Áp dụng chính sách công nghệ để giải quyết xung đột môi trường trong hoạt động khai thác mỏ (nghiên cứu trường hợp các mỏ đá vôi tại huyện kinh môn) - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

VŨ VĂN CƢỜNG

ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC MỎ (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÁC MỎ ĐÁ VÔI
TẠI HUYỆN KINH MÔN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

VŨ VĂN CƢỜNG

ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC MỎ (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÁC MỎ ĐÁ VÔI
TẠI HUYỆN KINH MÔN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 04 12

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do nghiên cứu ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ............................................................................................ 2
3. Mục tiêu của đề tài ............................................................................................ 5
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 5
5. Mẫu khảo sát ...................................................................................................... 5
6. Câu hỏi nghiên cứu............................................................................................ 6
7. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................... 6
8. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 6
9. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 7
CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƢỜNG........................................ 8
1.1. Tổng quan về xung đột môi trường ............................................................... 8
1.1.1. Khái niệm về môi trường .................................................................8
1.1.2. Ô nhiễm môi trường .......................................................................10
1.1.3. Khái niệm về xung đột môi trường ................................................14
1.1.4. Tính tất yếu của xung đột môi trường ...........................................16
1.1.5. Đặc điểm của xung đột môi trường ...............................................17
1.1.6. Các dạng xung đột môi trường ......................................................18
1.1.7. Phân loại xung đột môi trường ......................................................21
1.2. Khái niệm về đá vôi và khái quát về ngành công nghiệp khai thác và
chế biến đá vôi, hoạt động khai thác mỏ đá .................................................23
1.2.1. Cộng đồng dân cư ..........................................................................26
1.2.2. Khái niệm quản lý ..........................................................................26


1.2.3. Khái niệm quản lý môi trường .......................................................27
1.3. Chính sách công nghệ đối với xung đột môi trường .................................. 28
1.3.1. Khái quát chung về Chính sách .....................................................28
1.3.2. Tổng quan chung về công nghệ .....................................................29

Kinh Môn .................................................................................................53
2.6.2. Phân tích những xung đột môi trường trong hoạt động khai thác
mỏ đá vôi tại huyện Kinh Môn ................................................................60
2.6.3. Tác động tích cực của các chính sách ............................................63
2.6.4. Những hạn chế và nguyên nhân .....................................................63
*Kết luận Chương 2 .........................................................................................68
CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC MỎ
ĐÁ VÔI TẠI HUYỆN KINH MÔN ................................................................... 69
3.1. Chính sách công nghệ để gải quyết xung đột môi rường .......................... 69
3.2. Một số nhóm giải pháp khác .................................................................72
3.2.1. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ...............................72
3.2.2. Nhóm giải pháp về tài chính ..........................................................75
3.2.3. Nhóm giải pháp về Chính sách ......................................................75
3.2.4. Nhóm giải pháp về thông tin và tuyên truyền................................77
3.2.5. Nhóm giải pháp hành lang pháp lý ................................................77
3.3. Tác giả đề xuất một số giải pháp về chính sách của dịa phương………..78
* Kết luận Chương 3 ........................................................................................80
KIẾN NGHỊ ............................................................................................................ 80
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 84
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVMT:

Bảo vệ môi trường

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1. Bảng khai thác trữ lượng đá tại các mỏ đã vôi từ 2009-2014
Bảng 2. Thống kê tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại về môi trường


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Khái niệm về xung đột môi trường có thể mới nhưng trong thực tế đã
xảy ra những xung đột gay gắt, gây mất ổn định chính trị, làm tổn hại đến tài
sản, tiền của, thậm chí thiệt hại về người ở nhiều nơi. Chẳng hạn vụ xử lý chất
thải từ việc sản xuất mỳ chính của Công ty Vê - đan; công ty Sữa, vụ xây bể
chứa axit tại Hải Phòng; vụ bãi rác thải ở Sóc Sơn; tranh cãi xung quanh việc
đường Hồ Chí Minh đi qua vùng đệm vườn Quốc gia Cúc Phương... trong
nhiều làng nghề, khu dân cư, khu công nghiệp cũng đã và đang xuất hiện hoặc
ngấm ngầm những bất đồng, mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư với doanh
nghiệp, hợp tác xã, giữa các gia đình, cá nhân với nhau xung quanh vấn đề sử
dụng, khai thác tài nguyên, môi trường.
Trong nền kinh tế thị trường quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đem lại những đổi thay tích cực trong kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.
Song chính những điều đó lại ảnh hưởng không ít đến môi trường đặc biệt là môi
trường không khí. Vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên
nghiêm trọng hơn ở Kinh Môn nói riêng và ở Việt Nam nói chung. Hàng ngày
trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta dễ dàng bắt gặp những hình
ảnh, những thông tin về việc ô nhiễm môi trường nguồn nước, không khí do các
hoạt động khai thác khoáng sản của con người, việc vứt rác thải bừa bãi, khói bụi
vào không khí do xe cộ ngày càng làm cho môi trường xung quanh chúng ta đặc
biệt môi trường không khí càng trở nên ô nhiễm trầm trọng. Chính vì vậy giải
quyết tình trạng ô nhiễm môi trường đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước đối với
các hoạt động gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của người

Xung đột môi trường là một vấn đề bức xúc và đang diễn ra rộng khắp trên
phạm vi toàn thế giới.

2


Năm 1993, trung tâm đào tạo thường xuyên của học viện Công nghệ
Châu Á (AIT) đã đưa nội dung xung đột môi trường vào chương trình đào tạo
chính thức trong khóa học về môi trường. Trong chương trình này, đề cập đến
khái niệm và nguyên nhân xung đột môi trường, đồng thời đưa ra những lý
thuyết về các phương thức giải quyết xung đột môi trường như một bộ phận
quan trọng của chính sách quản lý môi trường.
Đối với vấn đề xung đột môi trường ngày càng được nhiều người quan
tâm. Việt Nam cũng có những đề tài về xung đột môi trường được thực hiện
trong nước như:
Lê Thanh Bình (2000) “Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải
quyết xung đột môi trường”[9]. Nghiên cứu này tác giả chủ yếu đề cập đến
việc tìm cơ sở lý luận cho các luận cứ khoa học mang tính lý thuyết cho việc
giải quyết xung đột môi trường.
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) “Giải pháp quản lý môi trường thông
qua việc nhận dạng xung đột môi trường giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng
đồng dân cư sống xung quanh (Nghiên cứu trường hợp tại bãi rác Nam Sơn,
Sóc Sơn, Hà Nội)” [13]. Tác giả đi sâu vào vấn đề môi trường, xung đột môi
trường tại bãi rác Nam Sơn. Và đề ra các biện pháp giải quyết xung đột môi
trường liên quan đến bãi rác, cơ chế xử lý, thu gom rác, và tiêu chuẩn để có
một bãi rác không ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.
Nguyễn Đắc Dương (2009) “Đề xuất chính sách giảm thiểu ô nhiễm môi
trường thông qua việc nhận dạng và giải quyết xung đột môi trường giữa các
cộng đồng dân cư trong khu vực sông Nhuệ, sông Đáy (đoạn qua tỉnh Hà
Nam)” [12]. Tác giả chỉ ra được các giải pháp chính sách giảm thiểu ô nhiễm

gải quyết ô nhiễm môi trường mỏ đá vôi để có những đề xuất phương pháp,
cách quản lý môi trường tốt hơn.
4


3. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công nghệ đối với xung đột môi
trường trong hoạt động khai thác mỏ đá vôi.
Phân tích thực trạng xung đột môi trường trong hoạt động khai thác mỏ
nói chung và khai thác các mỏ đá vôi tại huyện Kinh Môn.
Đề xuất các chính sách công nghệ nhằm giải quyết xung đột môi trường và
ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác mỏ đá vôi tại huyện Kinh Môn.
4. Phạm vi nghiên cứu
Xung đột môi trường trong hoạt động khai thác mỏ nói chung và các mỏ
đá vôi tại huyện Kinh Môn. Chính sách công nghệ đối với hoạt động khai thác
mỏ nói chung và các mỏ đá vôi tại huyện Kinh Môn.
Phạm vi thời gian: 2007-2014.
5. Mẫu khảo sát
Mẫu được chọn để nghiên cứu là các mỏ đá vôi trên địa bàn huyện Kinh
Môn, cụ thể: Công ty ViCem xi măng Hoàng Thạch Thị trấn Minh Tân,
huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (các mỏ đá vôi: Mỏ đá vôi đá sét Hoàng
Thạch, Mỏ đá vôi Áng Dâu, Áng Rong, mỏ sét G6, G7, Mỏ đá vôi Vãi Sư thị
trấn Minh Tân, huyện Kinh Môn); Công ty xi măng Phúc Sơn Thị trấn Phú
Thứ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (Mỏ Đá vôi Nhẫm Dương, xã Duy
Tân, huyện Kinh Môn; Mỏ Cát kết Núi Giếng, Thị trấn Minh Tân; Mỏ sét Bắc
Hiệp Hạ, Xã Hiệp Sơn; Mỏ đá sét Núi Công, Xã Duy Tân và thị trấn Phú
Thứ) Công ty Cổ phần sản xuất VLXD Thành Công III. Khu công nghiệp
Hiệp Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (các mỏ đá vôi: Mỏ đá vôi ở
phía Nam núi Ngang thuộc xã Duy Tân và Tân Dân, Mỏ đá vôi Núi Ngang,
Xã Duy Tân, Mỏ đá sét Trại Chẹm, Xã Bạch Đằng). Nguồn thông tin để khảo

kê của các mỏ đá, các công ty doanh nghiệp khai thác chế biến đá và các
ngành quản lý tài nguyên về môi trường tác giả chắt lọc, thống kê số liệu liên
quan tới đề tài để làm rõ hơn thực trạng khai thác đá vôi tại huyện kinh môn
nguyên nhân và những xung đột.
6


9. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị được
trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về môi trường, xung đột môi trường.
- Chương 2: Phân tích thực trạng xung đột môi trường trong hoạt động
khai thác mỏ.
- Chương 3: Giải pháp và chính sách công nghệ giải quyết các xung đột
môi trường trong hoạt động khai thác mỏ đá vôi tại huyện Kinh Môn.

7


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƢỜNG VÀ XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG
Trong Chương 1 tác giả trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm xung
quanh vấn đề về môi trường, ô nhiễm môi trường, xung đột môi trường, tổng
quan về xung đột môi trường, các dạng về xung đột môi trường, tổng quan về
hoạt động khai thác các mỏi đá và các chính sách đối với xung đột môi trường
trong nước và trên thế giới.
1.1. Tổng quan về xung đột môi trƣờng
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Môi trường có rất nhiều yếu tố cấu tạo thành như yếu tố tự nhiên, yếu tố
xã hội chính vì vậy khái niệm về môi trường cũng có nhiều quan điểm tiếp

Đối với từng cá thể con người cũng như toàn thể nhân loại, môi trường
có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những chức năng đặc biệt của nó. Xét một
cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường, có thể kể đến
ba chức năng chính sau đây:
+ Môi trường là không gian sinh tồn của con người. Giống như mọi sinh
vật khác, để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần con người
cần có một không gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng
của nó. Môi trường trước hết chính là không gian sống đó, là yếu tố có ý
nghĩa quyết định cho sự tồn tại của con người. Đó là một chức năng hết sức
quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của con người.
+ Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật liệu, năng
lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con người. Thiếu đi
những yếu tố này, con người khó có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động nào
cho sự phát triển của chính mình. Nói cách khác, thiếu đi những thuận lợi về
tài nguyên thiên nhiên, con người sẽ phải đối mặt với những khó khăn lớn cho
sự phát triển của chính mình.
9


+ Môi trường là nơi chứa đựng và xử lý chất thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Một điều rất dễ nhận thấy là
trong quá trình sinh tồn, con người không chỉ khai thác những nguồn lợi thiên
nhiên xung quanh mình mà còn phải bỏ rất nhiều loại chất thải khác nhau vào
môi trường. Môi trường, bằng khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình, không
chỉ chứa đựng mà còn có thể tự đồng hoá một lượng chất thải nhất định để
đảm bảo sự cân bằng tự nhiên của chính nó. Vì thế, trong một giới hạn nhất
định, con người có thể thải bỏ các chất thải vào môi trường mà không làm ảnh
hưởng xấu đến chất lượng không gian sống của mình.
Từ những lý do cần thiết về môi trường nêu trên trên cơ sở nghiên cứu
và triển khai luận văn này tác giả chọn khái niệm môi trường theo chức năng.

và sinh hoạt tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: Ô
nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó thì ô
nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm
trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề
thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát
triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do
các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình
trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng
nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình
sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay
cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang
giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động
thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được phân bố
rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng
11


bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long.
Riêng ở đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước. Hình
thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác
xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng
công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư
xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó lại thiếu một
cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có
những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi
trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề

bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo
thống kê của Bộ Tư pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo
vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động
kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất.
Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ,
thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình trạng văn bản mới được ban hành
chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả
điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế... trong
việc bảo vệ môi trường.
Thứ hai, quyền hạn pháp lí của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là
của lực lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế
hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Các cở sở pháp lí, chế tài xử phạt đối
với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi
trường vừa thiếu, vừa chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục,
phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường. Rất ít trường
13


hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lí hình sự; còn các biện pháp xử lí khác
như buộc phải di dời ra khỏi khu vực gây ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉnh
hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng
nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết, doanh
nghiệp trây ỳ nên cũng không có hiệu quả.
Thứ ba, các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng
mức đối với công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lí, thiếu
trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Công tác thanh tra,
kiểm tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất
dường như vẫn mang tính hình thức, hiện tượng “phạt để tồn tại” còn phổ
biến. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án

dựa trên quyền lợi giai cấp do thị trường môi giới, nhu cầu cách biệt các cộng
đồng xã hội hay quyền lợi, quyền lực của các đảng phái. Tác giả Simmel cho
rằng xung đột không chỉ là kết quả của các cấu trúc xã hội hay những động cơ
thiết yếu đối với lịch sử mà nó là một thành tố trung tâm của quá trình xã hội
hay nó chính là đối tượng độc lập của việc phân tích xã hội học. Xung đột
(Confict) là trạng thái đối lập hay thù địch, sự đấu tranh; conflict cũng có nghĩa
là sự mâu thuẫn, bất đồng, bất hòa nghiêm trọng, tranh cãi, tranh luận, sự đối
lập, sự khác biệt, bất đồng, không tương hợp. Như vậy, từ xung đột ở đây được
hiểu rộng hơn chứ không phải xung đột chỉ là sự đấu tranh, có đe dọa, vũ lực.1
Theo Gunter Endruweit- nhà xã hội học người Đức cho rằng: “ Xung đột xã hội
là các quan hệ và quá trình xã hội mà ở đó có thể phân biệt hai hay nhiều cá
nhân hay nhóm có quyền lợi đối lập nhau trong những cách giải quyết vấn đề
nhất định” 2. Tác giả Lê Thanh Bình trong nghiên cứu của mình đã dẫn ra ba
cách hiểu xung đột môi trường của viện Khoa học Công nghệ Châu Á - AIT
1

Xem thêm Nguyễn Thị Thanh Thanh, (2012) Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội ở làng trống Đọi
Tam, Đọi Sơn, Duy Tiên, Hà Nam, trang 23.
2

Xung đột chức năng môi trường Trong Vũ Cao Đàm (chủ biên), Nghiên cứu xã hôi về môi trường, NXB
KH&KT 2010

15


như sau: Xung đột môi trường là xung đột quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề
nghiệp và ưu tiên chính trị; là mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; giữa bảo
tồn và phát triển, kết quả của xung đột môi trường có thể là xây dựng hoặc phá
hủy phụ thuộc vào quản lý xung đột.

4
Phạm Thị Bích Hà . Xung đột chức năng môi trường Trong Vũ Cao Đàm (chủ biên), Nghiên cứu xã hôi về
môi trường, NXB KH&KT 2010.

16


cạn kiệt. Giải quyết những xung đột giữa bảo vệ môi trường và tăng trưởng
kinh tế, con người sẽ tiến tới những phương thức phát triển bền vững hơn.
Quản lý biến đổi môi trường sẽ không thể thiếu quản lý xung đột giữa
quyền lợi của cộng đồng, những vị trí nghề nghiệp và những ưu tiên chính trị;
là xung đột giữa hiện tại và tương lai; là xung đột giữa bảo tồn và phát triển.
Kết quả của xung đột có thể là xây dựng hoặc phá hủy tùy thuộc vào
việc quản lý và giải quyết chúng như thế nào.
Quản lý xung đột thành công làm giảm thiểu những nguy cơ và tăng tối
đa những cơ hội cho bảo tồn và phát triển.5
1.1.5. Đặc điểm của xung đột môi trường
Trước hết, xung đột là một tất yếu xã hội của quá trình biến đổi. Nó
không phải là kết quả của sự sai lầm của một con người, cũng không phải là
sai lầm của một hệ thống. Nó là một bước trong quá trình giải quyết vấn đề.
Thứ hai, xung đột có thể chia sẻ. Nó không phải là trách nhiệm của riêng
ai hoặc của riêng nhóm nào. Đương nhiên, khi nói đến xung đột là nói đến các
nhóm đối đầu nhau thuộc đương sự sung đột, nhưng xung đột luôn diễn ra trong
một cộn đồng xã hội nhất định, và vì vậy nó luôn có thể là mối quan tâm của
toàn thể cộng đồng.
Thứ ba, xung đột là một quá trình, có bước chuẩn bị, có bước khởi đầu
và các giai đoạn tiến triển, vì vậy mà chúng ta có thể quản lý xung đột, nhưng
cần có thời gian và nguồn lực.
Cuối cùng, xung đột là tín hiệu cho phép nhận biết những bất ổn xã hội,
để từ đó tìm kiếm các giải pháp xử lý các bất ổn xã hội. Chẳng hạn, xung đột


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status