Bình luận những quy định của pháp luật và thực tiễn xác lập, thực thi chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam - Pdf 45

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.200 km, với vùng
biển thuộc chủ quyền quốc gia có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế lẫn an ninh
quốc phòng.Từ khi tham gia Công ước Luật Biển năm 1982, Nhà nước ta đã
không ngừng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong nước, phục vụ cho việc sử
dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt
Nam, làm cho quy phạm pháp luật của ta hài hoà với quy định của Công ước
Luật Biển năm 1982, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và
tăng cường hợp tác với các nước, vì hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế
giới. Để có được cái nhìn toàn diện về vấn đề chủ quyền Việt Nam trên biển, em
xin chọn đề tài: “Bình luận những quy định của pháp luật và thực tiễn xác lập,
thực thi chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam”.

NỘI DUNG
I. Khái quát chung về lãnh thổ quốc gia và chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Lãnh thổ quốc gia là một phần của Trái đất, bao gồm vùng đất, vùng nước,
vùng trời và vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt hoặc tuyệt đối
của quốc gia. Mỗi quốc gia đều có lãnh thổ của riêng mình với những đặc điểm
khác nhau được xác định dựa trên đường biên giới quốc gia. Lãnh thổ quốc gia
là toàn vẹn và bất khả xâm phạm.
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao, hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt
đối của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình
Xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ là nhằm xác định danh nghĩa
của quốc gia đối với lãnh thổ nói chung và các vùng lãnh thổ nói riêng. Lãnh thổ
quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm nên việc xác lập chủ quyền quốc gia
đối với lãnh thổ phải dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy
định. Luật quốc tế ghi nhận hai phương thức xác lập chủ quyền quốc gia đối với

1




khác biệt so với việc thực hiện chủ quyền trên đất liền, thể hiện thông qua quy
chế hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy và vấn đề thực thi
quyền tài phán của quốc gia ven biển.
2. Lãnh hải
Theo quy định tai Điều 2, 3 của Công ước luật biển 1982 lãnh hải
(Territorial sea) là vùng biển nằm phía ngoài và tiếp liền nội thủy, có chiều rộng
không vượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Như vậy ranh giới phía trong của
lãnh hải chính là đường cơ sở và danh giới phái ngoài là đường mà mỗi điểm
trên đường đó ở cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng
chiều rộng lãnh hải và không vượt quá 12 hải lí. Ranh giới phía ngoài của lãnh
hải cũng chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
Về chế độ pháp lí của lãnh hải, theo quy định tại Điều 2 Công ước luật biển
1982, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ đối với lãnh hải,
vùng trời bên trên cũng như đáy biển và lòng đất đươi đáy biển của lãnh hải.
Việc thực hiện chủ quyền quốc gia trong lãnh hải không mang tính chất tuyệt đối
như trong nội thủy và trên đất liền thể hiện thông qua việc thừa nhận quyền đi
qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài và vấn đề thực thi thẩm quyền tài
phán của quốc gia ven biển.
III. Quy định của pháp luật Việt Nam trong việc xác lập các vùng biển
thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Căn cứ theo quy định tại Công ước, vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam
gồm hai bộ phận là nội thủy và lãnh hải. Cụ thể, các bộ phận này được xác định
như sau:
1. Nội thủy
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á phê chuẩn
Công ước luật biển 1982.Từ trước khi Công ước có hiệu lực cho đến nay, nước
ta đã có những quy định về chủ quyền của quốc gia trong vùng nội thủy tại
nhiều văn bản pháp lý, từ Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
3

4


lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài lãnh hải là biên giới quốc
gia trên biển của Việt Nam”.
Việt Nam thừa nhận quyền “đi qua không gây hại” của tàu thuyền nước
ngoài trong lãnh hải. Điều này được quy định tại Điều 17 Công ước 1982 , hay
tại khoản 2, Điều 2 luật biển Việt Nam năm 2012 “tàu thuyền của tất cả các
quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam…”.
Và “việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện
trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”
(khoản 3, điều 2).
IV. Thực tiễn xác lập, thực thi chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam
1. Thực tiễn xác lập chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam.
Việt Nam đã tiến hành đàm phán giải quyết các vấn đề về phân định biển
với các nước láng giềng và đạt được một số kết quả nhất định thông qua việc ký
kết các Hiệp định về phân định biển. Đối với phân định lãnh hải và vùng tiếp
giáp lãnh hải: phương pháp đường cách đều (trung tuyến) và biện pháp thỏa
thuận giải pháp khác giữa các quốc gia trên cơ sở tính đến các yếu tố như danh
nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt được ghi nhận như một phương pháp để
giải quyết vấn đề phân định lãnh hải cũng như vùng tiếp giáp lãnh hải giữa các
quốc gia.
2. Thực tiễn thực thi chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam
- Thứ nhất, quy chế pháp lí đối với tàu thuyền nước ngoài. Pháp luật Việt
Nam quy định, các tàu thuyền của Việt Nam hoặc nước ngoài hoạt động trên các
vùng biển của Việt Nam thì phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Tàu thuyền nước
ngoài ra vào phải xin phép và phải đáp ứng các điều kiện về neo đậu, đi qua theo
pháp luật Việt Nam. Những hành vi vi phạm sẽ bị áp dụng các hình thức chế tài
tương xứng, ví dụ như cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng bằng, giấy phép,

thi chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam

6


Trong thời gian, Việt Nam đã có những nỗ lực mạnh mẽ trong việc hoàn
thiện khuôn khổ pháp lý liên quan biển, đảo của nước ta, xác định rõ chế độ
pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam.
Phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh
tế biển của Việt Nam, làm cho quy phạm pháp luật của ta hài hoà với quy định
của Công ước Luật Biển năm 1982, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội
nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hoà bình, ổn định trong khu
vực và trên thế giới. Từ đó đồng thời khẳng định:“Việt Nam là một thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc
tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, phấn đấu vì hòa
bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới”.
Tuy nhiên, trong thời gian tới Việt Nam cần thiết phải ban hành những văn
bản pháp quy liên quan đến kinh tế biển, các luồng, tuyến giao thông hàng hải
thuộc lãnh hải nước ta… nhằm bảo vệ và phát triển kinh tế biển trên các vùng
biển chủ quyền,thực hiện toàn diện các chiến lược về biển của nước ta trong thời
gian về sau.

KẾT LUẬN
Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế, cụ thể là Công ước Luật Biển năm
1982 đã có những quy định tương đối công bằng cho các hoạt động trên biển.
Việt Nam trên cơ sở quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 cũng đã xây
dựng cho mình một khung pháp lí phù hợp liên quan đến biển, đảo của nước ta,
xác lập và thực thi hiệu quả chủ quyền quốc gia trên các vùng biển Việt Nam.
Trên đây là toàn bộ bài tập của em, do trình độ kiến thức còn hạn hẹp nên không
thể tránh khỏi những sai sót khi làm bài, kính mong thầy cô thông cảm, góp ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status