Bài tập lớn học kỳ
I. MỞ ĐẦU
Thờ cúng là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thông qua việc
thờ cúng sẽ nhắc, nhở con cháu phải nhớ ông bà cha mẹ, phải sống có đạo lý
theo tôn ti trật tự trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Đây là một truyền
thống tốt đẹp của nhân dân ta cần phải kế thừa và phát triển. Để tạo điều
kiện cho việc thờ cúng, pháp luật thời Lê đã quy định về việc lập và giữ
hương hỏa.
II. NỘI DUNG
Hương hỏa là một phần điền sản của người chết dành lại giao cho
người con trai trưởng, không có con trai trưởng thì giao cho người con trai
thứ; không có con trai thứ thì giao cho con gái để khai khẩn ruộng đất thu
hoa lợi. Một phần hoa lợi đó để lo phần mộ của người chết và họ hàng. Phần
còn lại, người giữ hương hỏa được giữ cho bản thân. Pháp luật thời Lê đã
xây dựng nên những quy định trong pháp luật về chế độ thừa kế hương hỏa
và đạt được nhiều sự tiến bộ.
Theo quy định của Qốc triều hình luật, số điền sản dùng làm hương
hỏa là 1/20 điền sản. Theo nguyên tắc chung thì người con trai trưởng giữ
hương hỏa. Trường hợp người con trưởng chết thì phần hương hảo được gộp
vào điền sản của người con trưởng và tiếp tục dành 1/20 điền sản làm hương
hỏa giao cho con trưởng của người đó và kế tiếp như vậy. Hương hỏa không
được phép mua bán. Người ngoài họ không biết mà mua thì sẽ được lấy lại
tiền và trả điền sản cho dòng họ có điền sản. Như vậy, hương hỏa là một
phần di sản của người chết được lưu truyền lại cho con cháu đời sau để sử
1
Bài tập lớn học kỳ
dụng thu hoa lợi, lợi tức dùng vào việc thờ cúng ông bà tổ tiên. Việc quy
định không được mua bán hương hỏa cho thấy luật đã đề cao trách nhiệm
của con cháu trong việc thờ cúng người mất, phù hợp với đạo lý và tiêu
chuẩn đạo đức truyền thống của ông cha. Luật không quy định của hương
xảy ra khi không có cháu trai trưởng thì hương hỏa giao cho con trai của
người con trai thứ. Nếu không có con trai thì giao cho con gái hoặc cháu gái
trưởng. Trường hợp con vợ cả không có con trai thì cho con trai của người
vợ lẽ hoặc nàng hầu. Về trật tự truyền ruộng đất hương hỏa, luật đã dành
phần lớn các quy định về trình tự những người được hưởng hương hỏa.
Thông thường việc truyền ruộng đất hương hỏa phải thể hiện triệt để nguyên
tắc trọng nam và trọng trưởng. Nhưng qua phân tích ở trên ta thấy nhà làm
luật triều Lê đã “mềm hóa” nguyên tắc này, điển hình là trường hợp không
có con trai, cháu trai hay chắt trai…thì con gái vẫn được giữ hương hỏa. Bên
cạnh đó, người tàn phế hoặc bất hiếu không được nhận ruộng đất hương hỏa.
Đây là quy định không chỉ mang tính pháp lý mà còn mang tính đạo lý, giáo
dục con cháu phải biết vâng lời ông bà, cha mẹ, không được vì tranh giành
của cải hương hỏa mà dẫn đến mất đoàn kết trong gia đình; đồng thời tính
đến việc người tàn phế không có khả năng hoàn thành được nghĩa vụ lo
hương hỏa.
Ngoài ra, luật còn dự liệu con trai trưởng, cháu trai trưởng tha phương
mà không giữ hương hỏa được thì họ sẽ chỉ ra một người thừa tự. Như vậy
pháp luật đã trù liệu hầu như các khả năng sẽ xảy ra trong thực tế. Từ những
phân tích trên có thể rút ra kết luận là:
Người giữ hương hỏa bao giờ cũng là con trai, cháu trai, chắt trai. Người
giữ hương hỏa có thể là con cháu của dòng trưởng hoặc dòng thứ. Việc quy
định của hương hỏa và trách nhiệm thờ cúng là con trai gắn liền với quyền
3
Bài tập lớn học kỳ
và nghĩa vụ của người con trai, cháu trai… luật đã tính đến sự bất cập nếu
giao công việc lo hương hỏa cho con gái, cháu gái khi họ bước chân về nhà
chồng và cũng không thể là người nối dõi của dòng họ.
Nếu không có cháu trai, chắt trai thì phải cử người thừa tự giữ hương
hỏa để thờ cúng người có của hương hỏa để lại mà không được chia nhau.
Như vậy, công việc lo hương hỏa, thờ cúng trở thành một nguyên tắc bất di
đời. Vì vậy, theo nguyên tắc chung, sau 10 năm di sản dùng vào việc thờ
cúng sẽ thuộc quyền sở hữu của người thừa kế đang quản lý di sản của
người thờ cúng đó.
III. KẾT LUẬN
Những quy định về chế độ thừa kế hương hỏa trong Quốc triều hình luật
của thời Lê đã cho thấy trình độ lập pháp đi trước thời đại của các nhà làm
luật. Luật thừa kế nói chung và luật thừa kế hương hỏa nói riêng đã trở thành
chế định nỗi bật nhất thể hiện những nét tiến bộ của pháp luật thời Lê.
Những quy định về chề độ thừa kế hương hỏa (tài sản hương hỏa, trình tự
những người được hưởng hương hỏa, các trường hợp thay đổi quyền thừa kế
hương hỏa...) thời bấy giờ đã chứng minh một điều rằng pháp luật luôn gắn
với những chuẩn mực đạo đức, những phong tục tập quán tốt đẹp có từ bao
đời, và điều này ngày nay chúng ta cũng thấy rõ trong pháp luật hiện đại,
tính kế thừa và cách tân trong lập pháp.
5