ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐẶNG THÁI HƯNG
GI¶I QUYÕT XUNG §éT PH¸P LUËT VÒ HîP §åNG
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
VÀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG 6
1.1. Khái quát về xung đột pháp luật 6
1.1.1. Quy phạm và hệ thống quy phạm pháp luật xung đột 6
1.1.2. Phƣơng pháp giải quyết xung đột pháp luật 8
1.1.3. Các hệ thuộc luật cơ bản 12
1.2. Khái quát về xung đột pháp luật về hợp đồng 16
1.2.1. Hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài 16
1.2.2. Đặc điểm và nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài 27
1.2.3. Nhận xét chung về xung đột pháp luật về hợp đồng 32
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CỦA VIỆT NAM 37
2.1. Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của
hợp đồng 37
2.1.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng 37
2.1.2. Thực trạng các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về
hình thức hợp đồng 40
2.2. Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng 43
2.2.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng 43
2.2.2. Thực trạng các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về
nội dung hợp đồng 46
:
Bộ luật Dân sự
BLDS 2005
:
Bộ luật Dân sự của Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005
Công ƣớc Viên 1980
:
Công ƣớc của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế (Vienna, 1980)
Quy tắc Roma I
:
Quy tắc số 593/2008 về Luật áp dụng đối với nghĩa
vụ hợp đồng (Quy tắc Roma I)
XĐPL
:
Xung đột pháp luật
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ khi bắt đầu tiến hành Đổi Mới vào năm 1986, Việt Nam đã bắt
đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam chỉ đặc biệt hội
nhập sâu và toàn diện vào sân chơi toàn cầu khi chính thức gia nhập Tổ chức
Thƣơng mại Quốc tế (WTO) năm 2007.
Chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhƣ vậy, điều dễ dàng nhận thấy
mỗi một quốc gia đều có một hệ thống các quy định pháp luật riêng và các
quy phạm pháp luật này khác với quy phạm pháp luật của các quốc gia khác
thậm chí là hoàn toàn trái ngƣợc. Nguyên nhân của sự khác nhau về pháp luật
đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 trong lĩnh
vực giải quyết XĐPL về hợp đồng và đóng góp đối với việc xây dựng đạo
luật về tƣ pháp quốc tế riêng biệt của Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu trong vấn đề xung đột pháp luật và xung đột pháp luật
trong lĩnh vực hợp đồng tại Việt Nam đã có một số đề tài nhƣ:
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Chiến về “Cơ sở lý luận và thực tiễn về
hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam”; Luận án tiến
sĩ của Nguyễn Thị Thuận về “Giải quyết xung đột về hiệu lực và áp dụng giữa
các điều ước quốc tế”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Khanh về “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài ở nước ta hiện nay”; Luận án tiến sĩ của Nông Quốc Bình về
“Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”;
Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Thoa về “Giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại quốc tế bằng tòa án”; Luận văn thạc sỹ của Phạm Thành Tài về
“Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định
3
của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới”; Luận văn thạc sỹ của Lê Thu Hƣờng về “Một số vấn đề
pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài”; Luận
văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai Hƣơng về “So sánh chế định giao kết hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ”,
Các công trình nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Tiến Vinh: “Bàn về việc hoàn
thiện các quy định trong Phần VII “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”
(Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 5/2003, tr.45252); Đỗ Văn Đại: “Tư pháp
Quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng” (Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 10/2003, tr. 64271), .v.v
Các sách chuyên khảo nhƣ: "Giáo trình Luật Thương mại quốc tế", của
ngoài theo quy định tại Phần thứ 7 của Bộ luật Dân sự 2005.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng đƣợc nghiên cứu của đề tài là các quy phạm pháp luật xung
đột về hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài chủ yếu trong Bộ luật Dân sự 2005 và
các quy định pháp luật khác có liên quan của pháp luật Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung vào phân tích chủ yếu các
quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài
theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005. Đề tài chỉ phân tích những quy phạm
pháp luật xung đột về lĩnh vực hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2005 mà những
quy định này còn có những điểm bất cập, không phù hợp với tình hình thực tế
hoặc gây khó khăn trên thực tế khi áp dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phƣơng pháp phân tích và tổng
5
hợp, phƣơng pháp luật học so sánh và phƣơng pháp thu thập thông tin để giải
quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra. Các phƣơng pháp này đƣợc sử dụng linh
hoạt trong các phần khác nhau của luận văn.
Ngoài ra, luận văn còn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh
tính phổ biến của pháp luật quốc tế và pháp luật các nƣớc trong lĩnh vực giải
quyết xung đột pháp luật về hợp đồng. Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa
lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà
đề tài đặt ra.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn giới thiệu, trình bày một cách tổng hợp, khái quát các quy
định của Bộ luật Dân sự 2005 về việc áp dụng các quy phạm xung đột pháp
luật để điều chỉnh các loại hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài.
Luận văn làm rõ thêm một số quan điểm, đề xuất những phƣơng hƣớng
và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định liên quan đến việc
thế giới đặc biệt kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thƣơng mại Quốc tế
(WTO) vào năm 2007 thì các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
nền kinh tế, sự gia tăng lƣu thông hàng hóa khiến các quan hệ mua bán hàng
hóa ngày càng phát triển. Việc hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến các quan hệ
pháp luật ngày càng phát triển và không còn bị giới hạn trong phạm vi Việt
Nam mà còn liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia khác
nhau và các quan hệ pháp luật phát sinh không chỉ chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam mà còn chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều quốc gia
khác nhau. Do đó, dẫn đến hiện tƣợng XĐPL giữa các bên khi tham gia vào
quan hệ hợp đồng.
Trƣớc hết, chúng ta cần làm rõ thuật ngữ “xung đột pháp luật” đƣợc
hiểu nhƣ thế nào? Thuật ngữ “xung đột pháp luật” đƣợc hiểu theo nghĩa thông
thƣờng là các quy định mâu thuẫn, không thống nhất giữa các văn bản pháp
luật khác nhau trong việc giải quyết một vấn đề nào đấy.
7
Tuy nhiên, khái nhiệm “xung đột pháp luật” (conflict of laws) trong tƣ
pháp quốc tế lại đƣợc hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn khác. Thuật ngữ này thuộc
chuyên ngành tƣ pháp quốc tế đƣợc sử dụng ở một quốc gia với mục đích
dùng để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nƣớc ngoài.
Ví dụ nhƣ việc ký kết hợp đồng giữa một công ty X của Việt Nam và
công ty Y của Hoa Kỳ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có phát sinh tranh
chấp thì câu hỏi đặt ra là hệ thống pháp luật nƣớc nào sẽ đƣợc áp dụng để giải
quyết tranh chấp.
Một ví dụ khác là việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và
công dân Hàn Quốc thì pháp luật quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng để việc đăng
ký kết hôn phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc.
Theo định nghĩa trong Giáo trình Tƣ pháp Quốc tế của Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS. Nguyễn Bá Diến định nghĩa thì “Xung đột
pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia
các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài để xác định quyền và nghĩa vụ của
các bên dựa trên những quy định pháp luật xung đột của quốc gia đó. Ví dụ,
để xem xét việc giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa một công ty Hàn Quốc
và một công ty Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trƣớc hết
cần xác định hệ thống pháp luật nào sẽ đƣợc áp dụng nhằm giải quyết tranh
chấp hợp đồng giữa các bên.
Việc lựa chọn này nhằm xác định luật thực chất của quốc gia nào sẽ
đƣợc áp dụng và các nguyên tắc về quy phạm thực chất nào sẽ đƣợc áp dụng
trong quá trình giải quyết tranh chấp. Việc lựa chọn này thƣờng do tòa án có
thẩm quyền xem xét. Đây là điều trái ngƣợc hoàn toàn với việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài. Vì việc lựa chọn trọng tài là cơ quan để giải quyết
tranh chấp thì các bên có ý muốn tránh khỏi việc bắt buộc sử dụng phƣơng
9
pháp xung đột của một quốc gia để lựa chọn luật giải quyết vụ tranh chấp.
Hội đồng trọng tài thƣờng áp dụng luật do các bên lựa chọn.
Trên thực tế, có rất nhiều trƣờng hợp cơ quan có thẩm quyền không
chọn đƣợc luật thực chất để áp dụng bởi chƣa có quy phạm xung đột trong
lĩnh vực đó. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét lại hệ thống
pháp luật của quốc gia của mình để tìm ra các quy định phù hợp nhất để giải
quyết vụ việc.
Việc áp dụng phƣơng pháp xung đột tại quốc gia theo hệ thống thông
luật (common law) còn phức tạp hơn nhiều vì tòa án có thẩm quyền rộng
trong việc giải thích pháp luật và sáng tạo pháp luật (tuy nhiên vẫn phải đảm
bảo những nguyên tắc cơ bản nhƣ tính công bằng, tôn trọng sự thỏa thuận của
các bên và nằm trong khuôn khổ pháp luật) và việc giải quyết vụ việc lại dựa
trên các án lệ; vì vậy rất dễ dẫn đến trƣờng hợp có nhiều trƣờng hợp phát sinh
trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mà các bên liên quan không thể
tiên liệu đƣợc tất cả tình huống phát sinh trên thực tế [56, tr. 33].
Từ những phân tích nêu trên, ta nhận thấy phƣơng pháp xung đột có
quyết một cách có hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu
tố nƣớc ngoài. Các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét các quy phạm thực chất
trong điều ƣớc quốc tế để giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài.
Điều này dẫn đến việc không cần phải xem xét việc chọn luật và áp dụng luật
nƣớc ngoài mà áp dụng ngay các quy phạm thực chất trong các điều ƣớc quốc
tế mà quốc gia đó gia nhập, ký kết [56, tr. 35].
Các quốc gia trên thế giới đã ký kết nhiều điều ƣớc quốc tế đa phƣơng
nhƣ: Công ƣớc Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ƣớc
Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ƣớc Bec-nơ 1886 về bảo hộ
11
quyền tác giả, Công ƣớc 1980 của Liên hợp quốc về vận tải hàng hóa đa
phƣơng thức quốc tế, …
Bên cạnh đó, quy phạm thực chất thống nhất còn đƣợc ghi nhận trong
các tập quán quốc tế (nhất là trong lĩnh vực thƣơng mại và hàng hải quốc tế
nhƣ Tập quán thƣơng mại quốc tế (Incorterm), Quy tắc thực hành thống nhất
về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary
Credits – UCP), .v.v…
Các quy phạm thực chất trong luật của quốc gia (luật quốc nội):
Trong phạm vi quốc gia, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong
các văn bản pháp luật của quốc gia. Các quy phạm này cũng đồng thời là các
quy phạm đƣợc quy định trong các điều ƣớc quốc tế. Các quy phạm thực chất
này trực tiếp điều chỉnh các quan hệ đã đƣợc các quốc gia thống nhất áp dụng
và đƣợc dùng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Ví dụ ở
Việt Nam hiện nay, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong văn bản luật
nhƣ Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tƣ, Bộ luật
Hàng hải, Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam, .v.v…
Tóm lại, phƣơng pháp thực chất có những ƣu điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết trực tiếp quan hệ dân sự có yêu tố nƣớc ngoài và
thƣờng đƣợc áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể nhất định (nhƣ mua bán hàng
theo Khoản 1 Điều 762 BLDS 2005 quy định “Năng lực hành vi dân sự của
ngƣời nƣớc ngoài đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc mà ngƣời đó là công
dân, trừ trƣờng hợp pháp luật của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có quy định khác”.
(*) Luật nơi cƣ trú là luật của quốc gia mà ở đó đƣơng sự có nơi cƣ trú
ổn định (nơi cƣ trú ở đây là nơi thƣờng trú), ví dụ Điều 772 BLDS 2005 quy
định trong quan hệ giao dịch dân sự đơn phƣơng, quyền và nghĩa vụ của bên
13
tự nguyện thực hiện quan hệ giao dịch dân sự đơn phƣơng đƣợc xác định theo
pháp luật của nƣớc nơi cƣ trú hoặc nơi có hoạt động chính của bên đó.
(2) Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân (lex societalis) là luật của
quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc dùng để
xác định quy chế pháp luật của pháp nhân nhƣ: năng lực pháp luật của pháp
nhân, tƣ cách chủ thể của pháp nhân, giải quyết vấn đề tài sản của pháp nhân
trong trƣờng hợp pháp nhân tổ chức lại hay chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên,
hiện nay các quốc gia vẫn chƣa thống nhất đƣợc các dấu hiện xác định quốc
tịch của pháp nhân. Các quốc gia theo hệ thống luật Châu Âu lục địa sử
dụng phƣơng pháp xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi có trụ sở
chính của pháp nhân hoặc trung tâm quản lý. Các quốc gia theo hệ thống
luật Anh Mỹ và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh xác định quốc tịch của pháp
nhân theo nơi đăng ký điều lệ hoặc nơi thành lập của pháp nhân. Trong khi
đó các quốc gia Hồi giáo lại xác định quốc tịch của pháp nhân thực tế tiến
hành hoạt động kinh doanh.
(3) Hệ thuộc luật nơi có vật hoặc tài sản (lex rei sitae): là pháp luật
đƣợc áp dụng đối với nơi có tài sản. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc áp dụng đối
với quan hệ sở hữu và thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài, đặc biệt là giải quyết
quan hệ sở hữu đối với tài sản là bất động sản.
(4) Luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus): là pháp luật của nƣớc mà
hành vi đã đƣợc thực hiện. Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi gồm có các
luật của quốc gia nơi có nghĩa vụ chính phải thực hiện nhằm mục đích giải
quyết những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Hệ thuộc này dùng để giải
quyết XĐPL về nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng [55, tr. 75].
(7) Hệ thuộc luật nơi thực hiện kết hôn (lex loci celebrationis): là pháp
luật nơi tiến hành kết hôn.
15
(8) Luật nơi tiến hành công việc (lex loci laboris): là pháp luật nơi công
việc đƣợc thực hiện. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc áp dụng để giải quyết XĐPL
liên quan đến giải quyết XĐPL về lao động.
(9) Hệ thuộc nơi xẩy ra hành vi vi phạm pháp luật (lex loci delicit
commissi): là hệ thuộc dùng để điều chỉnh quan hệ bồi thƣờng thiệt hại ngoài
hợp đồng. Theo Khoản 1 Điều 779 BLDS 2005 thì việc bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc nơi xảy ra hành vi gây
thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
(10) Hệ thuộc luật lựa chọn (lex voluntatis): là luật quốc tịch của ngƣời
bán thƣờng đƣợc áp dụng để giải quyết các quan hệ trong hợp đồng mua bán
trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác.
(11) Hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae): là hệ thuộc chỉ ra pháp luật
của nƣớc mang quốc kỳ. Hệ thuộc luật quốc kỳ thƣờng đƣợc áp dụng để giải
quyết XĐPL trong các vấn đề nhƣ: quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp
đồng thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành
khách và hành lý, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả, các vụ việc xẩy ra ở
biển cả khi tàu đang ở biển cả, trƣờng hợp đâm va chạm tàu xảy ra ở biển cả
hoặc trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển cùng quốc
tịch [55, tr. 77-78]. … Ví dụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng
hải quy định “Trong trƣờng hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở
hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng cho thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền
viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ
giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở
hiệu lực nếu nó phù hợp với ý chí của Nhà nƣớc).
Hợp đồng có lẽ là một trong những chế định cổ xƣa nhất của con
ngƣời. Thuật ngữ “contractus” (hợp đồng) đƣợc ngƣời La Mã sử dụng vào thế
17
kỷ 1 sau Công nguyên và đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ dƣới thời
Justinnian [35, tr. 8]. Sau này, thuật ngữ hợp đồng đƣợc các nƣớc phƣơng Tây
kế thừa và phát triển và sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng”, tiếng Anh
là “contract”, tiếng Pháp là “contrat”.
Bên cạnh việc thống nhất sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” trong các văn
bản pháp lý, chúng ta cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm “hợp đồng”. Các
luật gia từ thời kỳ La Mã đã đặt ra những điều kiện cơ bản để hợp đồng có
hiệu lực nhƣ sau: phải có ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao
dịch; xác định rõ ràng nội dung của hợp đồng; hành vi, công việc trong hợp
đồng phải đƣợc thực hiện; đáp ứng những điều kiện về mặt hình thức nhất
định [3, tr. 80]. Những điều kiện về hợp đồng từ thời La Mã đã có từ rất lâu
nhƣng những điều kiện này vẫn là những điều chính, cơ bản trong pháp luật
hiện hành của nhiều quốc gia trên thế giới.
BLDS Pháp, là một trong những bộ luật có ảnh hƣởng đến hầu hết các
quốc gia tại Châu Âu, đã đƣa ra khái niệm về hợp đồng tại Điều 1011 “Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều ngƣời cam kết với
một hoặc nhiều ngƣời khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm
một công việc nào đó”. BLDS Đức cũng có những nét tƣơng đồng với BLDS
Pháp, đƣa ra định nghĩa về hợp đồng là điều kiện cần thiết để hình thành hoặc
làm thay [35, tr. 11].
Theo qui định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): “Hợp
đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những
cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” [35, tr. 11]. Tuy có
tính khái quát hơn, nhƣng định nghĩa này về cơ bản cũng giống định nghĩa tại
Điều 1101 BLDS Pháp. Cả hai định nghĩa trên đều thể hiện rõ bản chất của
Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc (1999) qui định hợp đồng là sự
19
thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa
các chủ thể bình đẳng, thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác. Các thỏa
thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… phải phù
hợp với qui định của các luật khác. Định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc
tƣơng đối dài vì bao hàm cả các nguyên tắc khái quát trong việc giao kết thực
hiện hợp đồng mà Trung Quốc muốn nhấn mạnh, đó là nguyên tắc “bình
đẳng” giữa các bên tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng của
Trung Quốc có nhiều điểm giống với khái niệm hợp đồng của luật La Mã khi
coi hợp đồng là một căn cứ để xác lập nghĩa vụ và cũng nhấn mạnh tới sự tự
do ý chí khi giao kết hợp đồng thông qua việc coi trọng quyền bình đẳng của
các bên trong hợp đồng [35, tr. 29].
Tƣơng tự nhƣ định nghĩa hợp đồng của Trung Quốc, theo qui định tại
khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) định nghĩa “Hợp đồng là sự thỏa thuận
giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”. Định nghĩa về hợp đồng của Nga vẫn có tính khái quát và ngắn gọn
hơn so với định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc.
Bộ luật Dân sự của Nhật Bản định nghĩa hợp đồng là một loại giao dịch
dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên. Mục đích của hợp
đồng là làm phát sinh nghĩa vụ. Bộ luật Dân sự Nhật Bản coi hợp đồng là một
quan hệ pháp luật và là căn cứ để làm phát sinh nghĩa vụ. Hợp đồng theo Bộ
luật Dân sự Nhật Bản không phải lúc nào cũng làm phát sinh quan hệ nghĩa
vụ mà trong một số trƣờng hợp, hợp đồng có thể là các giao dịch không có
mục đích làm phát sinh nghĩa vụ nhƣ quan hệ hôn nhân đƣợc coi là một giao
dịch hợp đồng không làm phát sinh nghĩa vụ [3, tr. 82].
Hợp đồng theo quy định tại Điều 1305 Bộ luật Dân sự Phi-lip-pin là “Sự
thống nhất ý chí giữa các bên, theo đó, mỗi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn
trọng bên kia để chuyển giao vật hoặc thanh toán dịch vụ cho bên kia” [3, tr. 82].