MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………….
NỘI DUNG………………………………………………………………..
I.
Một số vấn đề lí luận về xung đột pháp luật về thừa kế…….
1. Khái niệm thừa kế và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài……..
1.1. Khái niệm thừa kế………………………………………………..
1.2. Khái niệm thừa kế trong tư pháp quốc tế……………………….
2. Phương pháp điều chỉnh……………………………………………
2.1. Phương pháp thực chất…………………………………………
2.2. Phương pháp xung đột…………………………………………..
II. Quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc
giải quyết xung đột pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài…………..
1. Thừa kế theo di chúc………………………………………………..
2. Thừa kế theo pháp luật………………………………………………
3. Vấn đề di sản không người thừa kế trong tư pháp quốc tế………..
KÊT LUẬN………………………………………………………………..
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang
1
1
1
1
2
3
3
4
4
4
6
Một người chỉ có thể để lại thừa kế những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của mình. Hay nói cách khác,người hưởng thừa kế chỉ được công nhận quyền sở
hữu tài sản thừa kế với điều kiện tài sản đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người
chết. Thông thường, sau khi nhận thừa kế, người hưởng di sản thừa kế phải thực
hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Do đó thừa kế phản ánh sự dịch chuyển tài sản hay cụ thể là sự dịch chuyển các
quyền và nghĩa vụ về tài sản từ người chết sang cho người song dưới các hình thức
khác nhau. Các hình thức dịch chuyển tài sản thừa kế( theo pháp luật hoặc theo di
1
chúc) là sự thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của một người, đồng thời lại là biện
pháp xác lập quyền sở hữu tài sản đối với người khác được pháp luật công nhận và
thi hành.
I.2.
Thừa kế trong tư pháp quốc tế
Thừa kế trong tư pháp quốc tế là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, được
điều chỉnh theo các nguyên tắc và các quy phạm của tư pháp.
Thừa kế trong tư pháp quốc tế nói chung, trước tiên phải là quan hệ thừa kế điều
chỉnh theo pháp luật quốc gia. Pháp luật quốc gia điều chỉnh vấn đề thừa kế này
trong nhiều trường hợp là bộ phận của pháp luật dân sự, trong trường hợp khác lại
thuộc bộ phận của thực tiễn tư pháp. Thứ hai, thừa kế trong tư pháp quốc tế phải là
quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thể hiện ở:
- Chủ thể tham gia quan hệ thừa kế phải là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài
- Đối tượng của quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là tài sản đang hiện diện
hoặc đang tồn tại và chịu sự chi phối, điều chỉnh chủ yếu của pháp luật nước
sở tại
chọn một trong các hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đó. Phương pháp
điều chỉnh này thể hiện thông qua sự dẫn chiếu các quy phạm xung đột đến một hệ
thống pháp luật có liên quan. Nói các khác, giải quyết XĐPL đối với các quan hệ
có yếu tố nước ngoài bằng quy phạm xung đột thông qua việc lựa chọn một hệ
thống pháp luật áp dụng nhất định.
II. Quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc giải quyết
xung đột pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài
1. Thừa kế theo di chúc
Về thừa kế theo di chúc quy định tại khoản 1 Điều 681 BLDS năm 2015: “Năng
lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của
nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di
chúc”. Hình thức của di chúc quy định tại khoản 2 Điều 681 BLDS năm 2015:”
3
Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được
lập”
Việc dịch chuyển di sản cho người thừa kế di chúc là dựa trên ý chí của người
lập di chúc khi còn sống. Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân nhằm chuyển quyền
sở hữu tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Quan hệ thừa kế theo di chúc
được đặt ra trong trường hợp người chết để lại di chúc và di chúc đó phải hợp pháp.
Di chúc có thể định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản.
Năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước
mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc.
Khoản 1 Điều 681 BLDS năm 2015 xác định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch để
điều chỉnh vấn đề này. Như vậy, nếu một người là công dân nước ngoài thì năng lực
lập di chúc cũng là một dạng năng lực hành vi nên việc Điều 681 lựa chọn hệ thuộc
quốc tịch để điều chỉnh quan hệ này là hoàn phù hợp với quy định tại Điều 674
không phù hợp về hình thức, trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem
xét đến các hệ thống pháp luật liên quan khác. Nếu như thỏa mãn được một trong
ba hình thức khác được nêu trên thì di chúc vẫn được công nhận. Đây là một quy
định mềm dẻo hơn so với BLDS năm 2005 khi xem xét tính hợp pháp của hình
thức di chúc theo duy nhất một hệ thuộc là luật nước nơi lập di chúc. Quy định này
còn gần hơn với quy định của quốc tế, cụ thể là công ước La Haye 1961 về xung
đột pháp luật liên quan đến hình thức định đoạt tài sản bằng di chúc.
2. Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là trường hợp người chết không để lại di chúc, di chúc
không hợp pháp, không để lại di chúc với một phần tài sản hoặc di chúc không hợp
5
pháp một phần, việc thừa ké theo pháp luật áp dụng theo quy định tại điều 680
BLDS năm 2015 : “Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để
lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.” Như vậy, việc xác định thừa
kế, hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, quyền và nghĩa vụ của
người thừa kế, người quản lí tài sản thừa kế được thực hiện theo pháp luật của nước
mà người đó để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết. Quy định này
mở ra nhiều khả năng áp dụng pháp luật Việt Nam trong trường hợp người Việt
Nam đang cư trú ở nước ngoài (chưa nhập quốc tich nước ngoài).
Ví dụ: Anh Sakido là người Nhật Bản sang Việt Nam kết hôn với chị Hòa là
người Việt Nam, sau đó sinh sống và có một số tài sản là tiền và vật dụng sinh hoạt
vật dụng sinh hoạt ở Việt Nam. Nhưng chẳng may bị tai nạn nghề nghiệp không kịp
để lại di chúc. Chị Hòa yêu cầu Tòa án phân chia tài sản của anh Sakido. Khi đó
Tòa án Việt Nam tiến hành chia di sản thừa kế theo quy định tại BLTTDS năm
2015 nhưng các vấn đề về hàng thừa kế, thời điểm mở thừa kế… phải áp dụng theo
pháp luật Nhật Bản.
Về thừa kế đối với bất động sản, pháp luật Việt Nam quy định phù hợp với
pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát
sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc
không xác định được nới cư trú thì pháp luật áp dụng pháp luật của nước nơi người
đó có mối liên hệ gắn bó nhất. Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp
luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc
tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú
vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có
nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có
quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối
7
liên hệ gắn bó nhất.Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước
mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có
quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.
3. Vấn đề di sản không người thừa kế trong tư pháp quốc tế
Khi đề cập đến quyền hưởng di sản của cá nhân thì trước hết chúng ta sẽ đặt ra
câu hỏi ai là người được hưởng di sản. Câu trả lời sẽ phụ thuộc nội dung pháp luật
từng nước và từng thời điểm. Tuy nhiên, sẽ có những trường hợp sẽ không tìm
được con người cụ thể để thực hiện quyền nhận thừa kế. Vấn đề di sản không có
người thừa kế này đối với nhiều quốc gia thì tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước.
Ở Việt Nam, quan điểm thống nhất cho rằng, quyền của Nhà nước hưởng số di
sản vì lí do nào đó không có người nhận thừa kế do công dân Việt Nam để lại là
quyền dân sự, quyền thừa kế của Nhà nước Việt Nam. Theo quy định tại điều 622
BLDS năm 2015: “Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo
pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di
sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người
nhận thừa kế thuộc về Nhà nước”. Căn cứ vào nội dung quy định trên thì quyền
5. />option=com_content&view=article&catid=92:ctc20032&id=220:tc2003so2g
qxdvtkpl&Itemid=106
10