Một số biện pháp xây dựng “nền nếp – kỷ cương” trong trường MN - Pdf 39

Một số biện pháp xây dựng“ Nền nếp – kỷ cương”
trong trường mầm non.
I- ĐẶT VẤN ĐỀ:
“ Nước có quốc pháp – nhà có gia phong” – Tôi rất tâm đắc với câu nói trên.
Càng suy ngẫm, tôi càng thấm thía và thấy rằng: Trong công tác quản lý giáo dục
nói chung và quản lý giáo dục MN nói riêng ngoài tình thương, trách nhiệm đối với
trẻ nhỏ, “ Kỷ cương – nền nếp” của một nhà trường nếu không được đề cao, coi
trọng thì kết quả của công tác quản lý chỉ đạo sẽ không đạt được như mục tiêu đề
ra.
Một nhà trường muốn hoạt động có quy củ, nền nếp và có chất lượng cao cần
có nhiều điều kiện , nhiều biện pháp tác động, trong đó ý thức và hành động của từng
thành viên có ý nghĩa quyết định sự thành công.
Trường MN Hoạ Mi từ những ngày đầu mới thành lập, có rất nhiều khó khăn:
Về CSVC, về đội ngũ, cán bộ quản lý thiếu và yếu, đặc biệt xuất phát điểm về trình
độ đào tạo, trình độ văn hoá còn nhiều hạn chế. Chưa xây dựng được nội quy riêng
của nhà trường, GVNV chưa có ý thức cao trong việc thực hiện quy chế của ngành –
Ban giám hiệu giải quyết công việc theo cảm tính, thiên về tình cảm, chưa tạo thành
“ Nền nếp – kỷ cương” trong hoạt động. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực
hiện QCCM, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ, và hơn tất cả đã
làm chậm lại sự đi lên của nhà trường.
Xuất phát từ thực trạng trên, với cương vị là Hiệu trưởng trong nhà trường,
tôi thấy mình phải có quyết tâm và trách nhiệm rất lớn trong việc xây dựng và hình
thành được ý thức thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” một cách tự giác và thường
xuyên cho đội ngũ CBGV trong mọi hoạt động. Trong những năm gần đây, khi nhà
trường phấn đấu đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc Thành phố, đạt danh hiệu “
Trường chuẩn Quốc gia”, tôi đã cùng đội ngũ CBGV trong trường xây dựng “ Nền
nếp – kỷ cương” để đạt được mục tiêu đề ra. Quá trình xây dựng “ Nền nếp kỷ
cương” trong trường Hoạ Mi bản thân tôi đã tích luỹ được một số kinh nghiệm.
1



đầu tiên của Quận Cầu giấy.
2


* Đặc điểm về đội ngũ cán bộ GVNV:
- Tổng số có 52 cán bộ GVNV, trong đó: BGH có 03 đ/c, GV có 31 đ/c, NV
phục vụ có 18 đ/c.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: ĐH và cao đẳng có: 31, Trung cấp: 16đ/c;
Bảo vệ: 05. GV đứng lớp 100% đạt chuẩn – Trên chuẩn có 77,4%.
- Đặc điểm về CSVC: + Có 14 lớp, bếp đảm bảo VSATTP – 1 chiều, các
phòng chức năng tương đối đầy đủ.
+ Trang thiết bị chăm sóc – nuôi dưỡng – giáo dục trẻ khá đồng bộ và hiện
đại - đồ dùng đồ chơi trong trường phong phú, đảm bảo an toàn – vệ sinh - đẹp,
được sắp xếp hợp lý.
- Đặc điểm về học sinh:
+ Tổng số có 590 cháu/ 14 lớp. Trong đó: Nhà trẻ 2 lớp – 70 trẻ, MG bé 3 lớp –
160, MG nhỡ 4 lớp – 180 trẻ, MG lớn 4 lớp – 180 trẻ.( Có 02 trẻ khuyết tật học hoà
nhập tại trường).
+ Phụ huynh học sinh: Đa số có trình độ dân trí cao, ủng hộ mọi hoạt động của nhà
trường.
2.2 Đặc điểm ( Thực trạng) của việc thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” trong
trường:
- Nội quy, quy chế của ngành, Điều lệ trường MN được học tập tới 100% cán
bộ GV đầu năm học.
- Quy chế chuyên môn, chương trình, kế hoạch chăm sóc – giáo dục trẻ, thực
hiện đổi mới tại 100% nhóm – lớp, các chuyên đề được triển khai thực hiện tốt.
- Quy chế tuyển sinh được thông báo công khai sau khi được giao chỉ tiêu từ
đầu tháng 7 hàng năm. Phân công trong BGH: đ/c nào trực hè thì người đó tuyển
sinh.
- Tuyển dụng GVNV: Được thông báo công khai trong nhà trường về số

Số
Tỉ lệ
lượng

Tỉ lệ

Xếp loại : TB - Yếu
Số lượng

Tỉ lệ

26
BGH:

53,1%

10

20,4%

13

26,5%

70%

13

26%


Số
Tỉ lệ
lượng
4

Xếp loại : TB – Yếu
Số lượng Tỉ lệ


2002 – 2003: 49

20

2003 – 2004: 50

BGH: 3/3
35

2004 – 2005: 52

BGH: 3/3
42
BGH: 3/3

40,8%

24

49,9%


- Nhân viên : Có nhiều cố gắng trong công tác, có tiến bộ trong thực hiện giờ
giấc làm việc, giao tiếp với mọi người xung quanh, vẫn còn một số nhân viên có
sức ỳ, chưa tự giác, nhận lỗi rồi lại tái phạm, về những năm sau đã chuyển biến tích
cực hơn.
3- Phân tích những điều kiện thuận lợi và khó khăn của nhà trường:
3.1: Thuận lợi: - 100% BGH có ý thức và cùng có quyết tâm xây dựng “ Nền nếp
– kỷ cương” trong nhà trường.
- Tỉ lệ GV đạt tốt và khá cao – Khi có khuyết điểm tiếp thu sửa chữa nhanh Đặc biệt các đ/c tổ trưởng chuyên môn ý thức được vai trò gương mẫu của mình tại
vị trí công tác.
- Mọi vấn đề lãnh đạo nhà trường đưa ra phù hợp, đúng và sát thực tế - >
nhận được sự ủng hộ cao của tập thể.
3.2: Khó khăn:
- Lương thấp, cường độ làm việc cao, thời gian làm việc kéo dài.
- Động viên khen thưởng rất khiêm tốn, còn tư tưởng cào bằng trong bình xét thi
đua.
5


- Thực hiện quy chế dân chủ: Đôi khi có GVNV chưa phân biệt rõ sự khác
nhau giữa quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ công chức.
- Ý thức và hành vi còn mâu thuẫn trong một số cán bộ GVNV.
4- Hệ thống các biện pháp:
4.1: Xây dựng kế hoạch – chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiêm túc:
- Xây dựng kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt vì kế hoạch như kim chỉ
nam, dẫn đường chỉ lối cho người cán bộ thực hiện kế hoạch một cách nhanh chóng
nhất. Xây dựng được kế hoạch tức là ta đã tiến đến thành công được một nửa, bởi
kế hoạch sẽ giúp ta làm việc khoa học, không chồng chéo và không bỏ sót việc nào.
- Xây dựng kế hoạch bằng cách xác định đâu là điểm yếu nhất để tập trung
thành mũi nhọn làm trong từng tháng, từng giai đoạn.
Ví dụ: Năm học 2003 – 2004, tôi xây dựng kế hoạch thực hiện “ Nền nếp – kỷ

trở thành lạc hậu, tụt hậu. Bên cạnh đó, yêu cầu về chất lượng chăm sóc – giáo dục
trẻ MN ngày càng cao; CBGV nếu dậm chân tại chỗ, không có ý thức học tập vươn
lên sẽ không đảm đương được nhiệm vụ .
Với suy nghĩ như trên, tôi đã bồi dưỡng cho CBGV như sau:
- Đối với 2 đ/c Hiệu phó: Hiệu phó là những người giúp việc đắc lực cho Hiệu
trưởng, vì vậy tôi đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo phân công rõ và phù hợp với khả năng
từng người để cùng nhau làm việc nhịp nhàng, chu đáo, hoàn thành tốt nhiệm vụ năm
học.
- Đối với giáo viên: Bầu ra tổ trưởng chuyên môn có uy tín, vững vàng,
nghiêm túc trong thực hiện quy chế chuyên môn, nắm bắt sâu sát từng việc nhỏ tại
từng khối – lớp. Đặc biệt đối với GV, thường xuyên giáo dục, động viên kịp thời
những việc làm tốt, yêu cầu cao về “ Kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” đối
với các cháu trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ vì GV là người trực tiếp
với các cháu trong suốt thời gian trẻ ở trường, xây dựng mối quan hệ giao tiếp đúng
mực gần gũi, phối hợp chặt chẽ với CMHS trong việc thống nhất nội dung, kiến
thức, biện pháp chăm sóc – giáo dục trẻ . Chất lượng hồ sơ, sổ sách, chương trình
dạy được kiểm tra thường xuyên. Hiệu phó dạy phải chịu trách nhiệm về mảng này
trước Hiệu trưởng.
- Đối với nhân viên phục vụ: Tận tình, liêm khiết, không vi phạm tiêu chuẩn
của trẻ. Sử dụng kinh phí phụ huynh đóng góp hiệu quả, không lãng phí, đặc biệt là
tổ nuôi phải thực hiện nghiêm túc công khai: giao nhận – chế biến – chia khẩu phần
ăn, chăm sóc trẻ chu đáo. Hiệu phó chăm sóc nuôi dưỡng phải chịu trách nhiệm về
mảng này trước Hiệu trưởng.
- Đối với các tổ chức đoàn thể: Công đoàn - ĐTN là những tổ chức hoạt
động độc lập nhưng vẫn là những thành viên quan trọng trong nhà trường, tôi đã
7


tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Công đoàn - ĐTN hoạt động tích cực, thường
xuyên phối hợp góp phần nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà trường.

nhưng vẫn đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo của nhà trường.
- Đội ngũ nhân viên phục vụ: Tuy không lên lớp trực tiếp nhưng là lực lượng
đóng góp 50% kết quả thành công chung của nhà trường. Tôi phân công lao động
hợp lý, luôn tạo điều kiện để chị em không xa rời chuyên môn, gần gũi các cháu
như: Tổ chức thi QCCM, thi làm đồ dùng dạy học đồ chơi cho 100% CBGVNV
tham gia, hỗ trợ GV các lớp trong các hoạt động tập thể, hoạt động ngoại khoá, hỗ
trợ các giờ ăn – ngủ, vào lớp thay cô nghỉ….
- Có biện pháp đặc biệt đối với cá nhân đặc biệt: Đó là những chị em có hoàn
cảnh khó khăn , nhà xa, tuổi lớn, chuyên môn yếu, nhận thức yếu, cá biệt có chị
em có biểu hiện chống đối, tuỳ tiện trong làm việc ..Tôi dùng biện pháp gặp riêng,
tế nhị góp ý, khơi gợi điểm mạnh của họ,biểu dương kịp thời khi tiến bộ, góp ý xây
dựng tại chỗ, giải quyết thắc mắc, tồn tại kịp thời, nghiêm khắc,khéo léo trong yêu
cầu thực hiện QCCM.
- Xây dựng nội quy, quy định chức trách, quyền hạn, nghĩa vụ làm việc từ
BGH đến cấp dưới. 100% chị em trực tiếp tham gia góp ý, xây dựng thông qua
HNCNVC, thực hiện 3 công khai “Kế hoạch – tài chính – thi đua” trong nhà
trường, trong mọi hoạt động.
- Thành lập hội đồng thi đua khen thưởng, các Ban chỉ đạo ( CSSK ban đầu,
thực hiện QCDC trong nhà trường, xây dựng nếp sống văn hoá công nghiệp, xây
dựng “ Nhà trường văn hoá…….”) , tổ chuyên môn giỏi giúp BGH đắc lực trong
xây dựng tiết giỏi, tiết kiến tập. Tăng cường kiểm tra đột xuất.
- Tăng cường vai trò và tạo mọi điều kiện để Ban TTND hoạt động tích cực,
giúp BGH giải quyết điều chỉnh kịp thời những thắc mắc, những lệch lạc trong thực
hiện nghị quyết HNCNVC, thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao.

9


- Căn cứ tiêu chuẩn và quy chế “ Xây dựng nhà trường văn hoá- Nhà giáo
mẫu mực – học sinh thanh lịch” của Sở GD&ĐT, xây dựng quy chế “Nhà trường

thực chất, công bằng, khách quan.
4.5: Không ngừng phấn đấu, rèn luyện bản thân, nâng cao uy tín của người
lãnh đạo. Tôi đã định hướng cho mình một số mục tiêu cần phấn đấu:
* Các phẩm chất đạo đức cần tu dưỡng:
- Tính nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa.
- Có tinh thần trách nhiệm , có lòng vị tha, bao dung, gương mẫu trong mọi công
việc.
- Có lòng tốt và tình yêu vô tư trong sáng của một người mẹ đối với các con;
tình thương trách nhiệm , sự tận tuỵ của người chị cả đối với chị em trong toàn
trường.
- Biết quan tâm giúp đỡ mọi người, không thành kiến, biết cảm thông, không
tự cao tự mãn, coi mình là trên hết.
- Luôn cởi mở, chân tình nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc làm việc, sự đúng mực
của người thủ trưởng: biết đòi hỏi hiệu quả của công việc và yêu cầu cao với mọi
người.
- Có ý thức trong việc thường xuyên rèn luyện phong thái diện mạo của
người Hiệu trưởng ở mọi lúc mọi nơi.
- Trung thực và liêm khiết trong quản lý, chỉ đạo, không lãng phí, thực hành
tiết kiệm, quản lý thu – chi, công tác tài chính rõ ràng, minh bạch.
* Các phẩm chất năng lực:
- Biết phân tích nhận định tình hình, xác định rõ nhu cầu mục tiêu ngắn và dài
hạn.
- Cụ thể được các nhiệm vụ, chỉ tiêu, chỉ đạo triển khai nghiêm túc nội dung
chương trình, các văn bản hướng dẫn của cấp trên.
- Thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng đội ngũ phát
triển toàn diện về mọi mặt.

11



Năm học 04 – 05: 14 lớp.
Tốt - %
Khá - TB - %
%

12


1-KT toàn diện các
lớp
2-KT

toàn

diện

8=

3=

72,7%
28=

27,3%
16=

0
2=

13 =

*Năm học 2004 – 2005 được đánh giá là năm đạt được nhiều thành công trong việc
thực hiện “ Nền nếp – kỷ cương” của nhà trường. Sau đây là nhận xét đánh giá của
các đoàn kiểm tra về trường:
- Học kỳ I: Quận thanh tra toàn diện: Xếp loại tốt.
- Trường thanh tra 08 GV: 8/8 xếp loại tốt – Quận thanh tra 6 GV: 6/6 được xếp
loại tốt.
- Kiểm tra công tác giáo dục thể chất cấp TP: xếp loại tốt.
- Liên ngành Sở GD – Sở YT kiểm tra các yếu tố – nguy cơ gây tai nạn
thương tích cho trẻ MN: Xếp loại tốt.
- TTYT Quận – Chữ thập đỏ – PGD: Kiểm tra vệ sinh y tế học đường: Xếp
loại tốt
( được đánh giá đạt điểm cao nhất Quận).
13


- Các hội thi: Đạt giải ba thi GV giỏi TP, 02 huy chương Bạc, hội diễn văn
nghệ TP, giải nhì “ Giáo viên tài năng duyên dáng” cấp Quận.
- Hiệu trưởng và nhà trường được khen xuất sắc trong thực hiện cuộc vận
động “ Kỷ cương – tình thương – trách nhiệm”5 năm.
- Được LĐLĐTP khen xuất sắc phong trào lao động giỏi CNVCLĐTĐ ( 1984 –
2004).
- Bản thân đạt CSTĐ cấp Quận năm 2003, 2004, đại biểu người tốt việc tốt
TP 2004; được Bộ GD&ĐT tặng Bằng khen năm 2004.
- Nhà trường tiếp tục được đề nghị xét tặng danh hiệu trường tiên tiến xuát
sắc năm học 2004 – 2005.
6- Nguyên nhân thành công , bài học kinh nghiệm:
6.1: Nguyên nhân thành công: Công tác “ Nền nếp – kỷ cương” của trường MN
Hoạ Mi theo tôi bước đầu đã thành công nhờ các biện pháp:
* Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiêm túc.
* Bồi dưỡng đội ngũ toàn diện về nhận thức và hành vi.

trách nhiệm, sự đoàn kết, tương trợ, thân ái của mọi người được nâng lên rõ nét.
2- Một số đề xuất:
* Với Sở GD&ĐT:
- Lương của ngành giáo dục MN quá khiêm tốn, lương Đại học không được
điều chỉnh theo bằng cấp -> Chưa động viên được GV.
- Trong năm học có quá nhiều hội thi của trẻ, của GV -> Vấn đề chuyên môn sẽ
bị lơ là.
- QCCM chặt chẽ nhưng đôi khi gò bó, có thể cho phép linh hoạt hơn ( Ví
dụ: Trẻ phải dùng 02 khăn nhưng nếu cô không bao quát kịp thời trẻ lại dùng
01khăn -> Thành sai sót về chuyên môn…).
- Nhiều thói quen, nền nếp của trẻ được rèn dạy rất chu đáo ở trường MN
nhưng khi lên lớp 1 hầu như không được duy trì.
* Với phòng giáo dục: - GV mới sinh con, thời gian chăm sóc con nhỏ rất eo hẹp ->

15


thể thông cảm khi có sơ xuất nhỏ.
- Các hoạt động khác của ngành chiếm nhiều thời gian trong giờ chính
quyền, mà GV mầm non rất khó rời lớp đi làm việc khác vì phải đảm bảo an toàn
tuyệt đối cho trẻ.
- Thưởng các danh hiệu khi sơ kết, tổng kết, các phong trào thi đua còn hạn
chế, chưa xứng với sự nỗ lực phấn đấu của các tập thể và cá nhân có thành tích.
Hà nội, ngày 10 tháng 4 năm 2005.
Người viết.

Vũ Thanh Thanh

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status