CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
1.1. Hợp đồng mua bán ngoại thương
1.1.1. Sự hình thành quy chế pháp lý về hợp đồng
mua bán ngoại thương:
Mua bán quốc tế là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời.
Tới đầu thế kỷ XIX các hợp đồng mua bán quốc tế vẫn được
thiết lập theo các quy tắc pháp lý được quy định trong các bộ
luật dân sự của các quốc gia do vậy khi quy chiếu vào đó các
thương gia thường lo sợ rằng hợp đồng của họ sẽ bị các toà
án coi rằng trái với trật tự xã hội.
Năm 1817 trên thế giới đã có sự xuất hiện những dấu
hiệu của cuộc khủng hoảng kinh tế, hàng hoá sản xuất ra dư
thưa. Sự cạnh tranh về thị trường ngày càng gay gắt.
Để khắc phục tình trạng này các thương gia đã có sự quy
tụ theo ngành nghề dưới dạng các hiệp hội với mục đích:
- Thiết lập một quy chế pháp lý chi phối các hoạt động
mua bán quốc tế nhằm thống nhất các điều kiện mua bán
thiết lập môi trường cạnh tranh công bằng, hợp lý.
- Tước bỏ thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp của
các toà án quốc gia và chuyên quyền này vào tổ chức trọng
tài quốc tế.
Trong giai đoạn đầu các hiệp hội, các nhà kinh doanh tại
mỗi quốc đã soạn ra những hợp đồng mẫu cho từng loại hàng
hoá tuy nhiên các hợp đồng này vẫn mang tính chất riêng biệt
do vậy hợp đồng mẫu của từng quốc gia vẫn có sự khác biệt
về chi tiết nhưng cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ tranh
chấp. Do đó những hiệp hội của các quốc gia đã tìm cách xích
lại gần nhau hơn và ký kết với nhau những thoả hiệp, trong đó
1
-
Đối tượng của hợp đồng - Đồng tiền thanh toán.
Theo luật thương mại Việt Nam 1997 tại điều 8 đưa ra
khái niệm khái quát về hợp đồng ngoại thương như sau: "Hợp
đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán được ký kết
giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương
nhân nước ngoài.
Theo công đốc LaHay 1964 về mua bán quốc tế, đối với
các động sản hữu hình thì một hợp đồng được coi là hợp đồng
mua bán ngoại thương. Nếu các bên chủ thể của hợp đồng
mua bán có trụ sở Thương mại tại các nước khác nhau, hàng
hoá trong hợp đồng được chuyển qua biên giới và được xác
lập ở các nước khác nhau.
Công ước Vienne 1980 của Liên hợp quốc thì yếu tố nước
ngoài của hợp đồng là yếu tố về chủ thể.
Như vậy về mặt bản chất thì khái niệm hợp đồng ngoại
thương trong công ước của Liên hợp quốc 1980 với khái niệm
trong luật thương mại Việt Nam 1997 có sự tương đồng.
Theo quy định tại nghị định 36CP 24/04/97 các hợp đồng
trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp thuộc khi chế xuất,
các cơ sở kinh doanh hàng miễn thuế với các doanh nghiệp
3
trong nước tuy không được gọi là hợp đồng mua bán ngoại
thương nhưng được coi là hợp đồng XNK và chịu sự chi phối
của các quy định pháp luật liên quan.
Ngoài ra, thực tiễn cho thấy các hình thức kinh doanh
Nguồn luật áp dụng điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua
bán ngoại thương phức tạp hơn rất nhiều so với các hợp đồng
mua bán trong nước bao gồm điều ước quốc tế, luật quốc gia
và tập quán Thương mại quốc tế.
1.1.3.
Tính hợp pháp của hợp đồng mua bán ngoại
thương:
a . Hình thức:
Hình thức của hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ có
giá trị pháp lý khi nó được hiểu dứoi một hình thức nhất định .
Pháp luật của đại đa số các nước đều quy định hợp đồng mua
bán ngoại thương chỉ có giá trị pháp lý về mặt hình thức trước
khi nó được hiểu dưới hình thức văn bản.
Tuy nhiên điều 11 Công ước của liên hợp quốc năm 1980
về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có quy định " không
yêu cầu hợp đồng mua bán phải được ký kết hoặc phải được
xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ một yêu cầu nào
đó về mặt hình thức ..." . Việc quy định này nhằm đơn giản
hoá tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể hợp đồng
thuộc các nước thành viên công ước có thể giao kết hợp đồng
một cách nhanh chóng.
b. Nội dung:
Nội dung hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thể hiện
thoả thuận , biểu hiện ý chí tự nguyện của các chủ thể nhằm
ấn định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên đối với
nhau. Tuy nhiên không phải bất cứ nội dung nào do các bên
thoả thuận đưa vào hợp đồng cũng coi là hợp pháp. Hợp đồng
Giá cả phải được ghi bằng chứ và đồng tiền tính giá. Chú
ý khi đông tiền tính giá phải ghi cụ thể là loại tiền gì, của
6
nước nào. Vì thực tế thế giới có nhiều loại tiền của các nước
tuy nhiên tên gọi giống nhau nhưng giá trị lại khác nhau.
+ Thời hạn giao hàng: để đảm bảo quyền lợi của mình và tạo
điều kiện thuận lợi cho công việc giao nhận hàng, các bên
phải thoả thuận thời gian giao hàng. Thời gian giao hàng có
thể được các bên ấn định vào một thời điểm cụ thể hoặc vào
một khoảng thời gian cụ thể.
+ Phương thức giao hàng: phương thức giao hàng là những
quy định về trách nhiệm của người mua hàng và người bán
hàng trong các vấn đề có liên quan đên viêch giao hàng như:
thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá , xác
định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro với hàng
hoá từ ngừoi bán sang người mua ...trong thưc tiễb thương
mại quốc tế, các phương thức giao hàng mang tên gọi như :
FOB , CIF , FAS , EXW ... Ứng với mỗi phương thức giao hàng
là vấn đê pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên tronv quá
trình giao hàng. Ở đây cần chú ý để tránh nhầm lẫn khi thoả
thuânb phương thức giao hàng, các bên phải thống nhất chỉ
ra sẽ áp dụng phương thức nào và nó được ghi nhận ở đâu.
Thông thường người ta áp dụng phương thức giao hàng trong
"INCONTERMS - 1990 " . Nếu có vấn đề gì cân thêm, bớt vào
các điều kiện giao hàng để phù hợp với hoàn cảnh thưc tế thì
các bên cũng phải thoả thuận ghi rõ trong hợp đồng
Ngoài các bên thoả thuận ở đây các chủ thể có thể thoả
thuận đưa vào hợp đồng các điều khoản khác như: điều khoản
quyền ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương , pháp luật
nước các bên chủ thể mabg quốc tịch (Lex personalis) sex
đươc đem áp dụng .
1.2. Xung đột pháp luật về hợp đồng:
8
Hiện tượng xung đột pháp luật có thể phát sinh phổ biến
trong rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của
tư pháp quốc tế.
Tuy nhiên trong 1 số chế định cụ thể cá biệt thì hiện
tượng xung đột đó không xảy ra như: Quan hệ thuộc lĩnh vực
sở hữu trí tuệ, Quan hệ tố tụng tòa án trọng tài.
Qua đó ta thấy rõ ràng không phải lúc nào cũng có xung
đột pháp luật.
Xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuất
hiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luật
của các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ
đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau.
Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiều
nhưng chủ yếu là do:
(1) Không có quy phạm pháp luật
thực chất thống nhất;
(2) Nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau.
Xung đột pháp luật về Hợp đồng thương mại quốc tế
phát sinh là do cách hiểu, cách quy định khác nhau của hai
hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồng
mô hình hữu ích cho các nước đang nổi lên đang xem xét việc
ban hành luật hợp đồng và mua bán hiện đại. Công ước này
áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và
người bán có địa điểm kinh doanh tại các nước là thành viên
của công ước, song công ước có sự nhất quán trong việc nhấn
mạnh yếu tố tự do hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy
định khác.
CISG được soạn thảo bởi nhóm làm việc gồm các luật sư
từ khắp các khu vực trên thế giới dưới sự bảo trợ của Uỷ ban
Luật Thương mại Quốc tế của Liên Hợp quốc (UNCITRAL).
10
Nhiều nước đã thông qua CISG, hứa hẹn lần đầu tiên có một
luật mua bán quốc tế hiệu quả.
Ðiều gì làm cho CISG trở thành một mô hình hữu ích đối
với những nước muốn ban hành luật hợp đồng hoặc mua bán
theo hướng thị trường?
Trước tiên, CISG là một luật thương mại hiện đại phù hợp
với các truyền thống pháp luật. Công ước này thúc đẩy tự do
hợp đồng bằng cách trao cho các bên sự tự do cần thiết trong
việc thay đổi hoặc thay thế hầu hết tất cả các quy định bằng
những điều khoản hoặc biện pháp riêng của họ. CISG được
soạn thảo theo cách thực dụng và dễ hiểu, tránh đi tính hình
thức hoặc việc sử dụng các biệt ngữ chuyên ngành không cần
thiết.
Thứ hai, CISG đã hiện diện rất nhiều trong luật thương
mại trên khắp thế giới. Luật sư và các doanh nhân của hầu
hết các nước sẽ cần thấy phải làm quen với CISG khi tham gia
của hai hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia hợp đồng về
một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến hợp đồng thương mại
quốc tế.
Sở dĩ có xung đột pháp luật về tính hợp pháp của hợp
đồng mua bán hàng hoá là do khi giao kết hợp đồng, các bên
tham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụng
cho hợp đồng.
Để xử lí các xung đột pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hoá Công ước Viện 1980 đã có những điều quy định cụ
thể
2.1. Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp
đồng:
Ở các nước khác nhau có những quy định khác nhau về
tính hợp đồng nói chung và hợp đồng ngoại thương nói riêng.
Các nước Đông Âu khi xác định tính hợp pháp của hợp
đồng thường căn cứ vào luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật
nơi thực hiện hợp đồng trên cơ sở ưu tiên áp dụng luật nơi kí
kết hợp đồng để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức
của hợp đồng mua bán ngoại thương. Trong trường hợp hợp
đồng kí kết ở một nước nhưng thực hiện ở nước khác thì luật
nơi kí kết hợp đồng vẫn được áp dụng để xem xét hình thức
cảu hợp đồng. Nếu luật nơi kí kết hợp đồng không hợp pháp
13
về mặt hình thức thì luật nơi thực hiện hợp đồng vẫn có thể
áp dụng để sem xét hình thức hợp đồng khi toà án nơi giải
quyết tranh chấp xét thấy hình thức cảu hợp đồng không trái
với quy định của nước mình.
Đa số các nước Bắc Âu, Tây Âu và Châu Mỹ đều áp dụng
phải bất kỳ ai khi ký vào hợp đồng mua bán ngoại thương
cũng làm cho nó có giá trị pháp lý .
Hợp đồng mua bán ngoại thương chỉ phát sinh hiệu lực
khi người ký hợp đồng có đủ thẩm quyền ký theo luật định .
Theo nguyên tắc chung,việc xác định thẩm quyền ký
kết hợp đồng mua bán ngoại thương của các bên chủ thể
được xem xét trên cơ sở năng lực hành vi theo pháp luật của
nước mà họ mang quốc tịch.
Trong trường hợp khi xảy ra xung đột pháp luật về thẩm
quyền ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, pháp luật của
nước các bên chủ thể mang quốc tịch (Lex Personalis) sẽ được
đem áp dụng. Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được Công ước
Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế quy định. Công ước Viên 1980 chỉ đưa ra một tiêu
chuẩn khẳng định tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở
thương mại ở các nước khác nhau (Khoản1 Điều 1 CISG).
Công ước Viên 1980 không quan tâm vấn đề quốc tịch, quy
chế dân sự, quy chế thương mại của các bên khi xác định yếu
tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.( Khoản 3
Điều 1 CISG).
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các
bên có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau. Nếu một
bên có hơn một trụ sở thương mại thì sẽ tính đến trụ sở
thương mại có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và
15
với việc thực hiện hợp đồng đó. Nếu một bên không có trụ sở
thương mại thì lấy nới cư trú thường xuyên của họ (Điều 10
Tóm lại, khi giải quyết xung đột pháp luật về thẩm quyền
ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, pháp luật của nước
các bên chủ thể mang quốc tịch sẽ được đem áp dụng.
17
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
PHÁP LUẬT VỀ TÍNH HỢP PHÁP CỦA HỢP ĐỒNG
MUA BÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI VIỆT NAM
3.1. Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng:
Đ770 Bộ luật Dân Sự 2005 quy định: “Hình thức của hợp đồng phải tuân
theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng”. Quy định này là phù hợp với nhu
cầu thực tế. Nó cho phép các bên tham gia ký kết hợp đồng tiến hành một cách
thuận tiện các thủ tục về hình thức tại nơi ký kết hợp đồng mà pháp luật nơi ký kết
hợp đồng yêu cầu.
Bên cạnh đó, quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể
trong hợp đồng; bảo vệ quyền lợi của quốc gia nơi giao kết hợp đồng. Nhưng cũng
có sự khó khăn trong sự xác định nơi giao kết hợp đồng là nơi nào. Trong trường
hợp hợp đồng được giao kết ở nước ngoài mà vi phạm hình thức hợp đồng thì vẫn
có hiệu lực về hình thức hợp đồng tại Việt Nam nếu hình thức hợp đồng đó không
trái với quy định của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngoại lệ của nguyên tắc xác định pháp luật điều chỉnh hình thức của hợp
đồng (hình thức của hợp đồng phải tôn trọng pháp luật Việt Nam mặc dù được ký
kết ở nước ngoài):
(1) hình thức của hợp đồng liên quan đến việc xây dựng hay chuyển giao
quyền sở hữu công trình, nhà cửa và các bất động sản khác trên lãnh thổ Việt Nam
(Đ770.2 Bộ luật Dân Sự 2005);
(2) những trường hợp hợp đồng được giao kết gián tiếp (mạng, thư điện tử...)
thì hình thức của hợp đồng được xác định theo Điều 771 Bộ luật Dân Sự 2005: tuân
(3) thông thường, bên nước ngoài không thích chọn luật Việt Nam còn bên
Việt Nam không hài lòng khi bị ép buộc chọn luật nước ngoài.
Một số ngoại lệ hạn chế tự do lựa chọn luật áp dụng:
- Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: các bên chỉ được chọn áp dụng pháp luật
nước ngoài khi pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể. Đối với những trường
hợp cụ thể mà pháp luật Việt Nam quy định thì các bên không có quyền chọn pháp
luật nước ngoài để điều chỉnh .
- Điều 769 Bộ luật Dân Sự 2005 quy định: “hợp đồng được giao kết tại Việt
Nam, thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Việt Nam”.
Như vậy, các bên không được chọn pháp luật nước ngoài nếu hợp đồng được ký và
19
thực hiện hoàn toàn ở Việt Nam. Nếu các bên ký ở Việt Nam nhưng không thực
hiện hoàn toàn ở Việt Nam thì có quyền chọn pháp luật nước ngoài.
- Hợp đồng liên quan đến Bất Động Sản (quy định tại Đ769.2 Bộ luật Dân
Sự
2005).
Khi các bên không có thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng, Đ769.2 Bộ luật
Dân Sự 2005 quy định: “Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì
việc xác định nơi thực hiện hợp đồng theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”. Có nghĩa là khi các bên có quy định nơi thực hiện hợp đồng thì pháp
luật áp dụng là pháp luật của nước nơi hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận của
các bên. Còn trường hợp không có thỏa thuận thì phải xác định nơi thực hiện theo
pháp luật Việt Nam.
Thiết nghĩ nên quy định nơi thực hiện hợp đồng là nơi thực hiện nghĩa vụ
đặc thù của hợp đồng và đưa ra một danh sách nghĩa vụ đặc thù của những hợp
2005 “trong trường hợp Bộ Luật này hoặc các văn bản khác của Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật của nước mà người nước
ngoài là công dân thì pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có 2 hay nhiều
quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào
thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu người đó không cư trú tại một trong các
nước mà người đó có quốc tịch thì áp dụng pháp luật của nước mà người đó có
quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân”.
Như vậy, ở đây chỉ đề cập đến “người nước ngoài có từ 2 quốc tịch nước
ngoài trở lên” chứ trường hợp người có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước
ngoài chưa có quy định xử lý. Thiết nghĩ nên áp dụng quy định đã được sử dụng
trong lĩnh vực năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự
(áp dụng pháp luật Việt Nam). Như vậy theo pháp luật Việt Nam, năng lực hành vi
ký kết hợp đồng của các bên chủ thể được xác định theo Luật quốc tịch của họ hoặc
theo luật nơi thực hiện hành vi. Bộ luật Dân Sự 2005 còn thiết lập một số quy phạm
liên quan đến hợp đồng được giao kết vắng mặt: “Việc xác định nơi giao kết hợp
đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở
chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp
đồng được xác định theo pháp luật của nước của bên đề nghị giao kết hợp đồng nếu
bên này nhận được trả lời chấp thuận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng”
(Điều 771 Bộ luật Dân Sự 2005). Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam không có quy
phạm xung đột quy định về thẩm quyền ký kết hợp đồng./.
21