SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG “NỀN NẾP – KỶ CƯƠNG”
TRONG TRƯỜNG MẦM NON”
I- Đặt vấn đề:
“Nước có quốc pháp – nhà có gia phong” – Tôi rất tâm đắc với câu nói trên. Càng suy
ngẫm, tôi càng thấm thía và thấy rằng: Trong công tác quản lý giáo dục nói chung và
quản lý giáo dục MN nói riêng ngoài tình thương, trách nhiệm đối với trẻ nhỏ, “ Kỷ
cương – nền nếp” của một nhà trường nếu không được đề cao, coi trọng thì kết quả của
công tác quản lý chỉ đạo sẽ không đạt được như mục tiêu đề ra.
Một nhà trường muốn hoạt động có quy củ, nền nếp và có chất lượng cao cần có nhiều
điều kiện , nhiều biện pháp tác động, trong đó ý thức và hành động của từng thành viên có
ý nghĩa quyết định sự thành công.
Trường MN Hoạ Mi từ những ngày đầu mới thành lập, có rất nhiều khó khăn: Về CSVC,
về đội ngũ, cán bộ quản lý thiếu và yếu, đặc biệt xuất phát điểm về trình độ đào tạo, trình
độ văn hoá còn nhiều hạn chế. Chưa xây dựng được nội quy riêng của nhà trường, GVNV
chưa có ý thức cao trong việc thực hiện quy chế của ngành – Ban giám hiệu giải quyết
công việc theo cảm tính, thiên về tình cảm, chưa tạo thành “ Nền nếp – kỷ cương” trong
hoạt động. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện QCCM, ảnh hưởng đến chất
lượng chăm sóc – giáo dục trẻ, và hơn tất cả đã làm chậm lại sự đi lên của nhà trường.
Xuất phát từ thực trạng trên, với cương vị là Hiệu trưởng trong nhà trường, tôi thấy mình
phải có quyết tâm và trách nhiệm rất lớn trong việc xây dựng và hình thành được ý thức
thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” một cách tự giác và thường xuyên cho đội ngũ CBGV
trong mọi hoạt động. Trong những năm gần đây, khi nhà trường phấn đấu đạt danh hiệu
trường tiên tiến xuất sắc Thành phố, đạt danh hiệu “ Trường chuẩn Quốc gia”, tôi đã cùng
đội ngũ CBGV trong trường xây dựng “ Nền nếp – kỷ cương” để đạt được mục tiêu đề ra.
Quá trình xây dựng “ Nền nếp kỷ cương” trong trường Hoạ Mi bản thân tôi đã tích luỹ
được một số kinh nghiệm.
Tôi xin trình bày một số biện pháp dưới dạng sáng kiến kinh nghiệm với đề tài : “Một số
biện pháp xây dựng “Nền nếp – kỷ cương” trong trường MN” nhằm mục đích:
+ Tổng hợp lại toàn bộ kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình xây dựng “ Nền nếp
- Đặc điểm về học sinh:
+ Tổng số có 590 cháu/ 14 lớp. Trong đó: Nhà trẻ 2 lớp – 70 trẻ, MG bé 3 lớp – 160, MG
nhỡ 4 lớp – 180 trẻ, MG lớn 4 lớp – 180 trẻ.( Có 02 trẻ khuyết tật học hoà nhập tại trường).
+ Phụ huynh học sinh: Đa số có trình độ dân trí cao, ủng hộ mọi hoạt động của nhà trường.
2.2 Đặc điểm ( Thực trạng) của việc thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” trong trường:
- Nội quy, quy chế của ngành, Điều lệ trường MN được học tập tới 100% cán bộ GV đầu
năm học.
- Quy chế chuyên môn, chương trình, kế hoạch chăm sóc – giáo dục trẻ, thực hiện đổi
mới tại 100% nhóm – lớp, các chuyên đề được triển khai thực hiện tốt.
- Quy chế tuyển sinh được thông báo công khai sau khi được giao chỉ tiêu từ đầu tháng 7
hàng năm. Phân công trong BGH: đ/c nào trực hè thì người đó tuyển sinh.
- Tuyển dụng GVNV: Được thông báo công khai trong nhà trường về số lượng và tiêu
chuẩn, khi được tuyển dụng đều phải qua thử việc và được đánh giá nhận xét của liên tịch
nhà trường.
- Quy định về lương – công tác tài chính : Thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách của
các cấp, các ngành . Xét duyệt lương đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn. Thu chi theo quy
định của cấp trên – Có quy chế chi tiêu nội bộ được thông qua HNCNVC hàng năm.
- Thực hiện dân chủ hoá: Chính quyền cùng Công đoàn - ĐTN dưới sự lãnh đạo của Chi
bộ xây dựng được quy chế thực hiện dân chủ trong nhà trường, quy chế làm việc trong
BGH, quy chế phối hợp giữa chính quyền và Công đoàn.
- Mọi chủ trường của nhà trường đều được thông qua liên tịch và hội đồng GV, Hiệu trưởng
là người phải ra quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn về quyết định đó.
- ý thức tự giác của cán bộ GV – NV khảo sát qua 3 năm học gần đây:
* ý thức ( Bảng 1):
Năm học
Xếp loại : Tốt Xếp loại : Khá
Xếp loại : TB -
Yếu
Số
lượng
Số lượng Tỉ lệ Số
lượng
Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
2002 – 2003: 49 20
BGH: 3/3
40,8% 24 49,9% 5 9,3%
2003 – 2004: 50 35
BGH: 3/3
70% 15 30% 0 0
2004 – 2005: 52 42
BGH: 3/3
80,7% 10 19,3% 0 0
Nhận xét về bảng 1 và bảng 2:
- BGH luôn gương mẫu từ lời nói tới việc làm.
- GV khá chuẩn trong nhận thức và hành vi, tỉ lệ GV đạt khá - tốt có chiều hướng tăng rõ
sau khi áp dụng các biện pháp tích cực trong thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” . Tuy
nhiên vẫn còn một số GV cắt xén thao tác – quy chế chuyên môn, đối phó khi kiểm tra.
- Nhân viên : Có nhiều cố gắng trong công tác, có tiến bộ trong thực hiện giờ giấc làm
việc, giao tiếp với mọi người xung quanh, vẫn còn một số nhân viên có sức ỳ, chưa tự
giác, nhận lỗi rồi lại tái phạm, về những năm sau đã chuyển biến tích cực hơn.
3- Phân tích những điều kiện thuận lợi và khó khăn của nhà trường:
3.1: Thuận lợi: - 100% BGH có ý thức và cùng có quyết tâm xây dựng “ Nền nếp – kỷ
cương” trong nhà trường.
- Tỉ lệ GV đạt tốt và khá cao – Khi có khuyết điểm tiếp thu sửa chữa nhanh - Đặc biệt các
đ/c tổ trưởng chuyên môn ý thức được vai trò gương mẫu của mình tại vị trí công tác.
- Mọi vấn đề lãnh đạo nhà trường đưa ra phù hợp, đúng và sát thực tế - > nhận được sự
ủng hộ cao của tập thể.
3.2: Khó khăn:
- Lương thấp, cường độ làm việc cao, thời gian làm việc kéo dài.
- Động viên khen thưởng rất khiêm tốn, còn tư tưởng cào bằng trong bình xét thi đua.
từng cá nhân nếu không được bồi dưỡng, cập nhật thông tin thường xuyên sẽ trở thành
lạc hậu, tụt hậu. Bên cạnh đó, yêu cầu về chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ MN ngày càng
cao; CBGV nếu dậm chân tại chỗ, không có ý thức học tập vươn lên sẽ không đảm đương
được nhiệm vụ .
Với suy nghĩ như trên, tôi đã bồi dưỡng cho CBGV như sau:
- Đối với 2 đ/c Hiệu phó: Hiệu phó là những người giúp việc đắc lực cho Hiệu trưởng, vì vậy
tôi đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo phân công rõ và phù hợp với khả năng từng người để cùng
nhau làm việc nhịp nhàng, chu đáo, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học.
- Đối với giáo viên: Bầu ra tổ trưởng chuyên môn có uy tín, vững vàng, nghiêm túc trong
thực hiện quy chế chuyên môn, nắm bắt sâu sát từng việc nhỏ tại từng khối – lớp. Đặc
biệt đối với GV, thường xuyên giáo dục, động viên kịp thời những việc làm tốt, yêu cầu
cao về “ Kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” đối với các cháu trong các hoạt động
chăm sóc giáo dục trẻ vì GV là người trực tiếp với các cháu trong suốt thời gian trẻ ở
trường, xây dựng mối quan hệ giao tiếp đúng mực gần gũi, phối hợp chặt chẽ với CMHS
trong việc thống nhất nội dung, kiến thức, biện pháp chăm sóc – giáo dục trẻ . Chất lượng
hồ sơ, sổ sách, chương trình dạy được kiểm tra thường xuyên. Hiệu phó dạy phải chịu
trách nhiệm về mảng này trước Hiệu trưởng.
- Đối với nhân viên phục vụ: Tận tình, liêm khiết, không vi phạm tiêu chuẩn của trẻ. Sử
dụng kinh phí phụ huynh đóng góp hiệu quả, không lãng phí, đặc biệt là tổ nuôi phải thực
hiện nghiêm túc công khai: giao nhận – chế biến – chia khẩu phần ăn, chăm sóc trẻ chu
đáo. Hiệu phó chăm sóc nuôi dưỡng phải chịu trách nhiệm về mảng này trước Hiệu
trưởng.
- Đối với các tổ chức đoàn thể: Công đoàn - ĐTN là những tổ chức hoạt động độc lập
nhưng vẫn là những thành viên quan trọng trong nhà trường, tôi đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho Công đoàn - ĐTN hoạt động tích cực, thường xuyên phối hợp góp phần
nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà trường.
- Tổ chức hội thảo cấp trường về các nội dung xây dựng “ Nền nếp – kỷ cương” để chị
em trao đổi tìm ra những điểm yếu, cùng bàn bạc tìm cách khắc phục thiết thực, cụ thể .
Mời các chuyên gia bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhận thức về chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, lòng yêu nghề, văn hoá giao tiếp ứng xử…
điểm mạnh của họ,biểu dương kịp thời khi tiến bộ, góp ý xây dựng tại chỗ, giải quyết
thắc mắc, tồn tại kịp thời, nghiêm khắc,khéo léo trong yêu cầu thực hiện QCCM.
- Xây dựng nội quy, quy định chức trách, quyền hạn, nghĩa vụ làm việc từ BGH đến cấp
dưới. 100% chị em trực tiếp tham gia góp ý, xây dựng thông qua HNCNVC, thực hiện 3
công khai “Kế hoạch – tài chính – thi đua” trong nhà trường, trong mọi hoạt động.
- Thành lập hội đồng thi đua khen thưởng, các Ban chỉ đạo ( CSSK ban đầu, thực hiện
QCDC trong nhà trường, xây dựng nếp sống văn hoá công nghiệp, xây dựng “ Nhà
trường văn hoá…….”) , tổ chuyên môn giỏi giúp BGH đắc lực trong xây dựng tiết giỏi,
tiết kiến tập. Tăng cường kiểm tra đột xuất.
- Tăng cường vai trò và tạo mọi điều kiện để Ban TTND hoạt động tích cực, giúp BGH
giải quyết điều chỉnh kịp thời những thắc mắc, những lệch lạc trong thực hiện nghị quyết
HNCNVC, thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao.
- Căn cứ tiêu chuẩn và quy chế “ Xây dựng nhà trường văn hoá- Nhà giáo mẫu mực – học
sinh thanh lịch” của Sở GD&ĐT, xây dựng quy chế “Nhà trường văn hoá- Nhà giáo mẫu-
Trẻ có nền nếp thói quen lễ giáo” của trường MN Hoạ Mi
* Kết quả:Với sự chuyển biến về nhận thức tốt, hành vi của CBGVNV đã tiến bộ rõ, mẫu
mực – nhất là những cá nhân “ Đặc biệt” đã thể hiện ý thức tự giác cao trong điều chỉnh
hành vi, văn hoá giao tiếp ứng xử, có nhiều cố gắng hoàn thành công tác được giao, mọi
người đi làm đúng giờ theo ca được phân công, tác phong, quan hệ với phụ huynh học
sinh và học sinh đã được cải thiện, tiến bộ rõ.
4.4: Thực hiện nghiêm túc quy trình quản lý ( Kế hoạch – Tổ chức – Chỉ đạo - Kiểm tra):
Bản thân tôi luôn ghi nhớ bài học: “Làm quản lý mà không kiểm tra coi như không quản
lý”, tôi đã phối hợp với các đ/c trong BGH, các tổ chức trong nhà trường để quản lý – chỉ
đạo, nắm bắt tình hình hàng ngày bằng cách:
- Phân công tách nhiệm, trực giao ban nghiêm túc trong BGH – Yêu cầu từng đ/c
phải xây dựng kế hoạch cụ thể từng tháng – tìm ra nguyên nhân thành công và tồn tại
trong từng tháng để rút kinh nghiệm kịp thời.
- Gương mẫu, nghiêm túc thực hiện “ Kỷ cương trong quản lý, thực chất trong đánh
giá, kiểm tra”, không chạy theo thành tích, phong trào – Tăng cường kiểm tra đột xuất,
kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề, đi sâu vào điểm yếu, tồn tại để có biện pháp sửa
về mọi mặt.
- Biết chăm lo đời sống, cải thiện điều kiện làm việc, xây dựng môi trường giáo dục và
cảnh quan sư phạm đẹp, phù hợp với trẻ MN.
- Thực hiện dân chủ hoá thực chất trong mọi hoạt động của nhà trường.
- Giám sát chặt chẽ các hoạt động tài chính trong nhà trường.
- Biết quản lý, bảo quản tốt hồ sơ và hợp đồng GVNV.
- Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn, đánh giá đúng chất
lượng công tác của từng CBGVNV.
- Biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới, xử lý chính xác khách quan các thông tin ngược và
dư luận trong nhà trường.
5- Kết quả đạt được:
Với sự quyết tâm lớn của BGH, sự đồng lòng cố gắng rèn luyện của đội ngũ, với một số
biện pháp thiết thực, phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường, công tác
“ Nền nếp – kỷ cương” của trường Họa Mi đã đạt được một số kết quả sau:
*Về nhận thức:
- 100% CBGVNV đều ủng hộ và có ý thức cao trong việc thực hiện “ Nền nếp – kỷ
cương – Tình thương – Trách nhiệm” trong chăm sóc – giáo dục trẻ.
- 85% có ý thức tốt trong thực hiện “Nền nếp – kỷ cương”, 15% có ý thức khá, không còn
TB và yếu.
*Về hành vi:
- 84% GVNVthực hiện nghiêm túc “ Nền nếp – kỷ cương” trong thực hiện QCCM, các
nội quy – quy định của ngành, trường.
- 16% thực hiện đạt khá, chưa cẩn thận, không còn tình trạng vi phạm cố ý, bảo thủ.
- Kết quả kiểm tra toàn diện qua 2 năm học ( 2003 – 2004 và 2004 – 2005):
Nội dung Năm học 03 – 04: 11 lớp. Năm học 04 – 05: 14 lớp.
Tốt - % Khá - % TB - % Tốt - % Khá -
%
TB - %
1-KT toàn diện các
lớp
số lượng và chất lượng, các đoàn về kiểm tra đột xuất kết quả vẫn tốt do không còn tình
trạng đối phó, tuỳ tiện trong làm việc, dù Hiệu trưởng đi vắng, mọi hoạt động vẫn diễn ra
nghiêm túc thường xuyên, tự giác, được CMHS và cấp trên tin tưởng.
*Năm học 2004 – 2005 được đánh giá là năm đạt được nhiều thành công trong việc thực
hiện “ Nền nếp – kỷ cương” của nhà trường. Sau đây là nhận xét đánh giá của các đoàn
kiểm tra về trường:
- Học kỳ I: Quận thanh tra toàn diện: Xếp loại tốt.
- Trường thanh tra 08 GV: 8/8 xếp loại tốt – Quận thanh tra 6 GV: 6/6 được xếp loại tốt.
- Kiểm tra công tác giáo dục thể chất cấp TP: xếp loại tốt.
- Liên ngành Sở GD – Sở YT kiểm tra các yếu tố – nguy cơ gây tai nạn thương tích cho
trẻ MN: Xếp loại tốt.
- TTYT Quận – Chữ thập đỏ – PGD: Kiểm tra vệ sinh y tế học đường: Xếp loại tốt
( được đánh giá đạt điểm cao nhất Quận).
- Các hội thi: Đạt giải ba thi GV giỏi TP, 02 huy chương Bạc, hội diễn văn nghệ TP,
giải nhì “ Giáo viên tài năng duyên dáng” cấp Quận.
- Hiệu trưởng và nhà trường được khen xuất sắc trong thực hiện cuộc vận động “ Kỷ
cương – tình thương – trách nhiệm”5 năm.
- Được LĐLĐTP khen xuất sắc phong trào lao động giỏi CNVCLĐTĐ ( 1984 – 2004).
- Bản thân đạt CSTĐ cấp Quận năm 2003, 2004, đại biểu người tốt việc tốt TP 2004;
được Bộ GD&ĐT tặng Bằng khen năm 2004.
- Nhà trường tiếp tục được đề nghị xét tặng danh hiệu trường tiên tiến xuát sắc năm học
2004 – 2005.
6- Nguyên nhân thành công , bài học kinh nghiệm:
6.1: Nguyên nhân thành công: Công tác “ Nền nếp – kỷ cương” của trường MN Hoạ Mi
theo tôi bước đầu đã thành công nhờ các biện pháp:
* Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiêm túc.
* Bồi dưỡng đội ngũ toàn diện về nhận thức và hành vi.
* Xây dựng ý thức tự giác, phát huy tinh thần trách nhiệm cao, làm việc vì danh dự
trường chuẩn Quốc gia.
* Thực hiện nghiêm túc quy trình quản lý của người Hiệu trưởng.
về chuyên môn…).
- Nhiều thói quen, nền nếp của trẻ được rèn dạy rất chu đáo ở trường MN nhưng khi lên
lớp 1 hầu như không được duy trì.
* Với phòng giáo dục:
- GV mới sinh con, thời gian chăm sóc con nhỏ rất eo hẹp -> Có thể thông cảm khi có sơ
xuất nhỏ.
- Các hoạt động khác của ngành chiếm nhiều thời gian trong giờ chính quyền, mà GV
mầm non rất khó rời lớp đi làm việc khác vì phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.
- Thưởng các danh hiệu khi sơ kết, tổng kết, các phong trào thi đua còn hạn chế, chưa
xứng với sự nỗ lực phấn đấu của các tập thể và cá nhân có thành tích.