Người nước ngoài nhận trẻ em việt nam làm con nuôi theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 25

MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật
của nhiều quốc gia và trong pháp luật quốc tế. Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa về nhân cách của
mình trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình, trong bầu không
khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm”. Chế định nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì đó là
sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những
đối tượng đặc biệt không chỉ non nớt về thể chất và trí tuệ mà còn có hoàn cảnh
khó khăn, thiếu tình yêu thương lại thiếu một mái ấm gia đình trên quê cha đất
tổ. Với tư cách là thành viên của Công ước về bảo vệ quyền trẻ em, Nhà nước ta
luôn luôn có chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em, hướng sự
quan tâm tới trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhất là những trẻ em thiếu mái ấm
gia đình.
Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế
ngày càng được mở rộng giao lưu về mọi mặt giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài ngày càng phát triển thì quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có
quan hệ về nuôi con nuôi đã và đang là hiện tượng thu hút sự quan tâm của
nhiều người cả trong và ngoài nước. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống, toàn diện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trở thành vấn
đề cấp thiết. Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chúng ta tham
gia hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế bảo vệ trẻ em đặc biệt là trẻ em Việt
Nam sau khi làm con nuôi người nước ngoài.
Như chúng ta đã biết, thực tiễn cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam
chủ yếu là việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài đã và đang
là một nhu cầu chính đáng của chính các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
và cả từ phía những gia đình nước ngoài muốn được nhận các em về nuôi trong
gia đình của họ, chính vì vậy khóa luận này tập trung vào việc nghiên cứu việc

3
- Chương 1: Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước
ngoại nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận
trẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều
chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
4
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI
1.1. Mục đích và ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài
Mục đích cơ bản của việc nuôi con nuôi chính là bảo đảm cho người con
nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã
hội. Thực tiễn cho thấy có rất nhiều trẻ nhỏ khi sinh ra đã bị bố mẹ bỏ rơi, nhiều
em bị tàn tật bẩm sinh hoặc bị nhiễm các chất độc hoá học do chiến tranh để lại,
bố mẹ không đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục các em… Vì lẽ đó các em
không có môi trường để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Nếu
như những em đó được nhận làm con nuôi, được hưởng sự nuôi dưỡng, quan
tâm chăm sóc từ phía cha mẹ nuôi thì sẽ đảm bảo cho các em có sự phát triển
toàn diện, tránh đi vào những con đường lầm lỡ.
So với pháp luật phong kiến, mục đích của việc nuôi con nuôi theo quy
định trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thực sự là một bước phát triển
vượt bậc. Trong xã hội phong kiến, việc nuôi con nuôi chủ yếu nhằm mục đích
đảm bảo sự kế tục trong việc thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường; khuyếch
trương quyền thế gia đình; nuôi con nuôi vì mê tín dị đoan… vì vậy có thể nhận
thấy việc cho nhận con nuôi trong chế độ phong kiến chủ yếu là xuất phát từ lợi
ích của người nhận con nuôi chứ không vì quyền lợi của chính người con nuôi.
Mục đích của việc nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và

giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Mục đích việc xác lập quan hệ cha mẹ
nuôi và con nuôi nhằm để hình thành một gia đình thực sự, đó cũng là điểm đặc
trưng cơ bản để phân biệt việc nuôi con nuôi với những hình thức chăm sóc nuôi
dưỡng khác. Hơn nữa, người nhận nuôi và người được nhận nuôi đều không chỉ
hướng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhau mà điều quan trọng hơn cả đối với họ
là thiết lập và gắn bó với nhau trong một mối quan hệ khăng khít như một gia
đình ruột thịt.
6
Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng là
quan hệ xã hội được hình thành và phát triển một cách khách quan. Nó tồn tại
như một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của con người cần được thỏa mãn lợi
ích nào đó, có thể là nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm nhưng cũng có thể nó bị
biến dạng bởi những tính toán vật chất. Vì vậy để việc nuôi con nuôi phù hợp
với bản chất tốt đẹp của nó cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật.
Chính vì nhận thức rằng: quan hệ nuôi con nuôi cần phải được điều chỉnh
bằng những quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho mối quan hệ đó có cơ sở để
tồn tại và phát triển theo một trật tự và phạm vi nhất định, phù hợp với lợi ích
chung của cộng đồng và xã hội vì vậy Nhà nước ta luôn xây dựng và điều chỉnh
các quy định pháp luật cho sát với thực tế phát triển của mối quan hệ có phần
nhạy cảm và tương đối phức tạp này.
Xét về phương diện xã hội việc nhận nuôi con nuôi là thể hiện quan hệ xã
hội cao đẹp, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫn
nhau giữa con người với con người, đặc biệt là với trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa. Việc nuôi con nuôi cũng là một trong những biện pháp tốt nhất và có
hiệu quả nhất để giải quyết tình trạng trẻ em mồ côi, lang thang không nơi
nương tựa, giúp em có được mái ấm gia đình, được đùm bọc giáo dục trong sự
được yêu thương của cha mẹ.
Việc giới thiệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ các gia đình hoặc
bị bỏ rơi tại các cơ sở y tế được làm con nuôi cũng sẽ góp phần giảm bớt khó
khăn cho các gia đình đông con nghèo khó hoặc những phụ nữ sinh con ngoài ý

những nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội
thì được gọi là “quan hệ xã hội”. Quan hệ xã hội rất đa dạng và phong phú, đó
có thể là quan hệ lao động, quan hệ tài sản hay quan hệ gia đình…. Trong quan
hệ gia đình còn có quan hệ giữa cha mẹ; vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ và các
con (trong đó quan mối hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là một thực tế)
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong các nhóm quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đó là việc nuôi con giữa công dân Việt
Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với
8
nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ pháp lý làm phát sinh,
thay đổi chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài.
Hiểu theo nghĩa rộng, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn bao gồm việc
nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên
định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đề tài sẽ xoay quanh vấn đề
người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Như chúng ta đã biết: Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt
Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch. Công dân nước
ngoài là người có quốc tịch nước ngoài và không đồng thời có quốc tịch Việt
Nam.
Việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi, trước hết
nhằm xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước của Việt Nam trong việc
giải quyết các vấn đề phát sinh. Đồng thời việc xác định yếu tố nước ngoài trong
quan hệ nuôi con nuôi còn nhằm mục đích xem quan hệ đó có thuộc đối tượng
điều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam hay không. Điều đó cũng giúp cho các
cơ quan chức năng có thẩm quyền của Việt Nam xác định được đúng mối quan
hệ pháp luật một khi có xảy ra các tranh chấp phát sinh liên quan đến quan hệ
nuôi con nuôi nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của công dân Việt Nam
nói chung và quyền lợi của đứa trẻ được nhận làm con nuôi nói riêng.
1.3. Pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi

cho bố mẹ nuôi - thì gần như pháp luật Việt Nam không thể phát huy được hiệu
lực, bởi lẽ hiệu lực của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia luôn chỉ có giá trị trên
lãnh thổ của mình. Trong khi đó, các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam
với nước ngoài cũng chỉ dừng lại ở mức độ quy định về vấn đề luật áp dụng và
thẩm quyền giải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế. Các hiệp định hợp tác về
nuôi con nuôi quốc tế - dù đã đi xa hơn và hiệu quả hơn khi thiết lập các cơ chế
hỗ trợ song phương trong việc đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp cho đứa trẻ ngay
cả khi nó đã được chuyển ra nước ngoài sinh sống - nhưng lại hạn chế ở hai
điểm căn bản, đó là:
10
- Các hiệp định hợp tác nuôi con nuôi vẫn chưa thực sự là một khung pháp
lý đầy đủ để chi phối được rộng khắp các vấn đề có thể phát sinh trong nuôi con
nuôi quốc tế;
- Hay như là các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế hiện nay tuy
đã rõ ràng nhưng vẫn là những thỏa thuận riêng lẻ giữa Việt Nam với từng nước
cụ thể, trong khi số lượng các nước có hiệp định với Việt Nam lại là rất hạn chế.
11
CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC
NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI
2.1. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài
Kể từ khi Cách Mạng tháng Tám thành công đến nay, quá trình hình thành
và phát triển của pháp luật nước ta về điều chỉnh quan hệ pháp luật nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài có thể chia thành hai giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1945 đến năm 1986, đây là giai đoạn pháp luật
Việt Nam còn thiếu nhiều, chưa bao quát và điều chỉnh được các quan hệ phát
sinh trong đời sống xã hội. Thời gian này, vấn đề cho và nhận con nuôi nhìn
chung không nhiều, chủ yếu diễn ra giữa công dân Việt Nam ở trong nước với
nhau và được thực hiện theo tập quán. Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm

công nhận việc nuôi con nuôi hoặc ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Để hướng dẫn thi hành quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nói
chung, quy định về nuôi con nuôi nói riêng, ngày 20 tháng 01 năm 1988, Hội
Đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết số 01/NQ-
HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình. Tại
mục 6 vủa Nghị quyết hướng dẫn việc nuôi con nuôi trong luật hôn nhân và gia
đình năm 1986, bao gồm quy định về con nuôi thực tế, giải quyết trường hợp
cha mẹ đòi lại con đã cho người khác làm con nuôi, quyền thừa kế của con nuôi
đối với tài sản của cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, các trường hợp chấm dứt việc nuôi
con nuôi và hậu quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi.
Trong một thời gian khá dài pháp luật Việt Nam chưa có quy định thống
nhất cụ thể nên việc quản lý và giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi
người nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn như: mỗi địa phương vận dụng và giải
quyết theo các hướng khác nhau; Việc người nước ngoài xin trẻ em Việt Nam
làm con nuôi chủ yếu phát sinh ở các khu công nghiệp, liên doanh với nước
ngoài hoặc tỉnh, thành phố lớn cũng đồng thời xuất hiện các hiện tượng thu gom
13
trẻ em và tìm cách môi giới cho người nước ngoài nhằm kiếm lợi nhuận…; Từ
thực tế trên đây, các tổ chức con nuôi nước ngoài bắt đầu có nhu cầu vào Việt
Nam để tìm hiểu tình hình tuy nhiên việc chưa có cơ sở pháp lý đã là một rào
cản pháp luật để các cơ quan chức năng Việt Nam có thể ngăn ngừa và kiểm
soát được những hiện tượng tiêu cực này.
Trước tình hình đó, ngày 02/4/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyết
định số 145/ HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con
nuôi là trẻ em Việt Nam bị bỏ rơi, mồ côi, tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý. Sau đó ngày 19/01/1993 Liên bộ
Lao động thương binh xã hội – Tư pháp – Ngoại giao – Nội vụ đã ban hành
thông tư liên bộ số 01/TT-LB hướng dẫn thi hành quy định tạm thời trên. Quy
định tạm thời trên đã đáp ứng được phần nhu cầu của người nước ngoài xin
nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Tuy nhiên, Quyết định số 145/HĐBT mới

điều kiện đối với người con nuôi, người nhận con nuôi và những người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan; Trình tự thủ tục cũng đã được luật hóa, tạo được
khung pháp lý cho mọi người tuân theo.
Chính phủ cũng đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 như Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày
10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định 69/2006/NĐ-
CP ngày 21/07/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-
CP; Thông tư của Bộ Tư pháp số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 về việc
hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; và Thông tư
của Bộ Tư pháp số 08/2006/TT-BTP ngày 08/12/2006 hướng dẫn thực hiện một
số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
2.2. Điều kiện nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài
2.2.1. Điều kiện đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm
con nuôi
Khoản 1 Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, điều kiện đối với
người nhận nuôi con nuôi phải tuân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam và pháp luật của quốc gia mà người đó là công dân về điều kiện
15
nhận nuôi con nuôi. Như vậy thì trước hết người nhận nuôi con nuôi phải thỏa
mãn đầy đủ các điều kiện do Luật hôn nhân và gia đình quy định, cụ thể như
sau:
Thứ nhất, người nhận nuôi con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ (Khoản 1 Điều 69 Luật HN&GĐ), điều này thể hiện sự tự nguyện trong vấn
đề nhận nuôi con nuôi và thể hiện khả năng chăm sóc giáo dục của cha mẹ nuôi
với con nuôi.
Thứ hai, người nhận nuôi con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên
(Khoản 2 Điều 69 Luật HN&GĐ), đây là khoảng cách tuổi tối thiểu giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi. Việc quy định về khoảng cách tuổi giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi như vậy là phù hợp với độ tuổi kết hôn cũng như độ tuổi sinh con về mặt

được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân
phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ,
chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa
chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em;
các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm
những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Các điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi trên đây được áp dụng đối với
tất cả các trường hợp nhận nuôi con nuôi, không phân biệt người nhận nuôi con nuôi
là người độc thân hay là người đang có vợ hoặc chồng. Điều 70 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng cùng nhận nuôi con
nuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại điều 69 của Luật này”.
Ngay cả trong trường hợp vợ hoặc chồng nhận con riêng của bên kia làm con nuôi
thì vẫn phải đảm bảo các điều kiện nhận nuôi theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên
nếu nhất thiết đòi hỏi người nhận nuôi con riêng của chồng hoặc vợ mình làm con
nuôi mà bắt buộc phải hơn con từ hai mươi tuổi trở lên là quá cứng nhắc và hạn chế
việc thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên, ảnh hưởng đến việc hình thành
một gia đình trọn vẹn.
17
Pháp luật nước ta chỉ cho phép trẻ em có thể làm con nuôi của một người hoặc
cả hai là vợ chồng, vợ chồng phải là những người khác giới có quan hệ hôn nhân
(Khoản 1 Điều 36 Nghị định 68). Quan hệ hôn nhân ở đây được hiểu là quan hệ hôn
nhân hợp pháp, tức là quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở thỏa mãn đầy đủ các
điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn.
Khác với Việt Nam, trường hợp hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi bên
cạnh một số điều kiện về độ tuổi, đạo đức…pháp luật một số nước còn quy định về
thời gian đã kết hôn với nhau nhằm đảm bảo tính ổn định của gia đình mà đứa trẻ
được nhận về nuôi, tránh sự xáo trộn xấu như bố mẹ nuôi ly hôn, cãi vã, xung đột.
Pháp luật một số nước công nhận việc xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp
giữa hai người cùng giới tính như ở Thụy Điển… Theo quy định của nước ta thì
người nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì đồng thời phải

Đối với người nước ngoài tuy không thuộc một trong các trường hợp trên,
nhưng xin nhận trẻ em khuyết tật, mất năng lực hành vi dân sự, nạn nhân nhiễm chất
độc, nhiễm HIV/AIDS, mác các bệnh hiểm nghèo đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng
hoặc gia đình làm con nuôi thì cũng được xem xét giải quyết.
Có thể nhận thấy pháp luật đã quy định các điều kiện đối với người muốn nhận
nuôi tương đối toàn diện. Tuy nhiên vẫn còn một số khía cạnh chưa quy định cụ thể
nên việc xác định tư cách của người nhận nuôi con nuôi còn gặp khó khăn.
2.2.2. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
Việc nuôi con nuôi hướng tới đối tượng trước tiên là trẻ em nên pháp luật
thường quy định độ tuổi tối đa của người được nhận làm con nuôi. Theo Khoản 1
Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Người được nhận làm con
nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống”. Đây là những đối tượng chưa trưởng
thành đầy đủ về thể chất và tinh thần, đang trong quá trình định hình và phát triển
nhân cách, rất cần sự quan tâm nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục của người lớn. Khi
tuổi còn nhỏ sự giáo dục, dạy dỗ của người lớn có ảnh hưởng tới việc hình thành
nhân cách của trẻ trong tương lai. Quy định về độ tuổi của người được nhận làm con
nuôi như vậy là tương đối phù hợp với quy định về độ tuổi của một số ngành luật
khác như luật lao động, khi các em đến độ tuổi lao động và có khả năng lao động
19
kiếm sống thì việc nhận con nuôi không thực sự còn nhiều ý nghĩa nữa, hơn nữa vào
độ tuổi này các em cũng có khả năng nhận thức sự việc một cách tương đối chính
xác… Như vậy, quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là khá phù
hợp về mặt thực tế xã hội, hơn nữa, việc quy định độ tuổi của trẻ được nhận làm con
nuôi phải là từ mười lăm tuổi trở xuống cũng là phù hợp với việc các em được người
nước ngoài nhận làm con nuôi vì nếu một khi đã quá tuổi quy định như trên nay
chuyển sang một môi trường mới, tiếp xúc với ngôn ngữ mới khác hẳn với cuộc
sống ở Việt Nam khi đó các em sẽ rất khó thích nghi để hoà nhập.
Ngoài Luật HN&GĐ, điều kiện để trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi
người nước ngoài còn được quy định cụ thể chi tiết trong nghị định số 68/CP và nghị
định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định

So với việc nuôi con nuôi trong nước thì diện trẻ em được làm con nuôi của
người nước ngoài được quy định có phần hẹp và chặt chẽ hơn. Với quy định này
nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhưng sẽ không có điều kiện được nhận
làm con nuôi người nước ngoài nếu những đứa trẻ này không được nhận vào các cơ
sở nuôi dưỡng hoặc không có quan hệ họ hàng thân thích với người nhận nuôi con
nuôi, do đó hạn chế quyền được sống trong mái ấm gia đình của trẻ.
Bên cạnh những quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi, điều
kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi thì còn cần có sự thể hiện ý chí một số chủ
thể khác có liên quan như cha mẹ đẻ, người giám hộ:
Thứ nhất: sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ
Cha mẹ đẻ có quyền quyết định cho con làm con nuôi trên cơ sở tự nguyện . Sự
tự nguyện được thể hiện ở mong muốn và tình cảm của cha mẹ đẻ, phù hợp với lợi
ích của con nuôi, nhận thức đầy đủ ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc cho con làm
con nuôi. Sự đồng ý đó phải được thể hiện một cách khách quan và được pháp luật
quy định bắt buộc bằng văn bản. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ khi cho con đi làm con
nuôi cần phân biệt một số trường hợp cụ thể sau:
Trong trường hợp đứa trẻ còn cha mẹ đẻ thì cần có văn bản thể hiện sự đồng ý
của cả cha và mẹ ngay cả khi cha mẹ đẻ đã ly hôn (Khoản 1 Điều 26 Nghị định số
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch,
viết tắt là Nghị định 158/CP).
21
Khi một người, cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết, mất tích
hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần sự đồng ý của người kia.
Khi không xác định được cha đẻ hoặc mẹ của đứa trẻ thì chỉ cần sự đồng ý của
người còn lại.
Thứ hai: sự đồng ý của người giám hộ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005 về giám hộ:
“Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp
luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài bao gồm những việc sau: Đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan cơ
quan có thẩm quyền ở Việt Nam; Đăng ký việc nuôi con nuôi tại khu vực biên giới;
Đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam.Trong từng
trường hợp cụ thể đó, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi có sự khác biệt về đặc
điểm, nội dung, trình tự thủ tục và thẩm quyền. Điều đó trước hết là do sự khác nhau
về chủ thể trong từng loại việc chi phối. Sự khác nhau về chủ thể là yếu tố cơ bản
dẫn đến sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại việc này. Việc đăng ký và
công nhận việc nuôi con nuôi còn bị chi phối bởi quan hệ hợp tác giữa nước ta với
các nước dựa trên nguyên tắc có đi có lại.
2.3.1. Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi tại Việt Nam
Theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 69/NĐ-CP thì trẻ em Việt Nam
được cho làm con nuôi người nước ngoài là trẻ em từ hai nguồn: cơ sở nuôi dưỡng
được thành lập hợp pháp và từ chính gia đình đứa trẻ.
Các cơ sở nuôi dưỡng gọi chung là các trung tâm bảo trợ xã hội. Các cơ sở này
được thành lập với mục đích nhân đạo, không vì lợi nhuận, tiếp nhận đối tượng đặc
biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống, không có điều kiện sống cùng với gia
đình. Việc tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại
Điều 2 Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội (ban hành kèm theo
Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001), bao gồm: “người có hoàn cảnh đặc
23
biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống thuộc trong những trường hợp như: trẻ
em mồ côi bị mất nguồn nuôi dưỡng, không còn người thân thích để nương tựa…
các đối tượng khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định”. Như vậy, chỉ
những trẻ em được tiếp nhận hợp pháp, đúng đối tượng theo quyết định thành lập
trung tâm bảo nuôi dưỡng mới có thể được cho làm con nuôi người nước ngoài. Tuy
nhiên chưa có văn bản giải thích rõ “các đối tượng khác do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định” là những đối tượng nào nên chưa giải quyết triệt để việc tiếp
nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng [8,tr22-26].

quyết cho trẻ em làm con nuôi và gửi hồ sơ của người xin nhận con nuôi cho Sở
Tư pháp. Nếu thấy hồ sơ của trẻ em chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì Cục con nuôi
quốc tế yêu cầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ.
Khi được Sở Tư pháp thông báo người xin nhận con nuôi phải có mặt tại
Việt Nam để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi. Theo quy định tại khoản 13
Điều 1 Nghị định 69/NĐ-CP, nếu không thể có mặt ở Việt Nam vì lý do khách
quan, thì người xin nhận nuôi con nuôi có thể ủy quyền cho Văn phòng nuôi con
nuôi của nước đó tại Việt Nam, thay mặt họ nộp lệ phí và bản cam kết cho Sở
Tư pháp. Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp báo cáo kết quả thẩm tra và đề xuất ý kiến,
trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Quyết định cho nhận trẻ em Việt
Nam làm con nuôi, nếu việc xin nhận con nuôi đó không thuộc trường hợp từ
chối đăng ký theo quy định tại điều 50 Nghị định 68/NĐ-CP và là biện pháp bảo
vệ lợi ích của trẻ em đó. Sở Tư pháp tiến hành việc giao nhận con nuôi trong
thời hạn 7 ngày kể từ ngày ký Quyết định. Việc giao nhận con nuôi được tổ
chức tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt đầy đủ của các bên. Không chấp nhận
việc ủy quyền giao nhận con nuôi. Đại diện văn phòng con nuôi nước ngoài có
thể tham dự lễ giao nhận con nuôi với tư cách là người chứng kiến. Quyết định
giao nhận con nuôi có hiệu lực kể từ ngày tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào
sổ đăng ký con nuôi. [5,tr103]
Đây là loại việc chủ yếu chiếm số lượng lớn nhất trong các loại việc về
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
25

Trích đoạn Cần sớm ban hành Luật nuôi con nuô Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuô Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các thiết chế nuôi con nuô Đối với tổ chức con nuôi nước ngoài: cần quy định một cách rõ ràng cụ thể cơ chế thực hiện dự án hỗ trợ nhân đạo bằng một văn bản pháp quy riêng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status