ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- - - - - - LÊ QUANG MINH
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI BẰNG TÕA ÁN - NHỮNG BÀI HỌC
KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2012
Hà Nội – 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1-TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ
CÓ YTNN BẰNG TÕA ÁN ……… …… …………… …………………. 06
1.1. Khái quát về tranh chấp dân sự có YTNN …….…………………. 06
1.1.1. Khái niệm .……………………………………………….………06
1.1.2. Đặc điểm………… ……………………………………….…….14
1.1.3. Vai trò của việc giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN bằng Tòa án… 19
1.2. Cở sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN bằng
Tòa án ……………………………………………………………….……… 21
1.2.1. Điều ƣớc quốc tế …………………………………………………21
1.2.2. Tập quán quốc tế …………………………………….………… 26
1.2.3. Pháp luật quốc gia ………………………………………… … 28
1.3. Các nguyên tắc cơ bả của tố tụng dân sự quốc tế………………… 32
1.3.1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia………… … 32
1.3.2. Tôn trọng quyền miễn trừ tƣ pháp của Nhà nƣớc nƣớc ngoài và
những ngƣời đƣợc hƣởng quyền miễn trừ tƣ pháp……………………………34
1.3.3. Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng… ….36
1.3.4. Nguyên tắc có đi có lại cùng có lợi………………………………38
2.1.4.2. Nội dung Công ƣớc…………………………………… …… 60
2.1.4.3. Những tác động khi tham gia công ƣớc…….…………… ….65
2.2. Giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN bằng Tòa án theo pháp luật
một số nƣớc……………………………………………………………… ….66
2.2.1. Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN của CH Pháp… 66
2.2.1.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN của Pháp 66
2.2.1.2. Áp dụng pháp luật nƣớc ngoài của Toà án Cộng hoà Pháp…….72
2.2.1.3. Tƣơng trợ tƣ pháp ở Cộng hoà Pháp……………………….… 74 2.2.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN ở Hoa Kỳ….76
2.2.2.1. Hệ thống Toà án liên bang Hoa Kỳ…………………………….77
2.2.2.2. Hệ thống Toà án tiểu bang…………………………… ………80
2.2.2.3. Vấn đề xung đột thẩm quyền và áp dụng pháp luật…… ….….82
2.2.3. Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài của
Cộng hoà Liên bang Nga………………………………………… ………….84
2.2.3.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN của Toà án
Liên bang Nga……………………………………………………… …….… 85
2.2.3.2. Áp dụng pháp luật nƣớc ngoài và TTTP của Liên bang Nga… 89
2.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam………… ………….…90
2.3.1. Khi đàm phán ký kết, gia nhập các Điều ƣớc quốc tế song phƣơng
và đa phƣơng về tố tụng dân sự quốc tế……………………….…………… 90
2.3.2. Khi ban hành hay sửa đổi các văn bản pháp luật quốc gia……….91
2.3.3. Cơ chế triển khai trên thực tiễn……………………….………… 93
CHƢƠNG 3 – GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC
NGOÀI TẠI TÕA ÁN VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP….……………… 94
3.1. Pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN tại Toà án ….94
3.1.1.Thẩm quyền xét xử tranh chấp dân sự có YTNN của Toà án Việt Nam 94
3.1.1.1. Ở Cấp độ quốc tế………………… ……………………….… 95
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS : Bộ luật dân sự
YTNN : Yếu tố nƣớc ngoài
TTTP : Tƣợng trợ tƣ pháp
UTTP : Ủy thác tƣ pháp DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tòa án ngạch tƣ pháp của Cộng Hòa
Pháp
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức hệ thống tòa án Liên Bang Hoa Kỳ
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống tòa án Việt Nam MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay việc công dân các nƣớc định cƣ, sinh sống, học tập và lao động ở
nƣớc ngoài hay có quan hệ dân sự, thƣơng mại với bên nƣớc ngoài là rất phổ biến. Sự
giao thoa giữa các luồng giao dịch dân sự có yếu tố nƣớc ngoài này ngày càng đa
dạng, dẫn đến các tranh chấp phát sinh cũng gia tăng theo tỷ lệ tƣơng ứng.
Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân, tổ chức
mình khi tham gia vào các quan hệ tố tụng có yếu tố nƣớc ngoài, đồng thời đảm bảo sự
bình đẳng, công khai, minh bạch cho ngƣời nƣớc ngoài khi tham gia tố tụng tại các cơ
quan tài phán của nƣớc mình, các quốc gia phải ban hành các đạo luật về tố tụng dân
Việc Quốc hội Việt Nam ban hành BLTTDS sửa đổi bổ sung 2011 có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2012 cũng đã thể hiện đƣợc phần nào nhu cầu do Chƣơng trình
cải cách tƣ pháp nói chung mà Bộ Chính trị đã đặt ra. Tuy nhiên, khi nhìn lại các quy
định của Bộ luật về phần giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài đã cho
thấy phần này không hề có sự sửa đổi hay bổ sung gì. Do vậy nhu cầu nghiên cứu để
tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có
YTNN cũng nhƣ ý nghĩa thực tiễn của Đề tài vẫn đƣợc đặt ra.
Với những hạn chế trên đã đặt pháp luật về tố tụng dân sự Việt Nam trƣớc yêu
cầu phải sửa đổi bổ sung nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn hội nhập. Chiến lƣợc
cải cách tƣ pháp đã đƣợc Bộ chính trị thông qua và đang từng bƣớc đƣợc triển khai,
nhƣng vấn đề là đối với từng chế định pháp luật riêng biệt đều cần có những nghiên cứu
đánh giá chuyên sâu. Cụ thể pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN thì
chúng ta sửa đổi nhƣ thế nào, bổ sung những điểm gì, theo hƣớng nào để vừa đảm bảo
tính khả thi vừa đảm bảo tƣơng thích với pháp luật của nhiều nƣớc, tránh tình trạng sửa
đổi, bổ sung nhiều lần nhƣng vẫn không phát huy đƣợc hiệu quả trên thực tiễn. Chúng ta
cần chắt lọc những quy định, những mô hình hay cách thức triển khai từ những nƣớc
nào để vừa phù hợp với điều kiện của Việt Nam nhƣng vẫn đảm bảo tính pháp chế
XHCN? Đây là những câu hỏi đặt ra đòi hỏi sự nghiên cứu, phân tích kỹ lƣỡng trên cơ
sở đối chiếu với thực tiễn của các nƣớc tiên tiến và thực tế tại Việt Nam.
Xuất phát từ yêu cầu bức thiết nêu trên mà tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật
quốc tế và pháp luật nước ngoài về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước
ngoài - những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2- Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Nghiên cứu, phân tích làm rõ nét đặc thù trong giải quyết tranh
chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án, yêu cầu khách quan của việc tiếp nhận các vụ án tranh chấp dân sự quốc tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Đem lại
một cái nhìn tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài
giới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Với pháp luật Việt Nam, đề
tài cũng chỉ mới bƣớc đầu nghiên cứu các quy phạm của luật thực định và thực tiễn
thực thi để xác định những bất cập trên cơ sở đối chiếu với pháp luật các nƣớc và xu
hƣớng quốc tế qua các Điều ƣớc quốc tế, chứ chƣa có điều kiện đi sâu vào từng loại án
cụ thể cũng nhƣ đánh giá chi tiết thực tiễn vận dụng quy định về thẩm quyền của Tòa
án Việt Nam cũng nhƣ việc áp dụng pháp luật.
3- Cơ sở phƣơng pháp luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở các phƣơng pháp chung của khoa học xã
hội, nhất là phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và phƣơng pháp thống kê đồng thời kế
thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu khác của các tác giả trong và ngoài nƣớc
để làm rõ các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn sẽ đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể, góp một phần nhỏ vào
tiến trình cải cách pháp luật Tố tụng dân sự của Việt Nam đặc biệt là BLTTDS sửa đổi
2011 của Việt Nam và cơ chế triển khai hoạt động giải quyết tranh chấp dân sự có yếu
tố nƣớc ngoài tại Tòa án Việt nam.
Đƣa ra một số luận cứ cho việc gia nhập các Điều ƣớc quốc tế trong lĩnh vực tố
tụng dân sự, nhƣ:
- Công ƣớc La Hay ngày 18/3/1970 về thu thập chứng cứ ở nƣớc ngoài trong
lĩnh vực dân sự hoặc thƣơng mại;
- Công ƣớc La hay 2005 về thỏa thuận lựa chọn Tòa án;
- Công ƣớc La Hay 1965 về tống đạt ra nƣớc ngoài giấy tờ tƣ pháp và ngoài tƣ
pháp trong lĩnh vực dân sự và thƣơng mại;
- Công ƣớc Lahay ngày 05/10/1961 về miễn yêu cầu hợp pháp hóa các văn bản
nhà nƣớc;
Thúc đẩy việc ký kết các Hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp trong lĩnh vực dân sự với
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI BẰNG TÕA ÁN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1.1. Khái niệm
*Quan hệ dân sự
Quan hệ dân sự thƣờng đƣợc hiểu là quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức đƣợc
xác lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự do ý chí và bình đẳng về địa vị pháp lý. Đối
tƣợng của quan hệ dân sự là quan hệ tài sản hay quan hệ nhân thân, làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ dân sự tƣơng ứng. Trong đó quan hệ tài sản là quan hệ kinh tế - xã
hội cụ thể thông qua việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt một tài sản nhất định theo
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ quy luật giá trị. Tài sản thƣờng đƣợc hiểu
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản - là quyền trị giá đƣợc bằng tiền
và có thể chuyển giao trong giao lƣu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ. Quan hệ nhân
thân bao gồm các quan hệ nhân thân không mang tính tài sản và quan hệ nhân thân
mang tính tài sản, là những quan hệ phát sinh từ quyền dân sự gắn liền với mỗi cá
nhân, tổ chức, không thể chuyển giao cho ngƣời khác, trừ trƣờng hợp đƣợc pháp luật
quy định. Mặc dù quan hệ dân sự là quan hệ xã hội đƣợc xác lập trên cơ sở tự do ý chí,
tự nguyện thỏa thuận giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý, song để tạo sự ổn
định cho các giao lƣu dân sự, bảo vệ sự bình đẳng giữa các chủ thể luôn có những quy
định mang tính nguyên tắc trong các đạo luật của từng nƣớc để định hƣớng và điều
chỉnh các quan hệ dân sự đó. Thông thƣờng quan hệ dân sự nói chung đƣợc hiểu bao
gồm: quan hệ dân sự; hôn nhân gia đình; lao động; thƣơng mại.
Hoạt động dân sự diễn ra hàng ngày hết sức phong phú và đa dạng, đồng thời
cũng dẫn đến những tranh chấp, bất đồng không kém phần phức tạp. Khái niệm "dân
sự" thƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp là phụ thuộc vào quy định của từng
thống pháp luật của các quốc gia khác nhau cũng có thể dẫn đến tranh chấp. Bởi lẽ pháp
luật của các nƣớc khác nhau luôn có những quy định khác nhau về địa vị pháp lý của
các bên tham gia, thẩm quyền xét xử Khi một quan hệ dân sự có YTNN phát sinh thì
cũng đồng thời chỉ ra có ít nhất hai hệ thống quy phạm pháp luật của hai nƣớc có thể
cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó. Hiện tƣợng này trong khoa học Tƣ pháp quốc tế
đƣợc gọi là xung đột pháp luật.
Trên thực tế, nội dung các quy định pháp luật của các nƣớc không bao giờ trùng
hay giống nhau ngay cả khi các nƣớc đó cùng một hệ thống pháp luật, cùng một kiểu
hình thái kinh tế - xã hội. Nếu có giống nhau hay thậm chí trùng nhau trong nội dung các quy định, nhƣng do cách giải thích và áp dụng các điều khoản sẽ dẫn đến sự khác
nhau. Ví dụ nhƣ BLDS của Bỉ hầu nhƣ áp dụng toàn bộ các điều khoản của BLDS
Cộng Hòa Pháp 1804 nhƣng do cách giải thích và áp dụng không giống nhau, nên việc
áp dụng ở Bỉ và Pháp càng trở nên khác nhau.
Sự phức tạp trong việc áp dụng pháp luật để điều chỉnh cũng có thể gây ra
những trở ngại cho việc thực hiện các giao dịch dân sự cũng dẫn đến tranh chấp.
Chẳng hạn nhƣ, một hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai thƣơng nhân Anh và Pháp,
đƣợc ký kết tại Đức, hàng đƣợc xếp xuống tàu của Ấn Độ tại cảng Đan Mạch chuyển
đến Việt Nam. Vậy vấn đề đặt ra là pháp luật nƣớc nào đƣợc chọn để điều chỉnh quan
hệ hợp đồng nói trên khi phát sinh tranh chấp? Để giải quyết đƣợc tranh chấp trong khi
hợp đồng giữa các bên không có thỏa thuận về điều khoản luật áp dụng, vấn đề "chọn
luật" phải đƣợc đặt ra. Tuy nhiên, chọn luật phải dựa trên những nguyên tắc nhất định
chứ không thể tùy tiện. Xung đột pháp luật chỉ xảy ra trong quan hệ dân sự có YTNN
nên để giải quyết xung đột này Tƣ pháp quốc tế của các nƣớc đã vận phƣơng pháp đặc
thù là phƣơng pháp xung đột dựa trên nền tảng các quy phạm xung đột dẫn chiếu đến
một hệ thống quy phạm thực chất nhất định của một quốc gia để giải quyết tranh chấp.
Thực tế, đôi khi vẫn xảy ra trƣờng hợp Tòa án không chọn đƣợc Luật thực chất để áp
dụng bởi chƣa có quy phạm xung đột trong lĩnh vực đó. Lúc này Tòa án cần xem xét
hệ thống luật pháp của nƣớc mình để tìm ra các quy định cần thiết giải quyết vụ việc.
tiền đề pháp lý bắt buộc để cá nhân đó đƣợc hƣởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ
công dân đối với quốc gia mà họ có quốc tịch. Đồng thời, cá nhân đó phải chịu sự chi
phối, quản lý, tác động về mọi mặt của nhà nƣớc mà mình mang quốc tịch.
Công dân một nƣớc khi tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào cũng đòi hỏi
phải có năng lực chủ thể, tức phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy
định của nƣớc mà họ mang quốc tịch. Năng lực chủ thể của các cá nhân trƣớc tiên
đƣợc xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật mà ngƣời đó có quốc tịch.
Trong tƣ pháp quốc tế, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài là khái niệm khá cơ bản và là
dấu hiệu để phân biệt với các quan hệ dân sự khác. Khái niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc
tiếp nhận khá sớm trong khoa học pháp lý ở nƣớc ta. Ngay sau khi giành đƣợc độc lập
8/1945, trong tuyên ngôn về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày
01/01/1946, Hồ chủ tịch đã nêu rõ "làm cho các nƣớc công nhận nền độc lập của Việt
Nam, thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều " Từ đó, khái niệm "Ngƣời
nƣớc ngoài đƣợc sử dụng nhiều trong các văn bản pháp luật khác của nƣớc ta. Trong
Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 không đƣa ra định nghĩa cụ thể về ngƣời nƣớc
ngoài, nhƣng tại khoản 1 Điều 2 khi giải thích về thuật ngữ "quốc tịch nƣớc ngoài" thì
Luật có quy định: "Quốc tịch nƣớc ngoài là quốc tịch của một nƣớc khác không phải là Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Định nghĩa trên của ta cũng phù hợp với pháp
luật của nhiều nƣớc trên thế giới. Ví dụ: Luật Quốc tịch Vƣơng Quốc Anh năm 1981
định nghĩa: "Ngoại kiều là những ngƣời không phải là công dân của khối thịnh vƣợng
chung, cũng không phải là những ngƣời đƣợc nƣớc Anh bảo hộ, cũng không phải là
công dân của nƣớc Cộng hòa AiLen". Còn theo Từ điển pháp luật Anh - Việt thì "Ngoại
kiều là ngƣời mà theo pháp luật của một nƣớc, không phải là công dân của nƣớc đó.
Ngƣời này không có năng lực dân sự, chẳng hạn nhƣ không có quyền đi bầu cử".
Ngƣời nƣớc ngoài còn bao gồm cả ngƣời không quốc tịch. Theo Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 2008 thì: Ngƣời không quốc tịch là ngƣời không có quốc tịch Việt nam
và cũng không có quốc tịch nƣớc ngoài". Từ những khái niệm trên có thể thấy, khái
niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hiểu là ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài nhƣng không có
đƣợc nêu ở trên, thì quyền nhân thân phi tài sản cũng là khách thể của quan hệ này.
Khi giải quyết xung đột pháp luật phát sinh liên quan đến quyền nhân thân, các nƣớc
đều sử dụng hệ thuộc Luật nhân thân (Lex personalis) của các đƣơng sự. Ở đây cho
phép lựa chọn một trong hai phân hệ của hệ thuộc trên đó là Luật quốc tịch của chủ thể
(lex patriae) hoặc Luật nơi cƣ trú (Lex domicili). Ngoài ra xung đột pháp luật về quyền
nhân thân còn đƣợc điều chỉnh bởi Luật nơi thực hiện hành vi (Lex loci actus).
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự cũng là dấu
hiệu nhận biết quan hệ dân sự có YTNN tùy thuộc vào các biện pháp tác động đối với
quan hệ dân sự đó. Có thể hiểu một cách chung nhất về sự kiện pháp lý là những sự
kiện thực tế mà sự xuất hiện thay đổi, hay mất đi của chúng đƣợc pháp luật gắn với
việc hình thành thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật. Sự kiện thực tế chỉ xuất
hiện sự kiện pháp lý chỉ khi nào pháp luật xác định rõ điều đó.
Đối với các sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp
luật dân sự có YTNN đƣợc mỗi nƣớc quy định khác nhau, việc thừa nhận hay không
thừa nhận một sự kiện thực tế nào đó là sự kiện pháp lý đều xuất phát từ lợi ích của xã
hội, của giai cấp cầm quyền nƣớc đó. Thứ nhất, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ
dân sự có YTNN: Chẳng hạn trong trƣờng hợp các bên kết hôn có cùng quốc tịch
nhƣng lại kết hôn với nhau trƣớc cơ quan có thẩm quyền tại nƣớc mà các bên không
mang quốc tịch. Trƣờng hợp này pháp luật đƣợc áp dụng để giải quyết vấn đề liên
quan nhƣ xác định điều kiện kết hôn, nghi thức kết hôn của các bên có thể là Luật của
2 nƣớc có hữu quan. Thứ hai, sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ dân sự có YTNN:
Trên thực tế, có nhiều trƣờng hợp các bên trong quan hệ hôn nhân gia đình không còn
coi nhau nhƣ vợ chồng nhƣng chƣa muốn ly hôn với nhau. Trƣờng hợp này, ở các
nƣớc công nhận việc ly thân, pháp luật cho phép các bên ly thân với nhau trên cơ sở
quyết định của Tòa án. Việc Tòa án tuyên bố cho phép các bên ly thân là sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ hôn nhân. Theo quyết định này, hôn nhân chƣa chấm dứt
nhƣng quan hệ vợ chồng thì thay đổi. Sự thay đổi này thể hiện trong quan hệ nhân thân
và quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Khi vợ chồng quyết định chấm dứt quan hệ hôn
Châu Âu là Thụy Sỹ, Bỉ, Ý nhƣng cả 3 bộ luật đều không có khái niệm này. Riêng
Nga là có định nghĩa này trong BLDS nhƣ ở Việt Nam. Theo Điều 758 BLDS năm
2005: "Quan hệ dân sự có YTNN là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham
gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài
hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam
nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nƣớc ngoài,
phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài". Tƣơng
tự, theo khoản 2 Điều 405 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011: "Vụ việc dân sự có
YTNN là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đƣơng sự là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời
Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đƣơng sự là công
dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ
đó theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nƣớc ngoài" Trong hai văn bản khá quan trọng của Tƣ pháp quốc tế Việt nam
có quy định về quan hệ dân sự có YTNN và vụ việc dân sự có YTNN, thông thƣờng
hai khái niệm này là giống nhau, tuy nhiên trong một số trƣờng hợp nó lại khác nhau.
Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý giải quyết vụ án tranh
chấp hợp đồng tặng cho nhà giữa Nguyên đơn ông Nguyễn Trọng Nam và ông Nguyễn
Hiếu Đức quốc tịch Việt nam với bị đơn ông Nguyễn Phú Trọng cũng mang quốc tịch
Việt Nam, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Sáu và ông Nguyễn
Nam Hùng (định cƣ ở Mỹ) với nội dung: Năm 1994, bà Sáu xuất cảnh hợp pháp định
cƣ tại Hoa Kỳ, trƣớc khi đi bà Sáu giao lại nhà cho các con do ông Nguyễn Phú Trọng
đại diện. Các anh em đã làm giấy thỏa thuận với nôi dung đồng ý để cho anh Trọng
đứng tên căn nhà, nếu căn nhà bán hoặc san nhƣợng cho ngƣời khác phải đƣợc sự
đồng ý của các anh em. Giấy thỏa thuận đã đƣợc tất cả anh em ký tên và UBND
phƣờng xác nhận. Nay phát sinh tranh chấp giữa ông Nam, ông Đức với ông Trọng
[8]. Ở đây, quan hệ dân sự là quan hệ tặng cho tài sản, không có YTNN vì quan hệ này
đƣợc thực hiên giữa những ngƣời con của bà Sáu với ông Trọng. Nhƣng trong vụ án
dân sự có đƣơng sự là ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Sáu với
ông Nguyễn Nam Hùng đang định cƣ ở Mỹ, do đó theo quy định của BLTTDS 2004
gia quan hệ là ngƣời nƣớc ngoài, hoặc đang định cƣ ở nƣớc ngoài đối với quốc gia sở
tại; Sự kiện pháp lý (căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt) của quan hệ đó theo pháp
luật nƣớc ngoài hoặc phát sinh tại nƣớc ngoài; Khách thể (Chủ yếu là tài sản) liên quan
đến quan hệ đang tranh chấp đang ở nƣớc ngoài. Nói một cách tổng quát, các quan hệ
dân sự có YTNN dù ít dù nhiều đều có phạm vi liên quan vƣợt ra khỏi biên giới một
quốc gia, có liên quan tới ít nhất hai quốc gia, do vậy việc nhận biết để phân biệt nhằm
áp dụng đúng các quy phạm pháp luật điều chỉnh là một điều hết sức cần thiết. Bên cạnh những dấu hiệu vốn có của Tƣ pháp quốc tế, tố tụng dân sự quốc tế
cũng có những nét đặc trƣng. Thông thƣờng tố tụng dân sự quốc tế là quá trình tố tụng
đƣợc thực hiện trong quan hệ với Tòa án của một quốc gia nhất định. Xuất phát từ lý
luận cơ bản của Tƣ pháp quốc tế là không có một hệ thống tƣ pháp quốc tế cho mọi
quốc gia trên thế giới mà pháp luật của từng quốc gia tự định ra hệ thống các quy
phạm pháp luật đặc thù để điều chỉnh các quan hệ dân sự có YTNN liên quan. Cho nên
khi xét xử các vụ án dân sự có YTNN, thông thƣờng Tòa án chỉ áp dụng các quy định
pháp luật tố tụng của quốc gia mình. Đặc điểm này cũng cho phép phân biệt tố tụng
dân sự có YTNN với hoạt động tố tụng của các cơ quan tài phán quốc tế trong Công
pháp quốc tế. Trong luật quốc tế, các tranh chấp quốc tế đƣợc giải quyết bởi các cơ
quan tài phán quốc tế, theo một trình tự tố tụng thực sự có tính chất quốc tế do các
quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận chấp nhận hay cùng xây
dựng đƣợc thể hiện trong các Điều ƣớc quốc tế hoặc trong các thỏa thuận quốc tế.
Chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nƣớc ngoài có thể là ngƣời
nƣớc ngoài (Ngƣời không mang quốc tịch nƣớc sở tại), ngƣời trong nƣớc cƣ trú làm ăn
sinh sống ở nƣớc ngoài, có thể là tổ chức nƣớc ngoài, tổ chức quốc tế, thậm chí Nhà
nƣớc nƣớc ngoài. Trong số những chủ thể này bao gồm cả những bộ phận có thân phận
ngoại giao, do vậy khi tham gia quan hệ tố tụng dân sự quốc tế, những chủ thể này có
địa vị tố tụng khác biệt nhất định so với những chủ thể của quan hệ tố tụng thông thƣờng
do những quyền ưu đãi miễn trừ mà các nước hữu quan cam kết dành cho những công
dân của nhau trong quan hệ dân sự có liên quan trên cơ sở Điều ƣớc quốc tế hoặc
tính đến phải áp dụng luật nƣớc ngoài đều dẫn tời sự thủ tiêu tính khách quan, công
bằng - những nguyên tắc cơ bản của bất kỳ quy trình tố tụng nào. Hậu quả là sẽ gây khó
khăn cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân nƣớc ngoài
cũng nhƣ công dân, pháp nhân nƣớc mình ở nƣớc ngoài, bởi các hệ thống pháp luật đều
có sự khác nhau.
Tuy nhiên việc chọn luật này phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, chứ
không thể mang tính chủ quan. Điều này có ý nghĩa là việc chọn hệ thống luật nào để
áp dụng sẽ không phụ thuộc vào ý chí của Tòa án có thẩm quyền hay của các bên tham
gia quan hệ mà trên cơ sở sự cho phép của pháp luật quốc gia hoặc các Điều ƣớc quốc
tế đƣợc ký kết giữa các quốc gia. Tòa án có thẩm quyền chỉ áp dụng Luật nƣớc ngoài
khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu tới hoặc đƣợc các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Nếu quy phạm xung đột đã dẫn chiếu đến pháp luật nƣớc ngoài hoặc các bên đƣơng sự
thỏa thuận lựa chọn pháp luật để áp dụng trong khuôn khổ pháp luật cho phép thì Cơ
quan xét xử của một nƣớc không đƣợc phép tùy tiện gạt bỏ việc áp dụng pháp luật
nƣớc ngoài trừ trƣờng hợp vì mục đích bảo lƣu trật tự công cộng theo quy định của pháp luật nƣớc mình. Quy phạm xung đột ở đây có thể đƣợc chứa đựng trong luật
quốc nội của quốc gia có thể là trong các Điều ƣớc quốc tế mà quốc gia đó là thanh
viên. Trong trƣờng hợp hai nguồn trên đều chứa đựng quy phạm xung đột thì ƣu tiên
áp dụng quy phạm xung đột trong Điều ƣớc quốc tế. Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu
tới luật pháp nƣớc ngoài có nghĩa là dẫn chiếu tới toàn bộ hệ thống pháp luật của nƣớc
đó bao gồm cả quy phạm thực chất (thực chất thống nhất và thực chất thông thƣờng)
và quy phạm xung đột, không đƣợc tùy tiện loại bỏ bất cứ điều luật hay nguồn luật
nào. Do áp dụng luật nƣớc ngoài là áp dụng toàn hệ thống nên nó phải đƣợc giải thích,
xác định nội dung và áp dụng một cách thiện chí và đầy đủ để giải quyết vụ việc đúng
nhƣ ở nƣớc đã ban hành nó.
Trong một số lĩnh vực quan hệ dân sự có YTNN, pháp luật các nƣớc và cả Việt
Nam không cho phép các bên đƣơng sự lựa chọn pháp luật để áp dụng. Ví dụ trong
quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ thừa kế … Riêng trong quan hệ hợp đồng thƣơng