Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài - Pdf 33

TRƯỜNG
HỌC
LỜI ĐẠI
CẢM
ƠN.VINH
KHOA LUẠT

Trong quá trình tiến hành và hoàn thành khóa luận này, ngoài sự lỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô
trong khoa Luật, nhất là các thầy cô thuộc tổ Kinh tế - Quốc tế. Đặc biệt là
sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm của giảng viên
Trần Thị Vân Trà. Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành, sâu sắc tới quý thầy cô. Đồng thời tôi xin hứa sẽ tiếp tục cố
gắng trên bước đường công tác để xứng đáng với sự quan tâm dìu dắt của
quý thầy cô và cô giáo hướng dẫn.

Ngoài ra, tôi cũng mong muốn bày tỏ sự biết ơn đối với gia đình, bạn
bè đã dành cho tôi nhiều sự quan tâm ưu ái, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt công
trình nghiên cứu này.

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như tài liệu tham khảo và năng lực

Vinh, tháng 5/2011
Tác

giả


•MUC
• LUC


Phưong pháp giải quyết xung đột pháp luật trong họp đồng dân

sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam........................................................................39

2.2.1. Theo pháp luật Việt Nam...............................................................................39
2.2.2. Theo điều ước quốc tế mà Việt Nam gia tham gia hoặc ký kết.....................46
Chưong 3: Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về
giải quyết xung đột pháp luật trong họp đồng dân sự có yếu tổ nước
ngoài................................................................................................................................56

3.1. Định hướng chung..........................................................................................56
3.2. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật
trong họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.........................................................59

3.2.1. về quy định chủ thể của họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài...................59
3.2.2. về quy định căn cứ áp dụng pháp luật để giải quyết xung đột pháp
luật về năng lực pháp luật và năng lực hành vi giao kết họp đồng đối với
người nước ngoài là người không có quốc tịch và người nước ngoài có
hai hay nhiều quốc tịch khác nhau..............................................................................59

3.2.3. về quy định nguyên tắc tự do chọn luật áp dụng cho hợp đồng....................61
3.2.4.

Quy định về vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trong họp đồng 63

3.2.5................................................................................................................... về
quy định dẫn chiếu trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài.........................................64
c - Kết Luân...............................................................................................................68
Tài liêu tham khảo


và gia đình, thừa kế... đặc biệt là quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài
trong các năm qua cũng tăng lên.

Như vậy, cùng với nhịp độ phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh
tế - thương mại có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh năng động tại các quốc
gia hiện nay, đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài, trong đó phải kể đến quan hệ họp đồng dân sự có yếu tố
nước ngoài. Tình hình đó tất yếu sẽ kéo theo những hậu quả làm phát sinh
các vụ tranh chấp về các vấn đề liên quan đến họp đồng dân sự có yếu tố
nước ngoài đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời, vấn đề này chỉ có thể giải
quyết được khi có đủ cơ sở pháp lý càn thiết cho cơ quan nhà nước có đủ
thẳm quyền xem xét vụ việc.

Khác với việc giải quyết quan hệ họp đồng thông thường, việc giải
quyết quan hệ họp đồng có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến việc
chọn luật áp dụng vì nó xảy ra hiện tượng “xung đột pháp luật”. Vì vậy,
việc nghiên cứu vấn đề pháp lý về phương pháp giải quyết xung đột pháp
luật trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài hiện nay ở Việt Nam cũng
như ở các nước là điều rất cần thiết. Các phương pháp giải quyết này được
ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc gia cũng như các Điều ước quốc tế
mà các nước là thảnh viên.

Trong bối cảnh mở rộng quan hệ quốc tế theo xu hướng hội nhập của
Việt Nam hiện nay, điều cần thiết là “Phải tiếp tục củng cố, tăng cường...
2


định các quan hệ liên quan đến hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, thúc
đẩy phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời
kỳ mới. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu pháp luật của một số nước về vấn đề


Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành (thay thế Bộ luật dân sự
1995) cũng đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của một số tập thể, cá nhân
về họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài như: Thái Công Khanh với bài
nghiên cứu “Bàn về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ”, đăng trên tạp
chí Tòa án nhân dân số 6/2007; cuốn “Tư pháp quốc tế”, xuất bản năm
2007 của ThS Lê Thị Nam Giang; hay như cuốn “Tư pháp quốc tể Việt
Nam quan hệ dân sự, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài”, xuất
bản năm 2010 của TS Đỗ Văn Đại và PGS.TS Mai Hồng Quỳ. Trong các
công trình khoa học này, các tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản
về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, bàn về các khái niệm “Tư pháp quốc
tế”, “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài”...

Có thể thấy rằng, các công trình trên đây chưa có sự nghiên cứu
chuyên sâu và toàn diện về pháp luật điều chỉnh phương pháp giải quyết
xung đột pháp luật trong họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, mà chỉ
dùng lại ở việc phân tích ở một số khía cạnh các quy định của pháp luật
Việt Nam và các nước hoặc nghiên cứu chung chung về quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài. Các công trình nghiên cứu dưới góc độ lý luận hoàn
thiện pháp luật về họp đồng dân cự có yếu tố nước ngoài còn ít, chưa có
tính chất hệ thống, khái quát.
4


đó đi phân tích phương pháp giải quyết xung đột pháp luật trong họp đồng
dân sự có yếu tố nước ngoài theo pháp luật ở một số quốc gia và liên hệ với
Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích, so sánh phương pháp giải quyết xung đột pháp
luật ở một số nước với phương pháp giải quyết ở Việt Nam, nêu lên những


5. Đổi tượng và phương pháp nghiên cứu.
5.1.

Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài và phương pháp giải quyết xung đột về tính họp pháp
của họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài trong pháp luật quốc gia và Điều
ước quốc tế. Nghiên cứu vấn đề lý luận để xác định tính khoa học trong
việc xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài. Nghiên cứu thực tiễn các quy định về giải quyết xung
đột pháp luật trong hợp đồng có yếu tố nước ngoài, tìm ra những điểm còn
chưa phù họp trong pháp luật Việt Nam để có hướng khắc phục cụ thể.

5.2.

Phương pháp nghiên cứu.

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -

6


phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp. Qua đây có thể khái quát hóa
hay cụ thể hóa vấn đề cho phù họp với nội dung đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.

về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở lý luận

Họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

“Họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” là thuật ngữ để chỉ khái
niệm của họp đồng trong Tư pháp quốc tế. Đây là lĩnh vực thuộc đối tượng
điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.

Họp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Như vậy, hợp đồng dân sự đó là
sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho
bên kia hoặc là sự thỏa thuận để thay đổi, chấm dứt các nghĩa vụ đó. Tổng
hợp các điều khoản mà các bên thỏa thuận là nội dung của hợp đồng, nó
xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Sự thỏa thuận đó có thể được thể
hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức: bằng văn bản, bằng lời nói hoặc
bằng hành vi cụ thể. Các chủ thể được lựa chọn hình thức họp đồng phù
hợp với ý chí của mình và quy định của pháp luật.

9


Trong Tư pháp quốc tế có sự thừa nhận chung ba loại yếu tố nước
ngoài: Thứ nhất, có ít nhất một bên chủ thể tham gia quan hệ là người nước
ngoài, pháp nhân nước ngoài hoặc Nhà nước nước ngoài. Người nước
ngoài là người không mang quốc tịch của nước sở tại, có thể là người mang
quốc tịch của quốc gia nước ngoài hoặc là người không có quốc tịch. Ví dụ
như, quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam YỚi công dân Pháp ở Việt
Nam. Thứ hai, khách thể của quan hệ này là tài sản, công việc ở nước
ngoài. Ví dụ, quan hệ thừa kế tài sản giữa hai công dân Việt Nam nhưng tài
sản đang tồn tại trên lãnh thổ Mỹ. Thứ ba, sự kiện pháp lý làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt các quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Chẳng hạn như hai
công dân Việt Nam kết hôn YỚi nhau ở Đức. Do đó, khi một quan hệ pháp

quốc tịch, hợp đồng được ký kết tại nước các bên mang quốc tịch nhưng
khách thể của hợp đồng ở nước ngoài thì việc giao kết hợp đồng này cùng
một lúc chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch và
luật của nước nơi có tài sản hoặc nơi có công việc. Theo đó, đây là hợp
đồng dân sự có yếu tố nước ngoài và thuộc lĩnh vực điều chỉnh của Tư
pháp quốc tế.

Trong đời sống quốc tế hiện nay, phát sinh ngày càng nhiều các mối
quan hệ dân sự giữa công dân và pháp nhân của nước này với công dân và
pháp nhân của nước khác và mối quan hệ này cũng trở nên đa dạng và
phong phú hơn. Nhóm quan hệ này do một ngành luật độc lập điều chỉnh là
Tư pháp quốc tế. Pháp luật về hợp đồng dân sự trong Tư pháp quốc tế là cơ
sở pháp lý cho các chủ thể này tham gia vào quan hệ được thuận lợi và đạt
được mục đích của mình khi tham gia. Do vậy, việc xác định yếu tố nước
11


1.2.

Xung đột pháp luật trong họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài

1.2.1.

Khái niêm

Mỗi quốc gia đều tự xây dựng cho mình hệ thống pháp luật riêng
nhằm khẳng định chủ quyền cũng như bảo vệ quyền lợi cho công dân nước
mình. Tuy nhiên, giữa các hệ thống pháp luật này luôn có sự khác nhau,
thậm chí là trái ngược nhau, do những nguyên nhân về điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội hay hoàn cảnh địa lý.

của hợp đồng, pháp luật Việt Nam quy định một số loại hợp đồng phải
được thể hiện dưới hình thức văn bản mới có giá trị pháp lý. Ví dụ, đối với
hợp đồng thương mại quốc tế, pháp luật Việt Nam quy định bắt buộc phải
được lập dưới hình thức văn bản, nhưng theo pháp luật Mỹ thì cho phép
bằng hình thức văn bản đối với những họp đồng có giá trị trên 500ƯSD
hoặc bằng lời nói với những hợp đồng có giá trị dưới 500ƯSD. Vậy nếu
một doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợp đồng thương mại với một doanh
nghiệp Mỹ có giá trị dưới 500ƯSD, thì khi đó hình thức của hợp đồng này
sẽ tuân theo pháp luật nước nào.

Giải quyết xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước
ngoài chính là giải quyết xung đột pháp luật về tính hợp pháp của hợp
đồng. Bởi bản chất của họp đồng là sự thỏa thuận, nhưng chỉ khi sự thỏa
thuận đó được pháp luật cho phép thì mới trở thành họp đồng được pháp
13


của một hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, như hình thức hợp đồng,
nội dung hợp đồng và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài.

Tóm lại, xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước
ngoài là hiện tượng pháp luật của hai hay nhiều quốc gia cùng có thể tham
gia điều chỉnh cho hợp đồng đó. Mà pháp luật của các nước lại có cách
hiểu không giống nhau về cùng một vấn đề. Sự khác nhau này là nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật và có liên quan trực tiếp đến
quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần
có những phương pháp hữu hiệu để giải quyết những xung đột trong lĩnh
vực này trong hoàn cảnh phát triển kinh tế đã kéo theo sự gia tăng không
ngừng mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa các công dân, pháp nhân các

hai hệ thống pháp luật của hai nước đều có thể được áp dụng điều chỉnh,
vậy sẽ áp dụng pháp luật nước nào, xung đột pháp luật đã xảy ra; hay khi
hai chủ thể có cùng quốc tịch giao kết họp đồng nhưng tài sản liên quan
đến hợp đồng lại ở nước thứ ba, xung đột pháp luật chính là pháp luật mà
các bên mang quốc tịch hay pháp luật của nước nơi đang có tài sản được áp
dụng để điều chỉnh.

Khi có một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể xuất hiện, thì
pháp luật của các quốc gia có liên quan đều có thể tham gia điều chỉnh cho
quan hệ đó, nhưng pháp luật ở các quốc gia khác nhau lại không giống
nhau, sự khác nhau này dẫn đến việc phải lựa chọn một hệ thống pháp luật
phù họp để điều chỉnh. Như vậy, sự khác nhau về hệ thống pháp luật giữa
các quốc gia trong việc điều chỉnh cùng một vấn đề liên quan đến hợp đồng
là nguyên nhân tiếp theo dẫn đến xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự
15


có sự điều chỉnh khác nhau nên dẫn đến xung đột pháp luật. Sự khác nhau
này dẫn đến xung đột pháp luật vì hệ thống pháp luật giữa các quốc gia là
ngang nhau, không có pháp luật nước nào cao hơn để bắt buộc phải được
áp dụng và cũng không có sự giống nhau về hệ thống pháp luật giữa các
nước. Bên cạnh đó, không có sự tồn tại Tư pháp quốc tế chung cho các
quốc gia, có nghĩa là không có các quy phạm có giá trị chung cho các nước.
Mỗi quốc gia sẽ có Tư pháp quốc tế riêng và tất nhiên có một hệ thống các
quy phạm xung đột đặc thù của mình được xây dựng trên nền tảng xã hội
của mỗi nước.

Trong các quan hệ pháp luật về lĩnh vực hình sự, hành chính... lại
không xảy ra xung đột pháp luật. Vì quan hệ pháp luật này mang tính chất
tuyệt đối về lãnh thổ. Nghĩa là các đạo luật thuộc các lĩnh vực này được

quy định cụ thể để giải quyết tình huống thông qua các Điều ước quốc tế
song phương hoặc đa phương. Cụ thể, đó là ban hành các quy phạm trong
đó quy định trực tiếp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia
quan hệ họp đồng. Phương pháp này được gọi là phương pháp giải quyết
xung đột thực chất, sử dụng các quy phạm thực chất để giải quyết xung đột.
Hai là, ban hành các quy phạm để chỉ ra chọn luật của nước nào trong số
những quốc gia có xung đột pháp luật để áp dụng để giải quyết, theo các
quy định của văn bản luật pháp quốc tế như Công ước, Hiệp định tương trợ
tư pháp... Phương pháp này là phương pháp xung đột, áp dụng các quy
phạm xung đột để giải quyết xung đột pháp luật trong họp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài. Đây là hai phương pháp được sử dụng trong giải quyết
xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài cũng như
trong Tư pháp quốc tế nói chung.

17


1.2.3.1. Phương pháp thực chất

Phương pháp thực chất (còn gọi là phương pháp giải quyết trực tiếp)
là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất để giải quyết
xung đột pháp luật trong họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài. Quy phạm
thực chất là quy phạm quy định sẵn các quyền và nghĩa vụ đối với các chủ
thể trong hợp đồng. Theo đó, khi các vấn đề liên quan đến hợp đồng dân sự
có yếu tố nước ngoài xảy ra, nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì
các bên chủ thể cũng như cơ quan có thẩm quyền căn cứ ngay vào đó để
xác định vấn đề cần giải quyết (việc xác định hình thức, nội dung hợp
đồng...)

Phương pháp thực chất được xây dựng trên cơ sở hệ thống các quy

những hạn chế nhất định. Các quy phạm thực chất, do tính cụ thể và trực
tiếp của nó mà đôi khi không tính hết được đến quyền, lợi ích của các
đương sự. Bên cạnh đó, phàn lớn giữa các nước có sự khác nhau về điều
kiện kinh tế, xã hội do đó việc xây dựng một quy phạm thực chất thống
nhất chung cho các quốc gia là điều không hề đơn giản, không thể thống
nhất pháp luật giữa các quốc gia cũng như đồng nhất quốc tế pháp luật của
các nước. Thêm nữa là, để đi đến thống nhất ý chí giữa các bên còn phải
tốn rất nhiều thời gian và công sức. Do những quy phạm thực chất thống
nhất có số lượng không nhiều, vì mỗi nước có những lợi ích khác nhau nên
khó cùng nhau thỏa thuận ký kết hoặc tham gia các Điều ước quốc tế hoặc
cùng sử dụng các Tập quán quốc tế. Do đó không đáp ứng được yêu cầu
điều chỉnh hết các vấn đề về họp đồng tương đối đa dạng và phức tạp. Bởi
vậy, khi không có các quy phạm thực chất thống nhất để giải quyết vấn đề

19


Phương pháp xung đột (còn gọi là phương pháp giải quyết gián tiếp)
là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột để giải quyết xung đột trong
hợp đồng, xác định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng trong việc điều
chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong tình huống
thực tế. Quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật không quy định sẵn các
quyền và nghĩa vụ đối YỚi các chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế
mà chỉ có vai trò xác định hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng.

Quy phạm xung đột gồm có phần phạm vi quy định quy phạm xung
đột này được áp dụng cho loại qua hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nào và
phàn hệ thuộc, chỉ ra luật pháp nước nào được áp dụng để giải quyết quan
hệ dân sự thuộc phàn phạm vi. Như vậy, quy phạm xung đột là quy phạm
luôn mang tính chất dẫn chiếu. Sự dẫn chiếu này là dẫn chiếu đến toàn bộ

điều chỉnh cùng một vấn đề. Do đó, việc thừa nhận quy phạm xung đột là
công cụ chủ yếu để thiết lập và bảo đảm một trật tự pháp lý trong quan hệ
dân sự quốc tế. Phương pháp xung đột giúp cho việc giải quyết xung đột
trong quan hệ họp đồng có yếu tố nước ngoài một cách thuận lợi, dễ dàng;
tránh được những tranh chấp giữa các quốc gia, gây bất ổn đến quan hệ
giữa các nước với nhau, quan trọng nhất là điều hòa được lợi ích giữa các
quốc gia.

Hạn chế của phương pháp xung đột: Do pháp luật các nước có sự
khác nhau nên việc sử dụng phương pháp xung đột để giải quyết xung đột
được xem như là giải pháp tốt nhất. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và
riêng biệt của quy phạm xung đột là không quy định rõ về quyền và nghĩa
21


thể gây khó khăn cho việc áp dụng. Lúc đó, Tòa án phải xét đến hệ thống
pháp luật nước mình để tìm ra các quy định cần thiết để giải quyết.

Bên cạnh đó, nội dung của phương pháp xung đột khá trừu tượng,
vấn đề áp dụng quy phạm xung đột lại phức tạp, vì vậy đòi hỏi phải có
chuyên môn sâu trong lĩnh vực pháp luật mới có hiểu biết được đày đủ.
Trong khi đó, đội ngũ chuyên gia luật không phải ở đâu cũng có trình độ
cao nên dễ xảy ra tính chất không nhất quán đối với cùng một vấn đề khi
giải quyết ở Tòa án có thẩm quyền tại các nước khác nhau, dẫn đến việc
các bên khi giao kết hợp đồng cần thấy trước được luật của nước nào sẽ có
khả năng áp dụng để tránh xảy ra tranh chấp.

Phương pháp xung đột còn thể hiện tính phức tạp khi áp dụng thực
hiện. Do phải thông qua khâu trung gian “chọn luật” áp dụng nên việc giải
quyết xung đột mất nhiều thời gian, khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status