TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆPĐề tài:
CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRUNG
QUỐC VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM
Giáo viên hướng dẫn : THS. ĐẶNG THỊ NHÀN
Sinh viên thực hiện : NGÔ PHƯƠNG CHI
Lớp : NHẬT 1 – K38F - KTNT HÀ NỘI - 2003
1
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
1.2.6. Phát triển nghiệp vụ trung gian 28
1.2.6.1. Tính tất yếu của việc mở rộng nghiệp vụ trung gian .28
1.2.6.2. Các biện pháp phát triển nghiệp vụ trung gian 29
1.2.7. Phát triển quốc tế hoá nghiệp vụ 30
1.2.7.1. Tính tất yếu của việc quốc tế hoá nghiệp vụ 30
1.2.7.2. Chiến lược quốc tế hoá nghiệp vụ 31
1.2.8. Xây dựng chiến lược phát triển điện tử hoá 33
1.2.8.1. Xây dựng mạng liên lạc với ngân hàng nhân dân, thực hiện
kết nối việc nhận tiền gửi và trả tiền thông nhau trong cả nước 33
1.2.8.2. Xây dựng mạng lưới thanh toán điện tử trong cả nước 34
1.2.8.3. Từng bước xây dựng hệ thống mạng lưới dịch vụ khách
hàng tổng hợp 34
1.2.8.4. Hoàn thiện mạng thông tin quản lý nội bộ 35
1.2.8.5. Từng bước xây dựng mạng lưới nghiệp vụ quốc tế 35
3
1.2.8.6. Căn cứ vào tình hình tiền vốn, từng bước xây dựng hệ
thống
ngân hàng thương mại 36
2. Đối với các NHTM có vốn đầu tư nước ngoài 36
2.1. Khái quát tình hình phát triển của các ngân hàng có vốn ĐTNN 36
2.2. Chiến lược mở cửa cho các ngân hàng có vốn ĐTNN 38
III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ CẢI CÁCH HỆ THỐNG NHTMTQ40
1. Về cơ cấu lại tổ chức 41
2. Về cơ chế vận hành 41
3. Về cơ cấu lại tài chính 42
4. Về cơ cấu lại hoạt động ngân hàng 44
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VN 47
I. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG NHTM VN HIỆN NAY 47
II. HIỆN TRẠNG CỦA CÁC NHTM VN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 48
1. Những thành tựu, kết quả đạt được 48
2. Cơ cấu lại tổ chức 78
3. Cơ cấu lại tài chính 80
3.1. Mở rộng qui mô vốn, đảm bảo an toàn về vốn 80
3.2. Các biện pháp giải quyết nợ xấu 82
3.3. Giải pháp cân đối tỷ giá - lãi suất - cơ cấu tiền tệ 85
5
4. Cơ cấu lại hoạt động ngân hàng 86
4.1. Đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh 86
4.1.1. Huy động vốn 86
4.1.2. Tín dụng 88
4.1.3. Kinh doanh trên thị trường ngoại hối 90
4.1.4. Kinh doanh trên thị trường mở 93
4.2. Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ 94
4.3. Nâng cao năng lực quản trị, điều hành 97
5. Những giải pháp cho quá trình hội nhập quốc tế của các NHTM 98
Kết luận 101
Phụ lục 102
Tài liệu tham khảo 104
6
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế
đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh với nhiều hình thức khác nhau, không
thể có một quốc gia nào tự tách mình ra khỏi tiến trình chung đó. Nền kinh tế
nước ta có khoảng thời gian 15 năm chuyển sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN và đã thu được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt.
Ngành ngân hàng Việt Nam mà đặc biệt là hệ thống Ngân
hàng Thương mại Việt Nam trong bối cảnh đó, đã tiếp cận khá nhanh với các
hình thức kinh doanh hiện đại, đã được củng cố chấn chỉnh, đang trong quá
trình hoàn thiện và phát triển. Tuy nhiên cũng còn không ít khó khăn, tồn tại,
yếu kém cần phải tiếp tục chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại.
Sau năm 1978, theo chương trình cải cách kinh tế chuyển đổi cơ chế
quản lý tập trung cao độ sang cơ chế quản lý có mức tự do hoá và phân cấp
quản lý cao hơn, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây Dựng và Ngân
hàng Trung Hoa được tách riêng khỏi hoạt động của ngân hàng Trung ương.
Việc tách riêng các hoạt động ngân hàng xuất phát từ ý tưởng cho rằng một hệ
thống phân cấp quản lý cao hơn sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Mỗi ngân hàng
theo sự chỉ định sẽ cung cấp dịch vụ cho một ngành nhất định của nền kinh tế.
Quan điểm này ngăn cản sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và buộc các khách
hàng- nông dân, các doanh nghiệp công nghiệp và các công ty thương mại
hoặc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài- trong từng ngành phải giao dịch
với một ngân hàng chuyên doanh.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Trung quốc bao gồm nhiều ngân hàng
khác nhau. Dưới Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (ngân hàng trung ương) là
các ngân hàng chuyên doanh lớn sau:
1. Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc
8
2. Ngân hàng Trung Quốc
3. Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc
4. Ngân hàng Công Thương Trung Quốc
5. Ngân hàng Bưu điện
6. Ngân hàng Phát triển Quốc doanh
7. Ngân hàng Xuất Nhập khẩu
8. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp
Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa là ngân hàng trung ương của Trung
Quốc có ba hệ thống chi nhánh theo khu vực hành chính. Ngân hàng Nhân dân
Trung Hoa là tổ chức cấp bộ tương đương Bộ Tài Chính, chịu trách nhiệm xây
dựng và thực hiện các chính sách tiền tệ và lãi suất; giám sát các ngân hàng,
các tổ chức tài chính phi ngân hàng, các công ty bảo hiểm; kiểm tra phê chuẩn
việc thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức tài chính.
Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc được thành lập vàp năm 1955,
với sự cạnh tranh đan xen về dịch vụ giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt,
phạm vi nghiệp vụ của ngân hàng Công thương Trung Quốc mở rộng hơn nữa,
theo hướng tổng hợp hoá, như đã đảm nhiệm dịch vụ cho các doanh nghiệp ở
hương trấn, nghiệp vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ ngoại hối , đồng
thời thành lập các ngân hàng chi nhánh ở nước ngoài.
Ngân hàng Trung Quốc được thành lập vào năm 1908 và đã hoạt
động với tư cách là ngân hàng trung ương của Trung Quốc trong thời gian 40
năm dưới hình thức góp vốn nhà nước và tư nhân, trong đó sở hữu nhà nước
chiếm đa số. Từ năm 1949, Ngân hàng Trung Hoa chủ yếu tập trung vào
nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Ngân
hàng này có chi nhánh ở tất cả các tỉnh, thành phố, huyện và hoạt động với
một hệ thống chi nhánh và đại lý trên toàn cầu.
10
Ngân hàng Bưu điện được tái lập vào năm 1986 sau 38 năm ngừng
hoạt động ở đại lục. Là một ngân hàng cổ phần trong đó cổ đông chính là
chính quyền trung ương và địa phương. Quy mô kinh doanh của Ngân hàng
Bưu điện không hạn chế chỉ trong ngành thương mại, do đó ngân hàng này đã
cung cấp dich vụ tài chính trên toàn thế giới. Là một Ngân hàng đa năng, Ngân
hàng Bưu điện có lợi thế cạnh tranh hơn so với bốn ngân hàng chuyên doanh
chỉ được kinh doanh theo các chức năng được quy định cho tới giữa thập niên
90.
Từ cuối thập niên 80, nhiều ngân hàng thương mại địa phương đã
được thành lập và đặt tại các tỉnh hoặc các đặc khu kinh tế như: Ngân hàng
Phát triển Quảng Đông, Ngân hàng Thương mại Trung Quốc, Ngân hàng phát
triển Thâm Quyến và Ngân hàng phát triển Phố Đông. Gần đây, các ngân hàng
nước ngoài đã không ngừng mở cửa chi nhánh hoạt động và văn phòng ở
Trung Quốc. Các chi nhánh này được phép tham gia các hoạt động kinh doanh
ngoại tệ ở Trung Quốc và gần đây, một số ngân hàng nước ngoài được phép
tham gia các hoạt động ngân hàng liên quan tới đồng NDT. Một số các ngân
hàng tư nhân cũng được phép hoạt động tại Trung Quốc. Ngân hàng Dân Sinh
hàng kiểu mới có cơ chế kinh doanh tự chủ, tự chịu lỗ lãi, tự gánh vác rủi ro,
tự cân bằng nguồn vốn từng bước được hình thành như Ngân hàng phát triển
Quảng Đông, Ngân hàng hưng nghệp Phúc Kiến, Ngân hàng thực nghiệm
Trung Tín, Ngân hàng Quang Đại Trung Quốc, Ngân hàng Hoa Hạ, Ngân hàng
Dân Sinh Trung Quốc, Ngân hàng phát triển Hải Nam… Mặc dù những
NHTM này vẫn khó có thể so sánh với NHTM QD về các mặt quy mô tiền
vốn, số lượng cơ cấu và tổng số nhân viên , nhưng tốc độ tăng trưởng tiền
vốn và lãi suất của nó đã cao hơn NHTM QD, tốc độ tăng tiền gửi là 77%
trong giai đoạn 1999-2001, tốc độ tăng vốn cho vay là 42% trong cùng kỳ (so
với 21% của NHTM QD)
2
. Cho thấy sức kinh doanh tương đối mạnh, tình
hình phát triển nhanh và hiệu quả kinh doanh tốt, đã trở thành một đội quân
1
Các số liệu lấy từ nguồn: Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
2
Các số liệu lấy từ nguồn: Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
12
sinh lực của hệ thống NHTM Trung Quốc và trong sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống NHTM Trung Quốc
không tránh khỏi phải đối mặt với những mặt còn tồn tại và những thách thức
mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Các NHTM ngoài việc phải
cạnh tranh khốc liệt trên phương diện tiền vốn, thì sự cạnh tranh trên phương
diện phi tiền tệ cũng rất khốc liệt. NHTM Trung Quốc trước đây triển khai
tương đối ít các dịch vụ về phương diện phi tiền tệ, cùng với việc tăng cường
thể chế quản lý và từng bước pháp luật hóa ngành ngân hàng, thu lợi nhuận
thông qua chênh lệch lãi suất cũng ngày càng khó khăn. Vì vậy, cạnh tranh
chính. Năm 1999, tổng số nợ khó đòi 169 tỷ USD của 4 ngân hàng quốc doanh
(ngân hàng Công thương, ngân hàng Xây dựng, ngân hàng Trung Quốc, ngân
hàng Nông nghiệp) đã được chuyển cho 4 công ty quản lý tài sản của Chính
phủ Trung Quốc (AMSc). Sau đó, bốn AMSc đã phát hành 141 tỷ USD tiền
trái phiếu và bù 28 tỷ USD tiền mặt. Đồng thời NHTƯ đã yêu cầu các ngân
hàng lớn nhất giảm tín dụng xấu từ mức 25%- 30% tổng dư nợ hiện nay xuống
còn 15% vào năm 2005
3
. Ngoài ra Thông tư ngày 24 tháng 4 năm 2002 của
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã yêu cầu tất cả các ngân hàng phải đưa ra
những quy định hạn chế nợ xấu đến năm 2005 để tránh mối đe doạ xảy ra
“khủng hoảng tài chính” và khuyến khích các ngân hàng áp dụng tiêu chuẩn
cân đối vốn quốc tế. Hơn nữa, NHTƯ cũng yêu cầu các ngân hàng phải giảm
tỷ lệ nợ không hoạt động (NPL) khoảng 3% mỗi năm. Hiện tại, số nợ không
hoạt động của 4 NHTM QD lớn là 25,37% vào thời điểm đầu năm 2002, sau
khi giảm được 3,81% trong một năm
4
.
3
Các số liệu tham khảo từ: Far Eastern Economic Review 14/11/2002
The Economist 25/11/2002
Business Week 25/11/2002
4
Theo Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ 15/10/2003
14
Bng 1: N khú ũi mc nh tớnh theo t l phn trm tng s n
trong cỏc cuc khng hong ngõn hng
1.1.2. Khú khn trong vic ct gim nhõn viờn
Thailand
2002
China
2002
Srilanca
89-93
Malaysia
85-88
South
Korea 97-
99
Japan 90s
Nguồn: Các thị trờng đang trỗi dậy CLSA
15
1.1.3. Chất lượng tài sản kém, tỷ lệ an toàn vốn thấp
Thực hiện quản lý tỉ lệ tiền vay và chất lượng tiền vốn tín dụng ngày
càng xấu đi, tỉ lệ đủ vốn thấp là bài toán khó, tồn tại phổ biến của NHTM
Trung Quốc. Quản lý tỉ lệ tiền vay là quản lý kinh doanh toàn diện lấy nguyên
tắc đối xứng giữa tiền vốn và tiền vay làm cơ sở, từ góc độ kết hợp tiền vốn và
tiền vay. Thông qua việc đặt ra hàng loạt chỉ tiêu tỉ lệ, từ khống chế duy trì sự
cân đối trong kết cấu tổng lượng giữa nguồn vốn với tiền nợ nhằm quy phạm
hành vi kinh doanh của cơ quan tài chính, từ đó bảo đảm sự điều tiết linh hoạt
và năng lực chi trả đầy đủ của tiền vốn, bảo đảm sự cân đối giữa tính an toàn,
tính lưu động và tính lợi nhuận của tiền vốn thống nhất với việc thực hiện mục
tiêu và nguyên tắc cơ bản này. Nó là phương thức và biện pháp quan trọng
quản lý hiện đại hoá NHTM. Nhưng xét từ tình hình thực tế ở Trung Quốc
trong thời gian gần đây cho thấy, việc thực hiện quản lý tỉ lệ tiền vốn và tiền
vay một cách quy củ còn gặp rất nhiều khó khăn. Ở các nước khác, tỷ lệ của
vốn cho vay/ tiền gửi tại các NHTM nhà nước thường không vượt quá 50%.
Nhưng tại Trung Quốc, tỷ lệ này đã đạt quá 70%
sinh hàng loạt vấn đề. Sự sụp đổ của mấy quỹ tín dụng lớn năm 1996, sự sụp
đổ của ngân hàng Thác Trực-Đảo Hô Cai Đô -Nhật Bản vào tháng 11 năm
1997 và sự sụp đổ của công ty chứng khoán Nhật Bản lớn-Công ty chứng
khoán Sơn Nhất đều là những ví dụ mới nhất về rủi ro tài chính. Vấn đề tài
chính nghiêm trọng xuất hiện ở NHTM 100% vốn nhà nước trong thời gian
gần đây đã chứng tỏ điều này. Cùng với việc xây dựng cơ cấu kinh doanh mới,
NHTM CP sử dụng các biện pháp có lợi, tìm mọi cách thu hồi các khoản nợ
cũ, luân chuyển lượng vốn tồn đọng, tích cực điều chỉnh kết cấu, ưu hoá chất
lượng tiền vốn khiến cho kết cấu lâu dài và ngắn hạn của tiền vốn cho vay tín
dụng cũng như phương hướng kết cấu ngành ngân hàng có được sự điều chỉnh
phân bố hợp lý. Nhìn từ tổng thể, thực lực kinh doanh của NHTM còn chưa đủ
hùng hậu, trình độ quản lý kinh doanh hiện đại hoá chưa cao, nhiệm vụ ưu hoá
nguồn vốn còn rất nặng nề. Điều đó không chỉ không tương xứng với địa vị
của NHTM khi tham gia vào sự vận hành của thị trường, mà còn ảnh hưởng
đến việc phát huy ưu thế tổng thể, làm yếu đi chức năng dịch vụ. Mặc dù
NHTM đã thành lập ban ngành bảo toàn tiền vốn, nhưng do về căn bản mà nói,
mấu chốt thực sự của việc luân chuyển tiền vốn là ở chỗ cải cách thể chế, tức
là làm như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của cải cách doanh nghiệp lại đảm
bảo được quyền lợi hợp pháp của ngân hàng.
17
1.1.4. Khó loại bỏ tận gốc sự can thiệp hành chính, các NHTM CP đang ở
trong thế bị cạnh tranh không lành mạnh
Sự can thiệp của chính quyền các cấp tới NHTM khó mà loại bỏ
được tận gốc ở đầu thế kỉ 21. Chính quyền các cấp muốn “lập thành tích hành
chính” thì phải phát triển kinh tế, nâng cao trình độ kinh tế của địa phương
mình và cả quốc gia. Vậy, tiền phát triển lấy ở đâu? Hiện nay chủ yếu lấy từ
ngân hàng. Đặc biệt đối với chính quyền địa phương, dùng tiền của NHTM
QD vào phát triển kinh tế địa phương mình, đối với địa phương chỉ có lợi chứ
hoàn toàn không có hại. Vì dù không thu về được khoản vay của NHTM QD,
thì cũng là việc của riêng ngân hàng hay là việc của cả một quốc gia. Nhưng
vài đơn vị nào đó phải đến gửi tiền tại NHTM QD và quy định đơn vị chỉ có
thể mở một tài khoản gốc tại một ngân hàng, tất cả những điều này khiến cho
NHTM CP rơi vào thế cạnh tranh bất lợi.
1.1.5. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thấp
Tối đa hoá lợi nhuận là động cơ và mục đích cơ bản trong kinh
doanh của NHTM, hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát và quy tụ trong hoạt
động kinh tế của nó. Vậy nên, xuyên suốt quá trình quyết sách cho vay vốn và
quá trình quản lý là sự vận hành tiền tệ lấy việc hạ thấp và phòng chống rủi ro
cho vay làm mục tiêu, lấy nâng cao lợi ích kinh tế làm nòng cốt, tăng cường
quản lý tín dụng nhằm bảo đảm sự chính xác và đạt hiệu quả cao, đây không
chỉ là yêu cầu khách quan của quy luật vận động tiền tệ tín dụng, mà còn là
yêu cầu nội tại trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng. Có thể nói,
thiết thực hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tiền tín dụng là một bài
toán khó mà NHTM Trung Quốc gặp phải đầu thế kỉ 21. Theo các tài liệu
thống kê có liên quan, 1/3 lượng tiền cho vay tín dụng của NHTM QD không
thu hồi lại được. Ước tính rằng cần có khoảng 300-400 tỷ NDT (36- 48 tỷ
USD) mỗi năm trong vòng 10 năm để tăng mức dự phòng rủi ro tín dụng lên
19
50%, trong đó Chính phủ phải đóng góp khoảng 2/3, phần còn lại được huy
động ở thị trường chứng khoán và mua bán nợ
8
. Chất lượng tiền tín dụng thấp,
rủi ro lớn, một mặt gây ra bởi những nguyên nhân như: quản lý tiền tín dụng
của ngân hàng thiếu cơ chế hạn chế và ràng buộc trách nhiệm có hiệu quả, xem
nhẹ quản lý, thu hồ, coi trọng cho vay; mặt khác, chịu sự quản lý của các
doanh nghiệp có quan hệ huyết thống với ngân hàng. Vì chất lượng tiền và
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng
vốn và hiệu quả kinh tế của ngân hàng, tình hình vận hành của doanh nghiệp
quyết định trực tiếp tới hiệu quả vận hành của tiền tệ. Mô hình sản xuất của
doanh nghiệp đầu tư nhiều, hiệu quả thấp, làm cho tiền tín dụng rất khó lưu
thị trường phải định vị và thiết lập các cơ quan chi nhánh theo xu hướng của
thị trường và khu vực thị trường. Nhưng hiện nay thể chế và biện pháp quản lý
này rất khó thay đổi trong thời gian ngắn.
(1). Về việc thiết lập điểm mạng. Hiện nay điểm mạng cơ sở của
NHTM 100% vốn nhà nước đều thiết lập theo khu hành chính, mang đậm sắc
thái cơ quan, mặc dù mấy năm gần đây đã áp dụng nhiều biện pháp, việc cải
cách cơ cấu đã đóng cửa và sáp nhập một số chi nhánh, song vẫn gặp phải cản
trở rất lớn, tình hình này càng nghiêm trọng hơn ở đầu thế kỉ 21.
(2). Về vấn đề đơn vị hạch toán kế toán. Lấy ngân hàng chi nhánh
cấp huyện là đơn vị hạch toán độc lập là cách làm của NHTM QD trong mấy
chục năm nay, vấn đề lớn nhất của cách làm này là không xét đến thực lực
kinh tế, không xét đến trình độ phát triển kinh tế các khu vực khác nhau, các
ngành nghề khác nhau và sự khác biệt về môi trường bên ngoài, bất lợi cho
việc huy động tính tích cực của ngân hàng đại diện các cấp, bất lợi cho việc
nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn ngành.
1.1.7. Thiếu kinh nghiệm cạnh tranh quốc tế
Cùng với việc mở cửa hơn nữa thị trường tài chính ở Trung Quốc,
NHTM Trung Quốc ngoài việc phải cạnh tranh khốc liệt với các cơ quan tài
chính khác ở trong nước, còn phải đứng trước thách thức của các cơ quan tài
21
chính nước ngoài trong khi tham gia cạnh tranh quốc tế. Về phương diện này,
rõ ràng ngân hàng thương mại Trung Quốc ở thế yếu, chủ yếu thể hiện ở:
(1) Ngoài ngân hàng Trung Quốc (chiếm 80% khu vực tài chính hải
ngoại của Trung Quốc, 40% thanh toán thương mại quốc tế và 85% thanh toán
bù trừ ngoại hối
9
), thời gian trong ngành ngoại hối của các ngân hàng thương
mại 100% vốn nhà nước khác tương đối ngắn, thiếu kinh nghiệm làm quen với
các ngân hàng nước ngoài, vì vậy mà tương đối xa lạ với thông lệ đặt giá tham
khảo trong nghiệp vụ ngân hàng, công nghệ và quản lý trên quốc tế cũng là
tài chính đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản là China Orient, China
Huarong, China Cinda và China Great Wall. Từ năm 1999, Nhà nước đã mua
lại 1,39 tỷ NDT nợ xấu, chiếm khoảng 20% của tổng số nợ vào thời điểm đó,
các khoản nợ không hoạt động được chuyển cho 4 công ty quản lý tài sản, mỗi
công ty liên đới với một trong bốn ngân hàng lớn và những công ty này có
khoảng 10 năm để giải quyết hết các món nợ
11
. Theo các quy định của hệ
thống ngân hàng Trung Quốc hiện nay, các ngân hàng không được phép cơ cấu
lại các khoản vốn cho vay và chuyển quyền của các chủ tín dụng sang các nhà
đầu tư khác. Việc này dẫn đến người vay vốn chỉ có hai lựa chọn: hoặc thanh
toán đầy đủ các khoản nợ của mình, hoặc thanh toán nợ bằng cách phá sản khi
đã hoàn toàn không còn khả năng hoạt động. Trong trường hợp China
Huarong, công ty này đã giải quyết 31 tỷ NDT nợ khó đòi tính đến cuối năm
2001. Trong số tài sản mà China Huarong phục hồi được có hơn 80% là thông
qua việc cơ cấu lại nợ, trong đó chỉ có dưới 3% là thông qua phá sản
12
. Ngoài
ra, theo báo cáo tổng tỷ lệ thu hồi trong năm 2002 là khoảng 50% và tỷ lệ thu
hồi bằng tiền mặt chiếm khoảng 20%. Tuy nhiên nếu so sánh với tổng các món
vay thì số nợ thu hồi trong năm 2001 chỉ khoảng 5,5% (xem bảng dưới), do đó
việc tham gia của các đối tác nước ngoài là hết sức cần thiết để đẩy nhanh quá
trình giải quyết các món nợ xấu. Công ty quản lý tài sản China Orient đã bán
món nợ 217 triệu USD đầu tiên của họ cho một nhà đầu tư nước ngoài vào
10
Theo Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ 15/10/2003
11
Theo Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ 15/10/2003
12
USD)
32,8
50,1
45,9
42,6
171,4
Số nợ đã xử lý
trong năm 2001
(tỷ USD)
2,2
2,8
3,6
0,8
9,4
Tỷ lệ nợ đã xử
lý trên tổng số
nợ
6,7%
5,6%
N/ATổng lượng thu
hồi trong năm
2001 (tỷ USD)
1,0
1,5
1,5
N/ATỷ lệ thu hồi
trong năm 2001
46,4%
54%
34,4%
N/ATỷ lệ thu hồi
tiền mặt trong
năm 2001
tiền gửi và cho vay. Kết quả: một là, tiền vốn của ngân hàng vận hành phân
tán, tiền vay của vô số ngân hàng cơ sở phân tán ở muôn vàn doanh nghiệp
nhỏ, làm cho việc quản lý tiền cho vay trở nên rất khó khăn, tăng cường đầu tư
lượng lớn nhân lực, vật lực là một trong những nguồn gốc chủ yếu tạo nên
hiện tượng tăng giá thành của ngân hàng và nợ không đòi được; hai là, sự can
thiệp của chính quyền địa phương, yêu cầu ngân hàng cho những công trình
không có hiệu quả hoặc hiệu quả không rõ rệt vay tiền, ngân hàng cơ sở không
có năng lực cũng như các biện pháp để ngăn chặn, cũng là nguyên nhân quan
trọng tạo thành khoản nợ không thể đòi lại.
Vì vậy, đồng thời với việc thu nhỏ và điều chỉnh kết cấu, công chức,
ngân hàng thu hẹp một cách thích đáng quyền cho vay tiền của ngân hàng cơ
sở lên ngân hàng cấp trên cũng có thể coi là biện pháp quan trọng hiện nay
nhằm giảm bớt rủi ro, nâng cao chất lượng tiền vốn trong ngân hàng. Cụ thể,
để giảm tỷ trọng của vốn cho vay không hoạt động và giảm lỗ, các NHTM QD
đã tăng cường công tác quản lý pháp nhân và một trong những biện pháp là rút
quyền của các chi nhánh cấp dưới trong việc mở rộng vốn cho vay. Do vậy,
một bộ phân đáng kể các chi nhánh địa phương đã cho thấy thực tế là tỷ lệ vốn