CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC (NHTM TQ) - Pdf 75

Cải cách hệ thống Ngân hàng thơng mại Trung Quốc
(NHTM TQ)
I. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của hệ thống
NHTM TQ
Trớc khi thành lập nớc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm
1949, hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm ngân hàng Trung ơng
(NHTƯ), ba ngân hàng thơng mại lớn là Ngân hàng Bu điện, Ngân hàng Nông
nghiệp, Ngân hàng Trung Hoa, một số các ngân hàng và các tổ chức tài chính
nhỏ độc lập khác. Năm 1949, ba NHTM lớn này đã đợc sáp nhập hoặc liên kết
với ngân hàng Trung ơng là ngân hàng chủ đạo cung cấp phần lớn dịch vụ
ngân hàng ở Trung Quốc cho tới năm 1978.
Sau năm 1978, theo chơng trình cải cách kinh tế chuyển đổi cơ chế
quản lý tập trung cao độ sang cơ chế quản lý có mức tự do hoá và phân cấp
quản lý cao hơn, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây Dựng và Ngân
hàng Trung Hoa đợc tách riêng khỏi hoạt động của ngân hàng Trung ơng. Việc
tách riêng các hoạt động ngân hàng xuất phát từ ý tởng cho rằng một hệ thống
phân cấp quản lý cao hơn sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Mỗi ngân hàng theo sự
chỉ định sẽ cung cấp dịch vụ cho một ngành nhất định của nền kinh tế. Quan
điểm này ngăn cản sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và buộc các khách hàng-
nông dân, các doanh nghiệp công nghiệp và các công ty thơng mại hoặc các
công ty có vốn đầu t nớc ngoài- trong từng ngành phải giao dịch với một ngân
hàng chuyên doanh.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Trung quốc bao gồm nhiều ngân hàng
khác nhau. Dới Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (ngân hàng trung ơng) là các
ngân hàng chuyên doanh lớn sau:
1. Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc
2. Ngân hàng Trung Quốc
3. Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc
4. Ngân hàng Công Thơng Trung Quốc
5. Ngân hàng Bu điện
6. Ngân hàng Phát triển Quốc doanh

các địa phơng có nhiệm vụ xây dựng khá tập trung và địa phơng sở tại có hạng
mục trọng điểm.
Ngân hàng Công thơng Trung Quốc đợc tách khỏi ngân hàng Trung -
ơng năm 1984. Ngân hàng Công thơng Trung Quốc chủ yếu kinh doanh tài
chính ở thành phố, phục vụ cho doanh nghiệp công thơng, các cơ quan đoàn
thể và c dân thành thị, nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ sản xuất công nghiệp, mở
rộng lu thông hàng hoá, hỗ trợ ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy tiến bộ và cải
tạo khoa học kĩ thuật, phục vụ cho việc xây dựng kinh tế. Cùng với sự cạnh
tranh đan xen về dịch vụ giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, phạm vi
nghiệp vụ của ngân hàng Công thơng Trung Quốc mở rộng hơn nữa, theo hớng
tổng hợp hoá, nh đã đảm nhiệm dịch vụ cho các doanh nghiệp ở hơng trấn,
nghiệp vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ ngoại hối..., đồng thời thành lập
các ngân hàng chi nhánh ở nớc ngoài.
Ngân hàng Trung Quốc đợc thành lập vào năm 1908 và đã hoạt động
với t cách là ngân hàng trung ơng của Trung Quốc trong thời gian 40 năm dới
hình thức góp vốn nhà nớc và t nhân, trong đó sở hữu nhà nớc chiếm đa số. Từ
năm 1949, Ngân hàng Trung Hoa chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ nhận tiền
gửi, cho vay bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Ngân hàng này có chi nhánh
ở tất cả các tỉnh, thành phố, huyện và hoạt động với một hệ thống chi nhánh và
đại lý trên toàn cầu.
Ngân hàng Bu điện đợc tái lập vào năm 1986 sau 38 năm ngừng hoạt
động ở đại lục. Là một ngân hàng cổ phần trong đó cổ đông chính là chính
quyền trung ơng và địa phơng. Quy mô kinh doanh của Ngân hàng Bu điện
không hạn chế chỉ trong ngành thơng mại, do đó ngân hàng này đã cung cấp
dich vụ tài chính trên toàn thế giới. Là một Ngân hàng đa năng, Ngân hàng Bu
điện có lợi thế cạnh tranh hơn so với bốn ngân hàng chuyên doanh chỉ đợc
kinh doanh theo các chức năng đợc quy định cho tới giữa thập niên 90.
Từ cuối thập niên 80, nhiều ngân hàng thơng mại địa phơng đã đợc
thành lập và đặt tại các tỉnh hoặc các đặc khu kinh tế nh: Ngân hàng Phát triển
Quảng Đông, Ngân hàng Thơng mại Trung Quốc, Ngân hàng phát triển Thâm

tục tăng mạnh- gần 26% trong giai đoạn 1999- 2002.
1
Bên cạnh đó, các
NHTM CP cũng không ngừng phát triển về số lợng. Một loạt những ngân hàng
kiểu mới có cơ chế kinh doanh tự chủ, tự chịu lỗ lãi, tự gánh vác rủi ro, tự cân
bằng nguồn vốn từng bớc đợc hình thành nh Ngân hàng phát triển Quảng
Đông, Ngân hàng hng nghệp Phúc Kiến, Ngân hàng thực nghiệm Trung Tín,
Ngân hàng Quang Đại Trung Quốc, Ngân hàng Hoa Hạ, Ngân hàng Dân Sinh
Trung Quốc, Ngân hàng phát triển Hải Nam Mặc dù những NHTM này vẫn
khó có thể so sánh với NHTM QD về các mặt quy mô tiền vốn, số lợng cơ cấu
và tổng số nhân viên..., nhng tốc độ tăng trởng tiền vốn và lãi suất của nó đã
cao hơn NHTM QD, tốc độ tăng tiền gửi là 77% trong giai đoạn 1999-2001,
tốc độ tăng vốn cho vay là 42% trong cùng kỳ (so với 21% của NHTM QD)
2
.
Cho thấy sức kinh doanh tơng đối mạnh, tình hình phát triển nhanh và hiệu quả
kinh doanh tốt, đã trở thành một đội quân sinh lực của hệ thống NHTM Trung
Quốc và trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, hệ thống NHTM Trung Quốc
không tránh khỏi phải đối mặt với những mặt còn tồn tại và những thách thức
mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Các NHTM ngoài việc phải
cạnh tranh khốc liệt trên phơng diện tiền vốn, thì sự cạnh tranh trên phơng diện
phi tiền tệ cũng rất khốc liệt. NHTM Trung Quốc trớc đây triển khai tơng đối ít
1 Các số liệu lấy từ nguồn: Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
2 Các số liệu lấy từ nguồn: Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
các dịch vụ về phơng diện phi tiền tệ, cùng với việc tăng cờng thể chế quản lý
và từng bớc pháp luật hóa ngành ngân hàng, thu lợi nhuận thông qua chênh
lệch lãi suất cũng ngày càng khó khăn. Vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực phi
tiền tệ sẽ là trọng điểm cạnh tranh của NHTM Trung Quốc trong thế kỷ 21. Ví
dụ, về phơng diện cố vấn tài chính cho khách hàng, ngân hàng, công ty uỷ

Quốc (AMSc). Sau đó, bốn AMSc đã phát hành 141 tỷ USD tiền trái phiếu và
bù 28 tỷ USD tiền mặt. Đồng thời NHTƯ đã yêu cầu các ngân hàng lớn nhất
giảm tín dụng xấu từ mức 25%- 30% tổng d nợ hiện nay xuống còn 15% vào
năm 2005
3
. Ngoài ra Thông t ngày 24 tháng 4 năm 2002 của Ngân hàng Nhân
dân Trung Quốc đã yêu cầu tất cả các ngân hàng phải đa ra những quy định
hạn chế nợ xấu đến năm 2005 để tránh mối đe doạ xảy ra khủng hoảng tài
chính và khuyến khích các ngân hàng áp dụng tiêu chuẩn cân đối vốn quốc
tế. Hơn nữa, NHTƯ cũng yêu cầu các ngân hàng phải giảm tỷ lệ nợ không
hoạt động (NPL) khoảng 3% mỗi năm. Hiện tại, số nợ không hoạt động của 4
NHTM QD lớn là 25,37% vào thời điểm đầu năm 2002, sau khi giảm đợc
3,81% trong một năm
4
.
Bảng 1: Nợ khó đòi ở mức đỉnh tính theo tỷ lệ phần trăm tổng số
nợ trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng
1.1.2. Khó khăn trong việc cắt giảm nhân viên
Công nhân viên chức trong NHTM rất nhiều, đặc biệt là NHTM QD.
Số lao động trung bình trên 415 000 ngời
5
. Ngời đông dẫn đến hiệu quả thấp,
tăng tối đa giá thành của ngân hàng. So sánh đối chiếu giữa NHTM và ngân
hàng có vốn đầu t nớc ngoài mới thành lập có rất ít công nhân viên chức, hiệu
3 Các số liệu tham khảo từ: Far Eastern Economic Review 14/11/2002
The Economist 25/11/2002
Business Week 25/11/2002
4 Theo Tạp chí Thị trờng tài chính tiền tệ 15/10/2003
5 Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
quả cao, có thể trả công nhân viên chức mức lơng khá cao, từ đó thu hút lợng

này, ngân sách nhà nớc không có tiền đầu t vào nhiều hơn nữa, làm cho tín
dụng và khả năng chống lại rủi ro của ngân hàng liên tục bị suy yếu. Mặc dù
năm 1998, Bộ tài chính đã phát hành 270 tỉ NDT
7
trái phiếu đặc biệt, làm thay
đổi đôi chút tình hình thiếu tiền vốn trong 4 NHTM QD, nhng vấn đề vẫn khá
nghiêm trọng. Hơn nữa, chất lợng tiền vốn tín dụng ngày càng kém, thêm vào
đó, tỷ lệ đủ vốn không ngừng giảm sút, làm cho chỉ tiêu lợng hoá phản ánh
thành quả quản lý tiền vốn, tiền vay khó mà thực hiện đợc, khó thực hiện toàn
diện và quy củ việc quản lý tỉ lệ tiền vốn và tiền nợ, càng khó hoà nhập vào
quỹ đạo của quy tắc quốc tế. Trong lĩnh vực tài chính hiện đại, cho dù một
NHTM quản lý khá tốt cũng có thể nảy sinh vấn đề, chứ đừng nói đến trong
thời buổi tiền tệ dao động, khủng hoảng tiền tệ có thể xảy ra bất cứ lúc nào,
gây ra cho ngân hàng những tổn thất ngoài sức tởng tợng, thậm chí dẫn đến
ngân hàng phá sản. Nh cuộc khủng hoảng của ngân hàng Nhật trong những
năm gần đây, sự phồn vinh ảo của ngành ngân hàng do nền kinh tế bong bóng
tạo ra, để lại mầm hoạ cho ngành kinh doanh ngân hàng, một khi bong bóng
vỡ sẽ xuất hiện phản ứng dây chuyền, dẫn đến nảy sinh hàng loạt vấn đề. Sự
sụp đổ của mấy quỹ tín dụng lớn năm 1996, sự sụp đổ của ngân hàng Thác
Trực-Đảo Hô Cai Đô -Nhật Bản vào tháng 11 năm 1997 và sự sụp đổ của công
ty chứng khoán Nhật Bản lớn-Công ty chứng khoán Sơn Nhất đều là những ví
dụ mới nhất về rủi ro tài chính. Vấn đề tài chính nghiêm trọng xuất hiện ở
NHTM 100% vốn nhà nớc trong thời gian gần đây đã chứng tỏ điều này. Cùng
với việc xây dựng cơ cấu kinh doanh mới, NHTM CP sử dụng các biện pháp có
lợi, tìm mọi cách thu hồi các khoản nợ cũ, luân chuyển lợng vốn tồn đọng, tích
cực điều chỉnh kết cấu, u hoá chất lợng tiền vốn khiến cho kết cấu lâu dài và
ngắn hạn của tiền vốn cho vay tín dụng cũng nh phơng hớng kết cấu ngành
ngân hàng có đợc sự điều chỉnh phân bố hợp lý. Nhìn từ tổng thể, thực lực kinh
doanh của NHTM còn cha đủ hùng hậu, trình độ quản lý kinh doanh hiện đại
hoá cha cao, nhiệm vụ u hoá nguồn vốn còn rất nặng nề. Điều đó không chỉ

hành của thị trờng. Trong điều kiện đó, tuy có những bộ luật nh Luật ngân
hàng thơng mại để đảm bảo nhng những NHTM hiện có cũng khó có thể giải
quyết một cách thuận lợi mối quan hệ giữa ngời đầu t, ngời chi phối, ngời sử
dụng và ngời kinh doanh để hợp lý hoá hành vi của ngân hàng; khó có thể
tránh đợc sự can thiệp hành chính vô lý của chính quyền các địa phơng, ảnh h-
ởng trực tiếp đến việc quản lý và kinh doanh của toàn bộ các NHTM.
Trong hệ thống NHTM, NHTM QD vẫn chiếm trên 90% hạn ngạch
thị trờng, từ đó thiếu đi sự hình thành kết cấu và cơ chế thị trờng mà thị trờng
tiền tệ cạnh tranh bình đẳng, có trình tự, hiệu quả cao cần, rơi vào địa vị cạnh
tranh không bình đẳng; thêm vào đó, chính sách nhà nớc và phơng thức quản
lý vẫn cha xem xét đầy đủ đến sự khác nhau giữa thể chế NHTM CP và thể chế
vận hành nội bộ, đối xử giống nh với NHTM QD, đã hạn chế sự phát huy tính -
u việt của thể chế và cơ chế của NHTM CP. Ví dụ nh có một vài ngân hàng
thông qua việc nâng cao lãi suất, thủ tục chi trả để lôi kéo tiền gửi, lấy cho vay
để thu hút tiền gửi; chính sách nhà nớc quy định, một vài đơn vị nào đó phải
đến gửi tiền tại NHTM QD và quy định đơn vị chỉ có thể mở một tài khoản
gốc tại một ngân hàng, tất cả những điều này khiến cho NHTM CP rơi vào thế
cạnh tranh bất lợi.
1.1.5. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thấp
Tối đa hoá lợi nhuận là động cơ và mục đích cơ bản trong kinh
doanh của NHTM, hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát và quy tụ trong hoạt
động kinh tế của nó. Vậy nên, xuyên suốt quá trình quyết sách cho vay vốn và
quá trình quản lý là sự vận hành tiền tệ lấy việc hạ thấp và phòng chống rủi ro
cho vay làm mục tiêu, lấy nâng cao lợi ích kinh tế làm nòng cốt, tăng cờng
quản lý tín dụng nhằm bảo đảm sự chính xác và đạt hiệu quả cao, đây không
chỉ là yêu cầu khách quan của quy luật vận động tiền tệ tín dụng, mà còn là
yêu cầu nội tại trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng. Có thể nói,
thiết thực hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao chất lợng tiền tín dụng là một bài
toán khó mà NHTM Trung Quốc gặp phải đầu thế kỉ 21. Theo các tài liệu
thống kê có liên quan, 1/3 lợng tiền cho vay tín dụng của NHTM QD không

8 Theo Tạp chí Thị trờng tài chính tiền tệ 15/10/2003
các ngân hàng đều đợc mở rộng tơng đối lớn. Tuy nhiên, do hệ thống ngân
hàng Trung Quốc vẫn thể hiện cục diện bốn NHTM QD lớn lũng đoạn thị tr-
ờng, quy mô của mấy NHTM CP rất nhỏ. Trong việc mở rộng thị trờng chịu sự
trói buộc của Ngân hàng nhân dân và những hạn chế của chỉ tiêu giám sát
NHTM QD không chỉ khó có thể hình thành đợc sự cạnh tranh bình đẳng có
hiệu quả, mà trong việc kinh doanh cũng tồn tại những yếu kém về quy mô,
một vài ngân hàng chịu ảnh hởng mang tính khu vực, trong mạng lới cơ cấu
cũng nh trong việc khai thác thị trờng đều chịu sự trói buộc.
Bên cạnh đó, việc ngân hàng tăng thêm điểm mạng khó có thể thống
nhất đợc với việc nâng cao hiệu quả quy mô. NHTM vận hành theo quy tắc thị
trờng phải định vị và thiết lập các cơ quan chi nhánh theo xu hớng của thị tr-
ờng và khu vực thị trờng. Nhng hiện nay thể chế và biện pháp quản lý này rất
khó thay đổi trong thời gian ngắn.
(1). Về việc thiết lập điểm mạng. Hiện nay điểm mạng cơ sở của
NHTM 100% vốn nhà nớc đều thiết lập theo khu hành chính, mang đậm sắc
thái cơ quan, mặc dù mấy năm gần đây đã áp dụng nhiều biện pháp, việc cải
cách cơ cấu đã đóng cửa và sáp nhập một số chi nhánh, song vẫn gặp phải cản
trở rất lớn, tình hình này càng nghiêm trọng hơn ở đầu thế kỉ 21.
(2). Về vấn đề đơn vị hạch toán kế toán. Lấy ngân hàng chi nhánh
cấp huyện là đơn vị hạch toán độc lập là cách làm của NHTM QD trong mấy
chục năm nay, vấn đề lớn nhất của cách làm này là không xét đến thực lực
kinh tế, không xét đến trình độ phát triển kinh tế các khu vực khác nhau, các
ngành nghề khác nhau và sự khác biệt về môi trờng bên ngoài, bất lợi cho việc
huy động tính tích cực của ngân hàng đại diện các cấp, bất lợi cho việc nâng
cao hiệu quả kinh tế của toàn ngành.
1.1.7. Thiếu kinh nghiệm cạnh tranh quốc tế
Cùng với việc mở cửa hơn nữa thị trờng tài chính ở Trung Quốc,
NHTM Trung Quốc ngoài việc phải cạnh tranh khốc liệt với các cơ quan tài
chính khác ở trong nớc, còn phải đứng trớc thách thức của các cơ quan tài

thu hồi nợ của các ngân hàng trong quá khứ, phần lớn các NHTM QD đều chịu
gánh nặng lớn của món nợ không hoạt động (non-performing loan: NPL). Nếu
tính theo hệ thống phân loại nợ 5 cấp mới thì số nợ không hoạt động trong d
nợ vay của Ngân hàng Trung Quốc là 27% và Ngân hàng Công thơng Trung
Quốc là 29,8%
10
. Nhằm nỗ lực giải quyết tình hình, cuối những năm 1990, Bộ
tài chính đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản là China Orient, China
Huarong, China Cinda và China Great Wall. Từ năm 1999, Nhà nớc đã mua
lại 1,39 tỷ NDT nợ xấu, chiếm khoảng 20% của tổng số nợ vào thời điểm đó,
các khoản nợ không hoạt động đợc chuyển cho 4 công ty quản lý tài sản, mỗi
công ty liên đới với một trong bốn ngân hàng lớn và những công ty này có
khoảng 10 năm để giải quyết hết các món nợ
11
. Theo các quy định của hệ
thống ngân hàng Trung Quốc hiện nay, các ngân hàng không đợc phép cơ cấu
lại các khoản vốn cho vay và chuyển quyền của các chủ tín dụng sang các nhà
đầu t khác. Việc này dẫn đến ngời vay vốn chỉ có hai lựa chọn: hoặc thanh
toán đầy đủ các khoản nợ của mình, hoặc thanh toán nợ bằng cách phá sản khi
đã hoàn toàn không còn khả năng hoạt động. Trong trờng hợp China Huarong,
công ty này đã giải quyết 31 tỷ NDT nợ khó đòi tính đến cuối năm 2001.
Trong số tài sản mà China Huarong phục hồi đợc có hơn 80% là thông qua
việc cơ cấu lại nợ, trong đó chỉ có dới 3% là thông qua phá sản
12
. Ngoài ra,
theo báo cáo tổng tỷ lệ thu hồi trong năm 2002 là khoảng 50% và tỷ lệ thu hồi
bằng tiền mặt chiếm khoảng 20%. Tuy nhiên nếu so sánh với tổng các món
vay thì số nợ thu hồi trong năm 2001 chỉ khoảng 5,5% (xem bảng dới), do đó
việc tham gia của các đối tác nớc ngoài là hết sức cần thiết để đẩy nhanh quá
trình giải quyết các món nợ xấu. Công ty quản lý tài sản China Orient đã bán

quản lý (tỷ
USD)
32,8 50,1 45,9 42,6 171,4
Số nợ đã xử lý
trong năm 2001
(tỷ USD)
2,2 2,8 3,6 0,8 9,4
Tỷ lệ nợ đã xử
lý trên tổng số
nợ
6,7% 5,6% 7,8% 1,8% 5,5%
Lợng tiền mặt
thu hồi trong
năm 2001 (tỷ
USD)
0,5 0,9 1,3 0,5 3,2
Lợng thu hồi
phi tiền mặt
trong năm 2001
(tỷ USD)
0,5 0,6 0,2 N/A
Tổng lợng thu
hồi trong năm
2001 (tỷ USD)
1,0 1,5 1,5 N/A
Tỷ lệ thu hồi
trong năm 2001
46,4% 54% 34,4% N/A
Tỷ lệ thu hồi
tiền mặt trong

giảm tỷ trọng của vốn cho vay không hoạt động và giảm lỗ, các NHTM QD đã
tăng cờng công tác quản lý pháp nhân và một trong những biện pháp là rút
quyền của các chi nhánh cấp dới trong việc mở rộng vốn cho vay. Do vậy, một
bộ phân đáng kể các chi nhánh địa phơng đã cho thấy thực tế là tỷ lệ vốn cho
vay/ tiền gửi đã giảm mạnh. Tuy nhiên, nếu tính chung trên phạm vi toàn quốc
thì chênh lệch giữa vốn cho vay và tiền gửi cha phải là vấn đề đáng lo ngại.
Trên thực tế nhờ vào sự phát triển của thị trờng trái khoán, thị trờng hối phiếu,
các thị trờng giao ngay và mua lại liên ngân hàng, các tài sản của NHTM đã đ-
ợc đa dạng hoá và việc mở rộng chênh lệch giữa vốn cho vay và tiền gửi là một
xu hớng khó tránh khỏi.
Quản lý NHTM theo cơ chế vận hành của chế độ doanh nghiệp hiện
đại, có nghĩa là xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại ở các NHTM, thực
hiện quyền tài sản minh bạch, quyền lợi và trách nhiệm chính xác, rõ ràng,
phân tách giữa chính quyền với doanh nghiệp, quản lý khoa học, hệ thống
quyết sách, chấp hành và quản lý giám sát kiện toàn, làm cho NHTM thực sự
trở thành thực thể pháp nhân và chủ thể thị trờng kinh doanh tự chủ, tự chịu lỗ
lãi. Vì vậy, phải kết hợp giữa cải cách NHTM với cải tổ, cải tạo và tăng cờng
quản lý, xây dựng chế độ quyền tài sản ngân hàng minh bạch, riêng đối với các
NHTM QD, sự lựa chọn lý tởng nhất là cải tạo chế độ cổ phần, hình thành cơ
chế vận hành NHTM QD mới, đó là:
(1). Phân tán quyền tài sản. Đánh giá, thanh toán tài sản và hạch
toán tiền vốn của các NHTM QD, trên cơ sở này phân tách quyền tài sản giữa
các chủ thể khác nhau, từ đó làm cho chủ thể tiền vốn minh bạch hoá, t nhân
hoá. Lấy đó làm rõ ràng trách nhiệm và quyền lợi về tiền của chủ thể quyền tài
sản, làm cho họ thực sự có động lực nội tại và sức sống bên ngoài trong hoạt
động kinh doanh.
(2). Tập trung hoá quyền lực. Thành lập đại hội cổ đông, Hội đồng
quản trị, Hội đồng giám sát theo thông lệ của ngân hàng thơng mại cổ phần
hoá, hình thành hệ thống kết cấu tổ chức ràng buộc lẫn nhau tam quyền phân
li (tách rời ba quyền). Bảo đảm t cách pháp nhân độc lập của ngân hàng, thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status