Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

VÊn ®Ò nu«i con nu«i cã yÕu tè níc ngoµi theo quy ®Þnh
cña ph¸p luËt ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..

HÀ NỘI – NĂM 2017
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hồng Bắc. Các nội dung nghiên cứu,
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức
nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong Luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng
như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú
thích nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về nội dung Luận văn của mình.

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài………………………………1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài……………………………………………2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận văn…………………………3
4. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn………………………………….....4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn…………………………………4
6. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn………………………………..5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn…………………………..5
8. Bố cục của Luận văn....………………………………………………...5
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài………………………..6
1.2. Ý nghĩa của việc quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…..11
1.3. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam quy định về nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài……………………………………………….13
CHƯƠNG II
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI
CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1. Những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có
4


yếu tố nước ngoài............................................................................................20
2.1.1. Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài……..20
2.1.2. Thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài……28
2.1.3. Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…………….…...32
2.1.4. Điều kiện nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài………………….35
2.1.4.1. Điều kiện đối với người nhận con nuôi………………………..35
2.1.4.2. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi là trẻ em Việt
Nam.................................................................................................................39

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra ở các quốc gia và đều được
pháp luật các nước điều chỉnh. Ở nước ta, trong điều kiện kinh tế - xã hội có
nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt cần một mái ấm gia đình, thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở nên
cấp thiết trong đời sống xã hội. Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ
em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ
chồng nhận con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con. Trong
những năm qua, pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta đã góp phần quan trọng
trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trong môi trường gia đình; động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo,
nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn và phát huy truyền thống tương
thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhân dân.
Trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới ngày nay, cùng với sự mở
rộng của các quan hệ dân sự thì quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
cũng rất phát triển. Thực tế trong những năm gần đây cho thấy, số lượng
người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi không ngừng gia
7


tăng, đặt ra các vấn đề pháp lý cần giải quyết.
Ngày 17/06/2010, Quốc hội đã ban hành Luật Nuôi con nuôi nhằm điều
chỉnh thống nhất việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài trong một đạo luật. Bên cạnh đó, việc thông qua Luật nuôi con
nuôi còn thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của Việt Nam khi tham gia
Công ước quốc tế về quyền trẻ em, tôn trọng và bảo đảm các quyền trẻ em;
bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi
ích tốt nhất của trẻ em, hài hòa với tinh thần Công ước Lahay số 33 ngày
29/05/1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế

tố nước ngoài – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ,
Người hướng dẫn: TS. Vũ Đức Long, Hà Nội.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên đều dựa trên Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 và Bộ luật Dân sự năm 2005 nên về cơ sở pháp lý cũng
như thực tiễn có một số điểm không phù hợp với Luật Nuôi con nuôi năm
2010 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
Sau khi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 được ban hành có một công trình
nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011. Trong đó,
cuốn kỷ yếu: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Luật Nuôi con nuôi
năm 2010” bao gồm các bài viết của các tác giả phân tích nhiều nội dung
xoay quanh vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
9


Ngoài ra còn có các Khóa luận tốt nghiệp, các bài nghiên cứu đăng trên
các tạp chí chuyên ngành Luật như:
- Nguyễn Phương Lan (2012), Hệ quả pháp lí của việc nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài theo Luật Nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học, số 5/2012, tr 48 – 55.
- Lê Thị Bích Thủy (2012), Về nguyên tắc “chỉ cho làm con nuôi người
ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước” theo
quy định của Luật Nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học, số 10/2012, tr 46 – 53.
Các đề tài trên đã phân tích khái niệm, bản chất, đặc điểm về vấn đề nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài. Đồng thời chỉ ra những điểm mới của Luật
Nuôi con nuôi năm 2010 so với các quy định trước đây về vấn đề này... Tuy
nhiên, còn nhiều khía cạnh quan trọng của pháp luật Việt Nam về nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được nghiên cứu sâu sắc. Đặc biệt là chưa có
sự so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới để
rút ra những vấn đề cần học hỏi và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trên cơ sở những nghiên cứu của các đề tài trên, Luận văn sẽ tiếp tục

đoạn hiện nay - giai đoạn hội nhập và phát triển.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài song vì nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có
11


yếu tố nước ngoài ở Việt Nam tương đối rộng nên còn nhiều vấn đề chưa
được nghiên cứu sâu. Các câu hỏi nghiên cứu của Luận văn đó là:
- Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nào cần
được làm rõ hơn trong Luận văn này và đánh giá quy định của pháp luật Việt
Nam về vấn đề này?.
- Bên cạnh việc phân tích từng nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam
về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, Luận văn kết hợp so sánh, đối chiếu
như thế nào với pháp luật của một số nước trên thế giới như: Trung Quốc – là
nước có số lượng trẻ em làm con nuôi người nước ngoài nhiều nhất thế giới,
đồng thời pháp luật có sự tương đồng nhiều mặt với Việt Nam. Pháp – là
nước nhận nhiều con nuôi là người Việt Nam nhất trong giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2015?. Từ đó, Luận văn rút ra được những điểm tiến bộ và hạn
chế gì của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam và đưa
ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
trong thời gian tới ở Việt Nam như thế nào?.
- Luận văn sử dụng những số liệu thực tế gần nhất về công tác nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài từ các Báo cáo tổng kết của Bộ Tư pháp cho đến
thời điểm tháng 06/2016, thông qua việc xử lý số liệu Luận văn có những
đánh giá gì về thực trạng tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam?. Từ việc phát hiện những bất cập của quy định pháp luật so với thực tế
áp dụng thì có hướng sửa đổi như thế nào?.
6. Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Pháp luật về NCN có yếu tố nước ngoài trên thế giới được chia thành hai
nhóm chủ yếu:
- Nhóm thứ nhất: bao gồm các nước đang phát triển hoặc kém phát triển
có dân số đông... thường là các nước cho trẻ em làm con nuôi người nước
ngoài, như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam.
- Nhóm thứ hai: bao gồm các nước phát triển, có nền kinh tế và xã hội ở
trình độ cao... thường là các nước nhận trẻ em nước ngoài về làm con nuôi,
như: Mỹ, Pháp, Úc, Anh.
Với mỗi nhóm trên, pháp luật về NCN có yếu tố nước ngoài sẽ quy định
14


những đặc tính riêng phù hợp với các quan hệ phát sinh NCN có yếu tố nước
ngoài. Với các nước chủ yếu cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thì
các quy định của pháp luật sẽ đề cập nhiều đến các chế định về trẻ em cũng
như NCN có yếu tố nước ngoài một cách cụ thể. Đối với các nước chủ yếu có
công dân nhận trẻ em của nước ngoài làm con nuôi thì pháp luật sẽ quy định
cụ thể hơn đối với công dân của nước mình trong việc nhận con nuôi người
nước ngoài.
Về nội dung các chế định NCN nói chung và NCN có yếu tố nước ngoài
nói riêng của các nước cũng rất khác nhau, có nước quy định trong Bộ luật
dân sự, có nước xây dựng một luật riêng, có nước chỉ quy định như những
nguyên tắc. Tuy nhiên, mục đích cao cả của các chế định NCN đều hướng tới
bảo vệ lợi ích của trẻ em, tạo cho trẻ em mái ấm gia đình thay thế tốt nhất,
giúp các em phát triển cả về tinh thần và thể chất.
Ở Việt Nam, sau khi Luật NCN năm 2010 được ban hành cho đến nay,
đã có hàng loạt các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành vấn đề NCN nói
chung và vấn đề NCN có yếu tố nước ngoài nói riêng. Cụ thể là:

nhiều nhất thế giới nên có sự gần gũi và tương đồng với pháp luật về NCN có
yếu tố nước ngoài của Việt Nam, pháp luật Pháp bởi đây là quốc gia trong
những năm gần đây nhận nhiều con nuôi là người Việt Nam nhất (xem Phụ
lục 1, 2 của Luận văn).
16


Tại Trung Quốc, Luật con nuôi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/12/1991 có hiệu lực từ
ngày 01/04/1992. Sau này, Luật con nuôi tiếp tục được sửa đổi tại cuộc họp
Uỷ ban thường vụ lần thứ 5 và Quốc hội lần thứ 9 ngày 4/11/1998 và có hiệu
lực kể từ ngày 01/4/1999. Luật gồm 34 điều, quy định chi tiết về nguyên tắc,
thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết nuôi con nuôi. Tiếp đó, để thực thi
Luật NCN, ngày 12/05/1999, Vụ Dân chính đã ban hành quy định đăng ký
việc nuôi con nuôi của người nước ngoài tại Trung Quốc. Quy định này
hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố
nước ngoài.
Tại Pháp, có một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản để giải quyết vấn đề
NCN có yếu tố nước ngoài, cụ thể:
- Bộ luật dân sự;
- Bộ luật về Hoạt động xã hội và Gia đình;
- Luật số 2005-744 ngày 04/07/2005 về cải cách lĩnh vực NCN;
- Nghị định số 2006-981 ngày 01/08/2006 về việc chấp thuận cho nhận
trẻ được nhà nước giám hộ hay trẻ em nước ngoài làm con nuôi và sửa đổi bộ
luật hoạt động xã hội và gia đình;
- Nghị định số 2006-1272 ngày 17/10/2006 về biểu mẫu quyết định và
phiếu chấp thuận cho phép nhận trẻ được nhà nước giám hộ và trẻ em nước
ngoài làm con nuôi;
- Các điều từ R225-12 đến R225-46 Bộ luật Hoạt động xã hội và Gia
đình về các tổ chức được phép hoạt động trong lĩnh vực NCN (OAA);

trả đứa trẻ cho họ. Như vậy, có thể thấy giải pháp tốt nhất mà xã hội giành
cho trẻ em ( Từ cổ xưa đến hiện đại) vẫn là “ưu tiên trước hết đối với trẻ là
được chăm sóc bởi chính cha mẹ đẻ , được sống trong môi trường gia đình
ruột thịt của mình” (Điều 3 Tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc). Trong hệ thống
pháp luật La Mã cổ đại thì vì mục đích của nhận con nuôi con nuôi chủ yếu để
duy trì dòng họ, thờ cúng tổ tiên và thừa kế tài sản. Thời kỳ cách mạng tư sản
việc nuôi con nuôi đã có ý nghĩa về mặt xã hội. Gia đình nào càng đông con
thì càng hạnh phúc. Vấn đề con nuôi cũng được đề cập đến trong Bộ luật dân
sự Napoleon 1804 – Bộ luật ra đời đánh dấu nền lập pháp hiện đại. Theo quan
điểm của bộ luật này – điều trái ngược với mong muốn của Napoleon – thì
việc nuôi con nuôi bị hạn chế. Nó đã xóa bỏ đối tượng con nuôi là trẻ vị thành
niên, chỉ cho phép con nuôi là người đã trưởng thành và đã được chăm sóc
trong gia đình cha mẹ nuôi 6 năm. Người nuôi phải từ 50 tuổi trở lên và
không có con nối dõi. Như vậy, giải pháp nuôi con nuôi chỉ được thực hiện
trong trường hợp cha mẹ nuôi không có người thừa kế. Con nuôi được giữ
nguyên tất cả các quyền của chúng trong gia đình gốc, chỉ được quyền thừa kế
tài sản và mang tên của người nuôi. Có thể nói vấn đề nuôi con nuôi đã xuất
hiện từ rất lâu đời trên thế giới, nhưng vấn đề này chỉ thực sự trở thành mối
quan tâm của công đồng thế giới trong vòng hơn nửa thế kỷ qua, kể từ chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ
và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo
đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
19


Về “yếu tố nước ngoài” trong khoa học tư pháp quốc tế cũng đã có sự
thừa nhận chung là có ba loại yếu tố nước ngoài.
Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ có ít nhất một trong các bên tham gia
là người nước ngoài. Người nước ngoài ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: có

trường hợp này là quan hệ NCN giữa người nước ngoài không thường trú tại
Việt Nam với trẻ em mang quốc tịch Việt Nam.
- Quan hệ NCN giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam.
- Quan hệ NCN giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở
nước ngoài. Theo giải thích tại khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm
2008 thì: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Trong trường
hợp này là việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em có quốc
tịch và đang sinh sống tại Việt Nam làm con nuôi.
Như vậy, các quan hệ NCN có yếu tố nước ngoài có liên quan đến pháp
luật của nhiều nước, trong đó ít nhất có pháp luật của cha mẹ nuôi (Luật Quốc
tịch hoặc luật nơi thường trú của người nhận nuôi) và pháp luật của con nuôi
(Luật nơi thường trú hoặc Luật Quốc tịch của con nuôi). Thực tiễn cho thấy,
không tránh khỏi những trường hợp pháp luật của các nước có liên quan quy
định khác nhau về vấn đề NCN (như vấn đề điều kiện NCN, thủ tục thực hiện
việc NCN, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi), từ đó đặt ra yêu
21


cầu lựa chọn pháp luật của một trong các nước có liên quan điều chỉnh việc NCN.
1.2. Ý nghĩa của việc quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàiu6
 Ý nghĩa đối với người nhận con nuôi
Con trẻ là nguồn vui, là động lực trong cuộc sống của bất kỳ cha mẹ nào.
Tuy nhiên, vì một lý do nào đó mà cặp vợ chồng không thể có con, xuất phát
từ tấm lòng nhân đạo hoặc không có ý định xây dựng gia đình thì nhận con
nuôi chính là giải pháp tốt nhất. Pháp luật Việt Nam quy định về nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho người nước
ngoài thực hiện mong ước lớn lao đó là có một đứa con. Kể từ ngày giao nhận
con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của
cha mẹ và con. Cha mẹ nuôi từ đây sẽ cùng sống dưới một mái nhà với con

lang pháp lý thuận lợi cho Việt Nam với các nước khi tham gia ký kết các
Hiệp định Hợp tác NCN quốc tế, từ đó nâng cao mối quan hệ bang giao
không chỉ trong lĩnh vực này mà trên các lĩnh vực khác.
Chính vì vậy, pháp luật về NCN có yếu tố nước ngoài có vai trò, ý nghĩa
vô cùng quan trọng với trẻ em được nhận làm con nuôi và cả cha mẹ nuôi của
các em. Nó là cơ sở pháp lý đem lại cho trẻ em mái ấm gia đình cũng như bảo
vệ quyền lợi của cha mẹ nuôi người nước ngoài, đồng thời, nó hạn chế phần
nào những sai phạm, hành vi trái pháp luật có thể xảy ra trong quá trình nhận
NCN có yếu tố nước ngoài mà cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết.
23


1.3. Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam quy
định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.3.1. Thời kỳ trước năm 2000
Bước vào thời kỳ đổi mới, với chính sách ngoại giao rộng mở, phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, quan hệ giữa Việt Nam và các nước ngày càng
phát triển, cùng với đó các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có xu hướng
ngày càng mở rộng đã đặt ra yêu cầu cần có một văn bản quy định cụ thể hơn
về vấn đề này. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 là văn bản đầu tiên quy
định về vấn đề NCN trong một chương riêng (Chương VI), nhưng vấn đề
NCN có yếu tố nước ngoài chỉ được quy định chung chung ở Điều 53.
Ngày 29/04/1992, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 145HĐBT ban hành quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con
nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng
do Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý - Đây là văn bản đầu
tiên đánh dấu bước phát triển của pháp luật Việt Nam về NCN có yếu tố nước
ngoài. Sau đó, liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – Tư pháp – Ngoại
giao – Nội vụ đã ban hành Thông tư số 01/TTLB ngày 19/01/1993 hướng dẫn
thi hành Quyết định số 145-HĐBT.
Ngày 02/12/1993, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh

quản lý, nên giai đoạn này có nhiều công dân Việt Nam, nhiều tổ chức luật sư
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status