ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THÁI HƯNG
GI¶I QUYÕT XUNG §éT PH¸P LUËT VÒ HîP §åNG
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn
thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Do đó, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Đặng Thái Hưng
Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của
hợp đồng ............................................................................................ 37
2.1.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng........ 37
2.1.2. Thực trạng các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về
hình thức hợp đồng............................................................................. 40
2.2.
Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng ...... 43
2.2.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng......... 43
2.2.2. Thực trạng các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về
nội dung hợp đồng .............................................................................. 46
2.3.
Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ
thể giao kết hợp đồng ....................................................................... 58
2.3.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể
giao kết hợp đồng ............................................................................... 58
2.3.2. Thực trạng các quy định giải quyết xung đột pháp luật về năng
lực chủ thể giao kết hợp đồng ............................................................ 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 64
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TRONG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG....................................................................................... 65
3.1.
: Bộ luật Dân sự của Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005
Công ƣớc Viên 1980
: Công ƣớc của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế (Vienna, 1980)
Quy tắc Roma I
: Quy tắc số 593/2008 về Luật áp dụng đối với nghĩa
vụ hợp đồng (Quy tắc Roma I)
XĐPL
: Xung đột pháp luật
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ khi bắt đầu tiến hành Đổi Mới vào năm 1986, Việt Nam đã bắt
đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam chỉ đặc biệt hội nhập
sâu và toàn diện vào sân chơi toàn cầu khi chính thức gia nhập Tổ chức
Thƣơng mại Quốc tế (WTO) năm 2007.
Chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhƣ vậy, điều dễ dàng nhận thấy
mỗi một quốc gia đều có một hệ thống các quy định pháp luật riêng và các quy
phạm pháp luật này khác với quy phạm pháp luật của các quốc gia khác thậm
chí là hoàn toàn trái ngƣợc. Nguyên nhân của sự khác nhau về pháp luật của
mỗi quốc gia do xuất phát từ các đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội và điều kiện
hiện hành. Đồng thời, tác giả cũng mong muốn đƣa ra những kiến nghị để sửa
đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 trong lĩnh
vực giải quyết XĐPL về hợp đồng và đóng góp đối với việc xây dựng đạo luật
về tƣ pháp quốc tế riêng biệt của Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu trong vấn đề xung đột pháp luật và xung đột pháp luật
trong lĩnh vực hợp đồng tại Việt Nam đã có một số đề tài nhƣ:
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Chiến về "Cơ sở lý luận và thực tiễn về
hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật xung đột ở Việt Nam"; Luận án tiến
sĩ của Nguyễn Thị Thuận về "Giải quyết xung đột về hiệu lực và áp dụng giữa
các điều ước quốc tế"; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Khanh về "Cơ sở lý
luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh một số quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài ở nước ta hiện nay"; Luận án tiến sĩ của Nông Quốc Bình về
"Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam";
Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Thoa về "Giải quyết tranh chấp hợp đồng
thương mại quốc tế bằng tòa án"; Luận văn thạc sỹ của Phạm Thành Tài về
"Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định
2
của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới"; Luận văn thạc sỹ của Lê Thu Hƣờng về "Một số vấn đề
pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài"; Luận
văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai Hƣơng về "So sánh chế định giao kết hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ", ...
Các công trình nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Tiến Vinh: "Bàn về việc hoàn
thiện các quy định trong Phần VII "Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài"
(Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 5/2003, tr.45252); Đỗ Văn Đại: "Tư pháp
tài đặt ra.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn giới thiệu, trình bày một cách tổng hợp, khái quát các quy
định của Bộ luật Dân sự 2005 về việc áp dụng các quy phạm xung đột pháp
luật để điều chỉnh các loại hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài.
Luận văn làm rõ thêm một số quan điểm, đề xuất những phƣơng hƣớng
và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống các quy định liên quan đến việc
giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng của Bộ luật Dân sự 2005.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Khái quát chung về xung đột pháp luật và xung đột pháp
luật về hợp đồng.
Chương 2: Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng của
Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết
xung đột pháp luật về hợp đồng.
5
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
VÀ XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
Để có cơ sở hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong việc giải
quyết vấn đề XĐPL về hợp đồng, Chƣơng này sẽ trình bày những vấn đề c ó t
í n h l ý l u ậ n l i ê n q u a n đ ế n X ĐP L , p h ƣ ơ n g p h á p g i ả i q u y ế t XĐ P L , k h á i niệm
về hợp đồng và hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài và giải quyết XĐPL về hợp
đồng.
1.1. Khái quát về xung đột pháp luật
công dân Hàn Quốc thì pháp luật quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng để việc đăng
ký kết hôn phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc.
Theo định nghĩa trong Giáo trình Tƣ pháp Quốc tế của Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS. Nguyễn Bá Diến định nghĩa thì "Xung đột
pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia
điều chỉnh một quan hệ Tư pháp Quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp
luật này có sự khác biệt về các quy định khi giải quyết vấn đề" [19, trg. 93].
Theo định nghĩa của Giáo trình Tƣ pháp quốc tế trƣờng Đại học Luật
Hà Nội thì "Xung đột pháp luật xảy ra khi hai hay nhiều hệ thống pháp luật
đồng thời đều có thể áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật này hay
quan hệ pháp luật khác" [56, tr. 27].
Theo định nghĩa của Giáo trình Luật Tƣ pháp quốc tế của Bùi Thị Thu
"Xung đột pháp luật là một tình huống pháp lý hoặc một quan hệ pháp lý khi
phát sinh có thể chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác
nhau" [55, tr. 127].
Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể nhận thấy XĐPL xảy ra khi có từ
hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh một quan hệ pháp luật và quan
hệ pháp luật này là quan hệ có yếu tố nƣớc ngoài.
7
1.1.2. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
Để giải quyết XĐPL ngƣời ta thƣờng sử dụng hai phƣơng pháp:
Phƣơng pháp xung đột và phƣơng pháp thực chất.
Phương pháp xung đột
Phƣơng pháp xung đột là phƣơng pháp mà cơ quan có thẩm quyền áp
dụng các quy phạm xung đột để xác định hệ thống pháp luật cụ thể nào để giải
quyết XĐPL nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng của tƣ pháp
quốc tế.
Việc áp dụng phƣơng pháp xung đột tại quốc gia theo hệ thống thông
luật (common law) còn phức tạp hơn nhiều vì tòa án có thẩm quyền rộng
trong việc giải thích pháp luật và sáng tạo pháp luật (tuy nhiên vẫn phải đảm
bảo những nguyên tắc cơ bản nhƣ tính công bằng, tôn trọng sự thỏa thuận của
các bên và nằm trong khuôn khổ pháp luật) và việc giải quyết vụ việc lại dựa
trên các án lệ; vì vậy rất dễ dẫn đến trƣờng hợp có nhiều trƣờng hợp phát sinh
trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mà các bên liên quan không thể
tiên liệu đƣợc tất cả tình huống phát sinh trên thực tế [56, tr. 33].
Từ những phân tích nêu trên, ta nhận thấy phƣơng pháp xung đột có
một số mặt hạn chế sau:
Thứ nhất, khó có khả năng tòa án đƣa ra một phán quyết có tính thống
nhất chung cho vụ tranh chấp bởi vì tòa án của các nƣớc khác nhau sẽ có
quan điểm, cách nhìn nhận và áp dụng pháp luật khác nhau khi giải q u yế t v ụ t
ran h ch ấ p .
Thứ hai, phƣơng pháp xung đột thƣờng không có tính ổn định và lâu
dài vì các quy phạm xung đột luôn đƣợc hoàn thiện cùng với việc hệ thống
hóa và pháp điển hóa tƣơng ứng với các điều ƣớc quốc tế mà quốc gia đó gia
nhập hoặc văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia đƣợc ban hành trong
từng thời kỳ khác nhau [55, tr.59].
9
Phương pháp thực chất
Phƣơng pháp thực chất là phƣơng pháp xây dựng trên cơ sở các quy
phạm thực chất, các quy phạm thực chất này quy định quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Chính nhờ
phƣơng pháp thực chất này mà cơ quan có thẩm quyền cũng nhƣ các bên khi
tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài này chỉ cần căn cứ vào nội
dung của những quy phạm thực chất này để giải quyết mà không cần phải sử
Credits - UCP), .v.v…
Các quy phạm thực chất trong luật của quốc gia (luật quốc nội):
Trong phạm vi quốc gia, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong
các văn bản pháp luật của quốc gia. Các quy phạm này cũng đồng thời là các
quy phạm đƣợc quy định trong các điều ƣớc quốc tế. Các quy phạm thực chất
này trực tiếp điều chỉnh các quan hệ đã đƣợc các quốc gia thống nhất áp dụng và
đƣợc dùng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Ví dụ ở Việt
Nam hiện nay, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong văn bản luật nhƣ
Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tƣ, Bộ luật
Hàng hải, Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam, .v.v…
Tóm lại, phƣơng pháp thực chất có những ƣu điểm sau:
Thứ nhất, giải quyết trực tiếp quan hệ dân sự có yêu tố nƣớc ngoài và
thƣờng đƣợc áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể nhất định (nhƣ mua bán hàng
hóa, sở hữu trí tuệ, đầu tƣ, .v.v…)
Thứ hai, sử dụng đối với các bên tham gia vào một quan hệ cụ thể và chỉ
đối với quốc gia là thành viên của điều ƣớc quốc tế đó và trong nhiều trƣờng hợp
chỉ áp dụng với một chủ thể cụ thể và chủ thể này thƣờng biết trƣớc các điều
kiện pháp lý khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài đó.
Thứ ba, việc thực thi đƣợc nâng cao do các quy phạm thực chất trong c
ác đ i ề u ƣớ c q u ố c t ế đ ã đ ƣợ c n ộ i l u ậ t h ó a t h àn h các q u y p h ạ m p h áp l u ậ t củ a
q u ố c g i a.
11
1.1.3. Các hệ thuộc luật cơ bản
Các hệ thuộc luật là các nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với mỗi quan
hệ dân sự trong tƣ pháp quốc tế. Mỗi quy phạm xung đột đều có phần hệ
thuộc của mình. Các quốc gia trong hệ thống pháp luật của mình đều xây
dựng và áp dụng các quy phạm xung đột dựa trên các nguyên tắc đảm bảo
xác định quy chế pháp luật của pháp nhân nhƣ: năng lực pháp luật của pháp
nhân, tƣ cách chủ thể của pháp nhân, giải quyết vấn đề tài sản của pháp nhân
trong trƣờng hợp pháp nhân tổ chức lại hay chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên,
hiện nay các quốc gia vẫn chƣa thống nhất đƣợc các dấu hiện xác định quốc
tịch của pháp nhân. Các quốc gia theo hệ thống luật Châu Âu lục địa sử dụng
phƣơng pháp xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi có trụ sở chính của
pháp nhân hoặc trung tâm quản lý. Các quốc gia theo hệ thống luật Anh Mỹ
và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi
đăng ký điều lệ hoặc nơi thành lập của pháp nhân. Trong khi đó các quốc gia
Hồi giáo lại xác định quốc tịch của pháp nhân thực tế tiến hành hoạt động kinh
doanh.
(3) Hệ thuộc luật nơi có vật hoặc tài sản (lex rei sitae): là pháp luật
đƣợc áp dụng đối với nơi có tài sản. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc áp dụng đối
với quan hệ sở hữu và thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài, đặc biệt là giải quyết
quan hệ sở hữu đối với tài sản là bất động sản.
(4) Luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus): là pháp luật của nƣớc mà
hành vi đã đƣợc thực hiện. Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi gồm có các
dạng cơ bản sau:
(*) Luật nơi giao kết hợp đồng (lex loci contractus): là hệ thuộc của
pháp luật nơi giao kết hợp đồng. Hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng đƣợc áp
dụng nhằm xác định tính hợp pháp của hợp đồng đƣợc giao kết. Hợp đồng
đƣợc giao kết ở quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó. Ví dụ,
Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng để xác định hình thức
13
của hợp đồng thể hiện trong Khoản 1 Điều 770 BLDS 2005 "Hình thức của
hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nơi giao kết hợp đồng".
Việc xác định thời điểm và nơi ký kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng
liên quan đến giải quyết XĐPL về lao động.
(9) Hệ thuộc nơi xẩy ra hành vi vi phạm pháp luật (lex loci delicit
commissi): là hệ thuộc dùng để điều chỉnh quan hệ bồi thƣờng thiệt hại ngoài
hợp đồng. Theo Khoản 1 Điều 779 BLDS 2005 thì việc bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc nơi xảy ra hành vi gây
thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
(10) Hệ thuộc luật lựa chọn (lex voluntatis): là luật quốc tịch của ngƣời
bán thƣờng đƣợc áp dụng để giải quyết các quan hệ trong hợp đồng mua bán
trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận khác.
(11) Hệ thuộc luật quốc kỳ (lex banderae): là hệ thuộc chỉ ra pháp luật
của nƣớc mang quốc kỳ. Hệ thuộc luật quốc kỳ thƣờng đƣợc áp dụng để giải
quyết XĐPL trong các vấn đề nhƣ: quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp
đồng thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành
khách và hành lý, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả, các vụ việc xẩy ra ở
biển cả khi tàu đang ở biển cả, trƣờng hợp đâm va chạm tàu xảy ra ở biển cả
hoặc trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia khác giữa các tàu biển cùng quốc
tịch [55, tr. 77-78]. … Ví dụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hàng hải quy
định "Trong trƣờng hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản
trên tàu biển, hợp đồng cho thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng
vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu
hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả, các vụ việc
xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở biển cả thì áp dụng pháp luật của quốc gia
mà tàu biển mang cờ quốc tịch".
(12) Hệ thuộc nơi đăng ý phƣơng tiện vận tải (lex libri sitae): là pháp
luật của nƣớc mà phƣơng tiện vận tải đƣợc đăng ký. Luật nơi đăng ký phƣơng
15
tiện vận tải thƣờng đƣợc áp dụng trong lĩnh vực hàng không dân dụng, ví dụ
kỷ 1 sau Công nguyên và đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ dƣới thời
Justinnian [35, tr. 8]. Sau này, thuật ngữ hợp đồng đƣợc các nƣớc phƣơng Tây
kế thừa và phát triển và sử dụng chính thức thuật ngữ "hợp đồng", tiếng Anh là
"contract", tiếng Pháp là "contrat".
Bên cạnh việc thống nhất sử dụng thuật ngữ "hợp đồng" trong các văn bản
pháp lý, chúng ta cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm "hợp đồng". Các luật gia
từ thời kỳ La Mã đã đặt ra những điều kiện cơ bản để hợp đồng có hiệu lực
nhƣ sau: phải có ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch; xác
định rõ ràng nội dung của hợp đồng; hành vi, công việc trong hợp đồng phải
đƣợc thực hiện; đáp ứng những điều kiện về mặt hình thức nhất định [3, tr.
80]. Những điều kiện về hợp đồng từ thời La Mã đã có từ rất lâu nhƣng
những điều kiện này vẫn là những điều chính, cơ bản trong pháp luật hiện
hành của nhiều quốc gia trên thế giới.
BLDS Pháp, là một trong những bộ luật có ảnh hƣởng đến hầu hết các
quốc gia tại Châu Âu, đã đƣa ra khái niệm về hợp đồng tại Điều 1011 "Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều ngƣời cam kết với
một hoặc nhiều ngƣời khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm
một công việc nào đó". BLDS Đức cũng có những nét tƣơng đồng với BLDS
Pháp, đƣa ra định nghĩa về hợp đồng là điều kiện cần thiết để hình thành hoặc
làm thay [35, tr. 11].
Theo qui định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): "Hợp
đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những
cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác" [35, tr. 11]. Tuy có
tính khái quát hơn, nhƣng định nghĩa này về cơ bản cũng giống định nghĩa tại
Điều 1101 BLDS Pháp. Cả hai định nghĩa trên đều thể hiện rõ bản chất của
hợp đồng là sự "thỏa thuận" hay "thống nhất ý chí" giữa các bên. Tuy nhiên,
nội dung định nghĩa chỉ thể hiện chức năng của hợp đồng mà chƣa chỉ ra
17
thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa
các chủ thể bình đẳng, thể nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác. Các thỏa
thuận liên quan đến quan hệ hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ… phải phù hợp
với qui định của các luật khác. Định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc tƣơng
đối dài vì bao hàm cả các nguyên tắc khái quát trong việc giao kết thực hiện hợp
đồng mà Trung Quốc muốn nhấn mạnh, đó là nguyên tắc "bình đẳng" giữa
các bên tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, khái niệm hợp đồng của Trung Quốc
có nhiều điểm giống với khái niệm hợp đồng của luật La Mã khi coi hợp đồng là
một căn cứ để xác lập nghĩa vụ và cũng nhấn mạnh tới sự tự do ý chí khi giao
kết hợp đồng thông qua việc coi trọng quyền bình đẳng của các bên trong hợp
đồng [35, tr. 29].
Tƣơng tự nhƣ định nghĩa hợp đồng của Trung Quốc, theo qui định tại
khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) định nghĩa "Hợp đồng là sự thỏa thuận
giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự". Định nghĩa về hợp đồng của Nga vẫn có tính khái quát và ngắn gọn
hơn so với định nghĩa về hợp đồng của Trung Quốc.
Bộ luật Dân sự của Nhật Bản định nghĩa hợp đồng là một loại giao dịch
dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên. Mục đích của hợp
đồng là làm phát sinh nghĩa vụ. Bộ luật Dân sự Nhật Bản coi hợp đồng là một
quan hệ pháp luật và là căn cứ để làm phát sinh nghĩa vụ. Hợp đồng theo Bộ
luật Dân sự Nhật Bản không phải lúc nào cũng làm phát sinh quan hệ nghĩa
vụ mà trong một số trƣờng hợp, hợp đồng có thể là các giao dịch không có
mục đích làm phát sinh nghĩa vụ nhƣ quan hệ hôn nhân đƣợc coi là một giao
dịch hợp đồng không làm phát sinh nghĩa vụ [3, tr. 82].
Hợp đồng theo quy định tại Điều 1305 Bộ luật Dân sự Phi-lip-pin là "Sự
thống nhất ý chí giữa các bên, theo đó, mỗi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn
trọng bên kia để chuyển giao vật hoặc thanh toán dịch vụ cho bên kia" [3, tr. 82].
20