng một mối quan hệ về thừa kế nhưng pháp luật
của hai hay nhiều quốc gia quy định khác nhau.
- Pháp luật về mặt hình thức, cũng là mối quan hệ về thừa kế phần nội dung pháp
luật của các nước giống nhau nhưng cách giải thích và áp dụng khác nhau.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 19

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Vấn đề đặt ra ở đây thì pháp luật nước nào sẽ được áp dụng để làm cơ sở xác định
quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như hình thức và biện pháp chế tài đối với bên
đương sự có hành vi vi phạm pháp luật.
1.3.3 Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 20

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.4 Nguyên tắc chọn luật áp dụng quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Trong tư pháp quốc tế, khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài, chúng ta sẽ chọn hệ thống pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ
cần giải quyết. Cụ thể ở đây là hệ thống pháp luật có quan hệ gắn bó với những vấn đề
của thừa kế có yếu tố nước ngoài. Thông thường, việc định hình hệ thống pháp luật có
quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần điều chỉnh khá dễ dàng, ví dụ: pháp luật có
quan hệ mật thiết với tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng thường là pháp
luật nơi thực hiện hợp đồng.
Tuy vậy, trong lĩnh vực mà chúng ta đang đề cập việc định hình hệ thống pháp luật
có quan hệ mật thiết với những vấn đề của thừa kế có yếu tố nước ngoài lại khá phức
tạp, vì những vấn đề này có thể liên quan đến một vài hệ thống pháp luật khác nhau.
Khi chọn hệ thống pháp luật để điều chỉnh, chúng ta không nên bỏ qua các yếu tố sau
của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
1.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch
Hệ thuộc luật quốc tịch được hiểu là luật của nước mà đương sự là công dân. Nó là
một dạng của hệ thuộc luật nhân thân. Trong quan hệ thừa kế thì hệ thuộc luật quốc
tịch chỉ áp dụng trong trường hợp thừa kế tài sản là động sản. Theo đó, khi một quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì pháp luật của
nước đó sẻ được đưa ra áp dụng để điều chỉnh. Như vậy, đặc điểm của nguyên tắc này
phải xác định được quốc tịch của công dân trong quan hệ thừa kế. Ở Việt Nam nguyên
tắc luật quốc tịch được ghi nhận trong một số văn bản, trong đó có một số quan hệ
thừa kế như: “Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để

người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; pháp luật áp dụng
đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước
mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người
đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp
luật của nước mà người đó có quộc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa
vụ công dân”.
1.4.3 Nguyên tắc luật nơi có vật
Theo nguyên tắc luật nơi có vật (tài sản) vật ở nước nào thì áp dung pháp luật ở
nước đó để giải quyết. Trong quan hệ thừa kế thì hệ thuộc luật nơi có vật được áp dụng
để giải quyết về thừa kế tài sản là bất động sản. Như vậy, theo nguyên tắc này thì việc
giải quyết thừa kế là bất động sản, phải căn cứ vào luật của nước nơi có bất động sản
đó. Pháp luật Việt Nam quy định, “quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo
pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”10. Bên cạnh đó hệ thuộc Luật nơi có vật
cũng áp dụng cả trong trường hợp thừa kế bất động sản mà không có người hưởng
thừa kế. Nhìn chung, trong trường hợp này các nước thường quy định tài sản đó thuộc
sở hữu Nhà nước.
Ngoài ra, nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật được áp dụng để định danh tài sản.
Trong quan hệ thừa kế việc định danh tài sản rất quan trọng, khi xác định được tài sản
đó là động sản hay bất động sản thì việc áp dụng pháp luật sẽ được dễ dàng hơn. Do
đó, trong trường hợp định danh tài sản pháp luật Việt Nam quy định: “việc phân định
tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có

9

Diệp Ngọc Dũng-Cao Nhất Linh: Tập bài giảng tư pháp quốc tế, Khoa Luật-Đại học Cần Thơ, năm 2002, trang
20.
10
Khoản 2 điều, 767, Bộ luật Dân sự 2005.

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

có yếu tố nước ngoài, mỗi nguyên tắc điều có quy định riêng về cách chọn luật nhưng
tất cả điều có quan hệ với nhau tạo cơ sở cho việc giải quyết xung đột về thửa kế giữa
các quốc gia với nhau.

11

khoản 3 điều 766 Bộ luật Dân sự 2005
Diệp Ngọc Dũng-Cao Nhất Linh: Tập bài giảng tư pháp quốc tế, Khoa Luật-Đại học Cần Thơ, năm 2002,
trang 22.
13
Khoản 2 điều 768, Bộ luật Dân sự 2005.
12

GVHD: Bùi Thị Mỹ Hương

Trang 23

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUAN HỆ THỪA KẾ
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

2.1 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người
khác sau khi chết14. Một di chúc hợp pháp đúng các quy định hiện hành đồng thời thoả
mãn được ý chí, nguyện vọng của người để lại di chúc, tránh những phát sinh, tranh
chấp về sau thì di chúc đó phải tuân theo khuôn khổ pháp luật của một nước. Ở Việt

Trang 24

SVTH: Nguyễn Văn Kha


Quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
2005: “ Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của
nước mà người lập di chúc là công dân”. Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi
tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
cũng đã hướng dẫn tại khoản 1 Điều 13: “Năng lực lập, sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ
bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch”.
Trong trường hợp người lập di chúc không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc
tịch nước ngoài thì việc xác định pháp luật áp dụng về thừa kế theo di chúc tuân theo
quy định tại Điều 760 của Bộ luật dân sự và Nghị định này.
Như vậy, để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực lập, thay đổi và hủy bỏ di
chúc, Việt Nam áp dụng pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân. Pháp
luật Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định năng lực chủ thể khi công dân Việt Nam
lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc, định đoạt di sản thừa kế, bất kể di sản thừa kế là động
sản hay bất động sản. Ngược lại pháp luật Việt Nam sẽ không được áp dụng đối với
việc xác định năng lực chủ thể khi công dân nước ngoài lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc
định đoạt di sản thừa kế, kể cả khi hành vi này được thực hiện tại Việt Nam.
Tuy nhiên, đối với người không quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch thì
BLDS 2005 và các văn bản pháp luật khác mà nước ta dẫn chiếu đến việc áp dụng
pháp luật của nước mà người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với
người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú. Nếu người đó không
có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp BLDS 2005 hoặc các
văn bản pháp luật khác mà nước ta dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà
người nước ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai
hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư
trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự. Nếu người đó không cư trú tại một trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status