CẢI CÁCH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRUNG QUỐC
(NHTM TQ)
I. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
NHTM TQ
Trước khi thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vào năm
1949, hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm ngân hàng Trung ương
(NHTƯ), ba ngân hàng thương mại lớn là Ngân hàng Bưu điện, Ngân hàng
Nông nghiệp, Ngân hàng Trung Hoa, một số các ngân hàng và các tổ chức tài
chính nhỏ độc lập khác. Năm 1949, ba NHTM lớn này đã được sáp nhập hoặc
liên kết với ngân hàng Trung ương là ngân hàng chủ đạo cung cấp phần lớn
dịch vụ ngân hàng ở Trung Quốc cho tới năm 1978.
Sau năm 1978, theo chương trình cải cách kinh tế chuyển đổi cơ chế
quản lý tập trung cao độ sang cơ chế quản lý có mức tự do hoá và phân cấp
quản lý cao hơn, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Xây Dựng và Ngân hàng
Trung Hoa được tách riêng khỏi hoạt động của ngân hàng Trung ương. Việc
tách riêng các hoạt động ngân hàng xuất phát từ ý tưởng cho rằng một hệ thống
phân cấp quản lý cao hơn sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Mỗi ngân hàng theo sự
chỉ định sẽ cung cấp dịch vụ cho một ngành nhất định của nền kinh tế. Quan
điểm này ngăn cản sự cạnh tranh giữa các ngân hàng và buộc các khách hàng-
nông dân, các doanh nghiệp công nghiệp và các công ty thương mại hoặc các
công ty có vốn đầu tư nước ngoài- trong từng ngành phải giao dịch với một
ngân hàng chuyên doanh.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Trung quốc bao gồm nhiều ngân hàng
khác nhau. Dưới Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (ngân hàng trung ương) là
các ngân hàng chuyên doanh lớn sau:
1. Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc
2. Ngân hàng Trung Quốc
3. Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc
4. Ngân hàng Công Thương Trung Quốc
5. Ngân hàng Bưu điện
6. Ngân hàng Phát triển Quốc doanh
ở các địa phơng có nhiệm vụ xây dựng khá tập trung và địa phương sở tại có
hạng mục trọng điểm.
Ngân hàng Công thương Trung Quốc được tách khỏi ngân hàng Trung
ương năm 1984. Ngân hàng Công thương Trung Quốc chủ yếu kinh doanh tài
chính ở thành phố, phục vụ cho doanh nghiệp công thương, các cơ quan đoàn
thể và cư dân thành thị, nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ sản xuất công nghiệp, mở
rộng luư thông hàng hoá, hỗ trợ ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy tiến bộ và
cải tạo khoa học kĩ thuật, phục vụ cho việc xây dựng kinh tế. Cùng với sự cạnh
tranh đan xen về dịch vụ giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, phạm vi
nghiệp vụ của ngân hàng Công thương Trung Quốc mở rộng hơn nữa, theo hư-
ớng tổng hợp hoá, như đã đảm nhiệm dịch vụ cho các doanh nghiệp ở hương
trấn, nghiệp vụ xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ ngoại hối..., đồng thời thành
lập các ngân hàng chi nhánh ở nước ngoài.
Ngân hàng Trung Quốc được thành lập vào năm 1908 và đã hoạt động
với tư cách là ngân hàng trung ương của Trung Quốc trong thời gian 40 năm
dưới hình thức góp vốn nhà nước và tư nhân, trong đó sở hữu nhà nước chiếm
đa số. Từ năm 1949, Ngân hàng Trung Hoa chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ
nhận tiền gửi, cho vay bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Ngân hàng này có
chi nhánh ở tất cả các tỉnh, thành phố, huyện và hoạt động với một hệ thống chi
nhánh và đại lý trên toàn cầu.
Ngân hàng Bưu điện được tái lập vào năm 1986 sau 38 năm ngừng
hoạt động ở đại lục. Là một ngân hàng cổ phần trong đó cổ đông chính là chính
quyền trung ương và địa phương. Quy mô kinh doanh của Ngân hàng Bưu điện
không hạn chế chỉ trong ngành thương mại, do đó ngân hàng này đã cung cấp
dich vụ tài chính trên toàn thế giới. Là một Ngân hàng đa năng, Ngân hàng Bưu
điện có lợi thế cạnh tranh hơn so với bốn ngân hàng chuyên doanh chỉ được
kinh doanh theo các chức năng được quy định cho tới giữa thập niên 90.
Từ cuối thập niên 80, nhiều ngân hàng thương mại địa phương đã
được thành lập và đặt tại các tỉnh hoặc các đặc khu kinh tế như: Ngân hàng Phát
triển Quảng Đông, Ngân hàng Thương mại Trung Quốc, Ngân hàng phát triển
tục tăng mạnh- gần 26% trong giai đoạn 1999- 2002.
1
Bên cạnh đó, các NHTM
CP cũng không ngừng phát triển về số lượng. Một loạt những ngân hàng kiểu
mới có cơ chế kinh doanh tự chủ, tự chịu lỗ lãi, tự gánh vác rủi ro, tự cân bằng
nguồn vốn từng bước được hình thành như Ngân hàng phát triển Quảng Đông,
1 Các số liệu lấy từ nguồn: Tạp chí Thông tin Kinh tế- Xã hội (Số 6/2003)
Ngân hàng hưng nghệp Phúc Kiến, Ngân hàng thực nghiệm Trung Tín, Ngân
hàng Quang Đại Trung Quốc, Ngân hàng Hoa Hạ, Ngân hàng Dân Sinh Trung
Quốc, Ngân hàng phát triển Hải Nam… Mặc dù những NHTM này vẫn khó có
thể so sánh với NHTM QD về các mặt quy mô tiền vốn, số lượng cơ cấu và
tổng số nhân viên..., nhưng tốc độ tăng trưởng tiền vốn và lãi suất của nó đã cao
hơn NHTM QD, tốc độ tăng tiền gửi là 77% trong giai đoạn 1999-2001, tốc độ
tăng vốn cho vay là 42% trong cùng kỳ (so với 21% của NHTM QD)
2
. Cho thấy
sức kinh doanh tương đối mạnh, tình hình phát triển nhanh và hiệu quả kinh
doanh tốt, đã trở thành một đội quân sinh lực của hệ thống NHTM Trung Quốc
và trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống NHTM Trung Quốc
không tránh khỏi phải đối mặt với những mặt còn tồn tại và những thách thức
mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Các NHTM ngoài việc phải cạnh
tranh khốc liệt trên phương diện tiền vốn, thì sự cạnh tranh trên phương diện
phi tiền tệ cũng rất khốc liệt. NHTM Trung Quốc trước đây triển khai tương đối
ít các dịch vụ về phương diện phi tiền tệ, cùng với việc tăng cường thể chế quản
lý và từng bước pháp luật hóa ngành ngân hàng, thu lợi nhuận thông qua chênh
lệch lãi suất cũng ngày càng khó khăn. Vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực phi
tiền tệ sẽ là trọng điểm cạnh tranh của NHTM Trung Quốc trong thế kỷ 21. Ví
dụ, về phương diện cố vấn tài chính cho khách hàng, ngân hàng, công ty uỷ
thác, công ty chứng khoán và công ty quỹ tiền tệ đều có thể thực hiện được. Xét
AMSc đã phát hành 141 tỷ USD tiền trái phiếu và bù 28 tỷ USD tiền mặt. Đồng
thời NHTƯ đã yêu cầu các ngân hàng lớn nhất giảm tín dụng xấu từ mức 25%-
30% tổng dư nợ hiện nay xuống còn 15% vào năm 2005
3
. Ngoài ra Thông tư
ngày 24 tháng 4 năm 2002 của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã yêu cầu tất
cả các ngân hàng phải đưa ra những quy định hạn chế nợ xấu đến năm 2005 để
tránh mối đe doạ xảy ra “khủng hoảng tài chính” và khuyến khích các ngân
hàng áp dụng tiêu chuẩn cân đối vốn quốc tế. Hơn nữa, NHTƯ cũng yêu cầu
các ngân hàng phải giảm tỷ lệ nợ không hoạt động (NPL) khoảng 3% mỗi năm.
Hiện tại, số nợ không hoạt động của 4 NHTM QD lớn là 25,37% vào thời điểm
đầu năm 2002, sau khi giảm được 3,81% trong một năm
4
.
Bảng 1: Nợ khó đòi ở mức đỉnh tính theo tỷ lệ phần trăm tổng số nợ
trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng
1.1.2. Khó khăn trong việc cắt giảm nhân viên
Công nhân viên chức trong NHTM rất nhiều, đặc biệt là NHTM QD.
Số lao động trung bình trên 415 000 người
5
. Người đông dẫn đến hiệu quả thấp,
tăng tối đa giá thành của ngân hàng. So sánh đối chiếu giữa NHTM và ngân
hàng có vốn đầu tư nước ngoài mới thành lập có rất ít công nhân viên chức,
hiệu quả cao, có thể trả công nhân viên chức mức lương khá cao, từ đó thu hút
lượng lớn nhân viên có trình độ cao, điều này lại tăng cường hơn nữa sức cạnh
tranh của những ngân hàng này và làm suy yếu sức cạnh tranh của NHTM QD.
3 Các số liệu tham khảo từ: Far Eastern Economic Review 14/11/2002
The Economist 25/11/2002
Business Week 25/11/2002
4 Theo Tạp chí Thị trường t i chính tià ền tệ 15/10/2003
tín dụng và khả năng chống lại rủi ro của ngân hàng liên tục bị suy yếu. Mặc dù
năm 1998, Bộ tài chính đã phát hành 270 tỉ NDT
7
trái phiếu đặc biệt, làm thay
đổi đôi chút tình hình thiếu tiền vốn trong 4 NHTM QD, nhưng vấn đề vẫn khá
nghiêm trọng. Hơn nữa, chất lượng tiền vốn tín dụng ngày càng kém, thêm vào
đó, tỷ lệ đủ vốn không ngừng giảm sút, làm cho chỉ tiêu lượng hoá phản ánh
thành quả quản lý tiền vốn, tiền vay khó mà thực hiện được, khó thực hiện toàn
diện và quy củ việc quản lý tỉ lệ tiền vốn và tiền nợ, càng khó hoà nhập vào quỹ
đạo của quy tắc quốc tế. Trong lĩnh vực tài chính hiện đại, cho dù một NHTM
quản lý khá tốt cũng có thể nảy sinh vấn đề, chứ đừng nói đến trong thời buổi
tiền tệ dao động, khủng hoảng tiền tệ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, gây ra cho
ngân hàng những tổn thất ngoài sức tưởng tượng, thậm chí dẫn đến ngân hàng
phá sản. Như cuộc khủng hoảng của ngân hàng Nhật trong những năm gần đây,
sự phồn vinh ảo của ngành ngân hàng do nền kinh tế bong bóng tạo ra, để lại
mầm hoạ cho ngành kinh doanh ngân hàng, một khi bong bóng vỡ sẽ xuất hiện
phản ứng dây chuyền, dẫn đến nảy sinh hàng loạt vấn đề. Sự sụp đổ của mấy
quỹ tín dụng lớn năm 1996, sự sụp đổ của ngân hàng Thác Trực-Đảo Hô Cai
Đô -Nhật Bản vào tháng 11 năm 1997 và sự sụp đổ của công ty chứng khoán
Nhật Bản lớn-Công ty chứng khoán Sơn Nhất đều là những ví dụ mới nhất về
rủi ro tài chính. Vấn đề tài chính nghiêm trọng xuất hiện ở NHTM 100% vốn
nhà nước trong thời gian gần đây đã chứng tỏ điều này. Cùng với việc xây dựng
cơ cấu kinh doanh mới, NHTM CP sử dụng các biện pháp có lợi, tìm mọi cách
thu hồi các khoản nợ cũ, luân chuyển lượng vốn tồn đọng, tích cực điều chỉnh
kết cấu, ưu hoá chất lượng tiền vốn khiến cho kết cấu lâu dài và ngắn hạn của
tiền vốn cho vay tín dụng cũng như phương hướng kết cấu ngành ngân hàng có
được sự điều chỉnh phân bố hợp lý. Nhìn từ tổng thể, thực lực kinh doanh của
7 Theo Sách: Trung Quốc- nhìn lại một chặng đường phát triển
NHTM còn chưa đủ hùng hậu, trình độ quản lý kinh doanh hiện đại hoá chưa
cao, nhiệm vụ ưu hoá nguồn vốn còn rất nặng nề. Điều đó không chỉ không
thương mại” để đảm bảo nhưng những NHTM hiện có cũng khó có thể giải
quyết một cách thuận lợi mối quan hệ giữa người đầu tư, người chi phối, người
sử dụng và người kinh doanh để hợp lý hoá hành vi của ngân hàng; khó có thể
tránh được sự can thiệp hành chính vô lý của chính quyền các địa phương, ảnh
hưởng trực tiếp đến việc quản lý và kinh doanh của toàn bộ các NHTM.
Trong hệ thống NHTM, NHTM QD vẫn chiếm trên 90% hạn ngạch
thị trường, từ đó thiếu đi sự hình thành kết cấu và cơ chế thị trường mà thị
trường tiền tệ cạnh tranh bình đẳng, có trình tự, hiệu quả cao cần, rơi vào địa vị
cạnh tranh không bình đẳng; thêm vào đó, chính sách nhà nước và phương thức
quản lý vẫn chưa xem xét đầy đủ đến sự khác nhau giữa thể chế NHTM CP và
thể chế vận hành nội bộ, đối xử giống như với NHTM QD, đã hạn chế sự phát
huy tính ưu việt của thể chế và cơ chế của NHTM CP. Ví dụ như có một vài
ngân hàng thông qua việc nâng cao lãi suất, thủ tục chi trả để lôi kéo tiền gửi,
lấy cho vay để thu hút tiền gửi; chính sách nhà nước quy định, một vài đơn vị
nào đó phải đến gửi tiền tại NHTM QD và quy định đơn vị chỉ có thể mở một
tài khoản gốc tại một ngân hàng, tất cả những điều này khiến cho NHTM CP
rơi vào thế cạnh tranh bất lợi.
1.1.5. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thấp
Tối đa hoá lợi nhuận là động cơ và mục đích cơ bản trong kinh doanh
của NHTM, hiệu quả kinh tế là điểm xuất phát và quy tụ trong hoạt động kinh
tế của nó. Vậy nên, xuyên suốt quá trình quyết sách cho vay vốn và quá trình
quản lý là sự vận hành tiền tệ lấy việc hạ thấp và phòng chống rủi ro cho vay
làm mục tiêu, lấy nâng cao lợi ích kinh tế làm nòng cốt, tăng cường quản lý tín
dụng nhằm bảo đảm sự chính xác và đạt hiệu quả cao, đây không chỉ là yêu cầu
khách quan của quy luật vận động tiền tệ tín dụng, mà còn là yêu cầu nội tại
trong quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng. Có thể nói, thiết thực hạ thấp
rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tiền tín dụng là một bài toán khó mà
NHTM Trung Quốc gặp phải đầu thế kỉ 21. Theo các tài liệu thống kê có liên
quan, 1/3 lượng tiền cho vay tín dụng của NHTM QD không thu hồi lại được.
Ước tính rằng cần có khoảng 300-400 tỷ NDT (36- 48 tỷ USD) mỗi năm trong
thống ngân hàng Trung Quốc vẫn thể hiện cục diện bốn NHTM QD lớn lũng
đoạn thị trường, quy mô của mấy NHTM CP rất nhỏ. Trong việc mở rộng thị
trường chịu sự trói buộc của Ngân hàng nhân dân và những hạn chế của chỉ tiêu
giám sát NHTM QD không chỉ khó có thể hình thành được sự cạnh tranh bình
đẳng có hiệu quả, mà trong việc kinh doanh cũng tồn tại những yếu kém về quy
mô, một vài ngân hàng chịu ảnh hưởng mang tính khu vực, trong mạng lưới cơ
cấu cũng như trong việc khai thác thị trường đều chịu sự trói buộc.
Bên cạnh đó, việc ngân hàng tăng thêm điểm mạng khó có thể thống
nhất được với việc nâng cao hiệu quả quy mô. NHTM vận hành theo quy tắc thị
trường phải định vị và thiết lập các cơ quan chi nhánh theo xu hướng của thị
trường và khu vực thị trường. Nhưng hiện nay thể chế và biện pháp quản lý này
rất khó thay đổi trong thời gian ngắn.
(1). Về việc thiết lập điểm mạng. Hiện nay điểm mạng cơ sở của
NHTM 100% vốn nhà nước đều thiết lập theo khu hành chính, mang đậm sắc
thái cơ quan, mặc dù mấy năm gần đây đã áp dụng nhiều biện pháp, việc cải
cách cơ cấu đã đóng cửa và sáp nhập một số chi nhánh, song vẫn gặp phải cản
trở rất lớn, tình hình này càng nghiêm trọng hơn ở đầu thế kỉ 21.
(2). Về vấn đề đơn vị hạch toán kế toán. Lấy ngân hàng chi nhánh cấp
huyện là đơn vị hạch toán độc lập là cách làm của NHTM QD trong mấy chục
năm nay, vấn đề lớn nhất của cách làm này là không xét đến thực lực kinh tế,
không xét đến trình độ phát triển kinh tế các khu vực khác nhau, các ngành
nghề khác nhau và sự khác biệt về môi trường bên ngoài, bất lợi cho việc huy
động tính tích cực của ngân hàng đại diện các cấp, bất lợi cho việc nâng cao
hiệu quả kinh tế của toàn ngành.
1.1.7. Thiếu kinh nghiệm cạnh tranh quốc tế
Cùng với việc mở cửa hơn nữa thị trường tài chính ở Trung Quốc,
NHTM Trung Quốc ngoài việc phải cạnh tranh khốc liệt với các cơ quan tài
chính khác ở trong nước, còn phải đứng trước thách thức của các cơ quan tài
chính nước ngoài trong khi tham gia cạnh tranh quốc tế. Về phương diện này,
rõ ràng ngân hàng thương mại Trung Quốc ở thế yếu, chủ yếu thể hiện ở:
tính theo hệ thống phân loại nợ 5 cấp mới thì số nợ không hoạt động trong dư
nợ vay của Ngân hàng Trung Quốc là 27% và Ngân hàng Công thương Trung
Quốc là 29,8%
10
. Nhằm nỗ lực giải quyết tình hình, cuối những năm 1990, Bộ
tài chính đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản là China Orient, China Huarong,
China Cinda và China Great Wall. Từ năm 1999, Nhà nước đã mua lại 1,39 tỷ
NDT nợ xấu, chiếm khoảng 20% của tổng số nợ vào thời điểm đó, các khoản
nợ không hoạt động được chuyển cho 4 công ty quản lý tài sản, mỗi công ty
10 Theo Tạp chí Thị trường t i chính tià ền tệ 15/10/2003
liên đới với một trong bốn ngân hàng lớn và những công ty này có khoảng 10
năm để giải quyết hết các món nợ
11
. Theo các quy định của hệ thống ngân hàng
Trung Quốc hiện nay, các ngân hàng không được phép cơ cấu lại các khoản vốn
cho vay và chuyển quyền của các chủ tín dụng sang các nhà đầu tư khác. Việc
này dẫn đến người vay vốn chỉ có hai lựa chọn: hoặc thanh toán đầy đủ các
khoản nợ của mình, hoặc thanh toán nợ bằng cách phá sản khi đã hoàn toàn
không còn khả năng hoạt động. Trong trường hợp China Huarong, công ty này
đã giải quyết 31 tỷ NDT nợ khó đòi tính đến cuối năm 2001. Trong số tài sản
mà China Huarong phục hồi được có hơn 80% là thông qua việc cơ cấu lại nợ,
trong đó chỉ có dưới 3% là thông qua phá sản
12
. Ngoài ra, theo báo cáo tổng tỷ
lệ thu hồi trong năm 2002 là khoảng 50% và tỷ lệ thu hồi bằng tiền mặt chiếm
khoảng 20%. Tuy nhiên nếu so sánh với tổng các món vay thì số nợ thu hồi
trong năm 2001 chỉ khoảng 5,5% (xem bảng dưới), do đó việc tham gia của các
đối tác nước ngoài là hết sức cần thiết để đẩy nhanh quá trình giải quyết các
món nợ xấu. Công ty quản lý tài sản China Orient đã bán món nợ 217 triệu
USD đầu tiên của họ cho một nhà đầu tư nước ngoài vào tháng 4- 2003, mở ra
Số nợ đã xử lý
trong năm 2001
(tỷ USD)
2,2 2,8 3,6 0,8 9,4
Tỷ lệ nợ đã xử
lý trên tổng số
nợ
6,7% 5,6% 7,8% 1,8% 5,5%
Lượng tiền mặt
thu hồi trong
năm 2001 (tỷ
USD)
0,5 0,9 1,3 0,5 3,2
Lượng thu hồi
phi tiền mặt
trong năm 2001
(tỷ USD)
0,5 0,6 0,2 N/A
Tổng lượng thu
hồi trong năm
2001 (tỷ USD)
1,0 1,5 1,5 N/A
Tỷ lệ thu hồi
trong năm 2001
46,4% 54% 34,4% N/A
Tỷ lệ thu hồi
tiền mặt trong
năm 2001
24% 32,5% 35,1% 62,5%
Nguồn: PwC, website của các công ty quản lý tài sản trên
tiền gửi đã giảm mạnh. Tuy nhiên, nếu tính chung trên phạm vi toàn quốc thì
chênh lệch giữa vốn cho vay và tiền gửi chưa phải là vấn đề đáng lo ngại. Trên
thực tế nhờ vào sự phát triển của thị trường trái khoán, thị trường hối phiếu, các
thị trường giao ngay và mua lại liên ngân hàng, các tài sản của NHTM đã được
đa dạng hoá và việc mở rộng chênh lệch giữa vốn cho vay và tiền gửi là một xu
hướng khó tránh khỏi.
Quản lý NHTM theo cơ chế vận hành của chế độ doanh nghiệp hiện
đại, có nghĩa là xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại ở các NHTM, thực hiện
quyền tài sản minh bạch, quyền lợi và trách nhiệm chính xác, rõ ràng, phân tách
giữa chính quyền với doanh nghiệp, quản lý khoa học, hệ thống quyết sách,
chấp hành và quản lý giám sát kiện toàn, làm cho NHTM thực sự trở thành thực
thể pháp nhân và chủ thể thị trường kinh doanh tự chủ, tự chịu lỗ lãi. Vì vậy,
phải kết hợp giữa cải cách NHTM với cải tổ, cải tạo và tăng cường quản lý, xây
dựng chế độ quyền tài sản ngân hàng minh bạch, riêng đối với các NHTM QD,
sự lựa chọn lý tưởng nhất là cải tạo chế độ cổ phần, hình thành cơ chế vận hành
NHTM QD mới, đó là:
(1). Phân tán quyền tài sản. Đánh giá, thanh toán tài sản và hạch toán
tiền vốn của các NHTM QD, trên cơ sở này phân tách quyền tài sản giữa các
chủ thể khác nhau, từ đó làm cho chủ thể tiền vốn minh bạch hoá, tư nhân hoá.
Lấy đó làm rõ ràng trách nhiệm và quyền lợi về tiền của chủ thể quyền tài sản,
làm cho họ thực sự có động lực nội tại và sức sống bên ngoài trong hoạt động
kinh doanh.
(2). Tập trung hoá quyền lực. Thành lập đại hội cổ đông, Hội đồng
quản trị, Hội đồng giám sát theo thông lệ của ngân hàng thương mại cổ phần
hoá, hình thành hệ thống kết cấu tổ chức ràng buộc lẫn nhau “tam quyền phân
li” (tách rời ba quyền). Bảo đảm tư cách pháp nhân độc lập của ngân hàng, thực
hiện ràng buộc và điều tiết cân đối của quyền sở hữu đối với quyền kinh doanh.
1.2.3. Dung hoà mối quan hệ giữa chính quyền và ngân hàng, ngân hàng và
các doanh nghiệp
Lâu nay, quan hệ giữa chính quyền với ngân hàng, giữa ngân hàng với
thiểu sự can thiệp hành chính vào ngân hàng, cải cách cơ chế hình thành giám
đốc ngân hàng, thay đổi tình trạng của ngân hàng nhà nước, các ban ngành tổ
chức, ban ngành nhân sự cùng quản lý nhân sự ngân hàng, xoá bỏ sự phân cấp
hành chính trong ngân hàng, chặt đứt quan hệ huyết thống giữa ngân hàng với
cơ quan chính quyền.
Tiếp đó, tạo thuận lợi cho mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh
nghiệp. Tín dụng là nền tảng của quan hệ giữa ngân hàng với doanh nghiệp.
Hiện nay quan niệm về tín dụng của rất nhiều doanh nghiệp trong nước yếu,
năng lực trả nợ kém, dẫn đến chất lượng vốn tín dụng của ngân hàng giảm sút
nghiêm trọng, tạo nên một lượng lớn các khoản nợ khó đòi, không đòi được,
ảnh hưởng tới chuỗi tín dụng của toàn xã hội. Muốn thay đổi cục diện bất lợi
này, một mặt phải thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, tăng cường sức cạnh tranh
thị trường của doanh nghiệp thông qua đi sâu cải cách, đồng thời phải tăng
cường cơ chế tự ràng buộc của doanh nghiệp. Chế định pháp luật, pháp quy
ràng buộc và phạt đối với những hành vi nợ dai của doanh nghiệp, tăng cường ý
thức tín dụng của doanh nghiệp; mặt khác, phải tạo lập được quan hệ bình đẳng
giữa ngân hàng và doanh nghiệp, lấy quan hệ kinh tế hàng hoá làm điểm nâng
đỡ, đồng thời phát triển quan hệ tín dụng nhiều tầng bao gồm cả tín dụng
thương nghiệp, tín dụng tiêu dùng, quỹ tín dụng...., thiết thực cải thiện tình
trạng doanh nghiệp.
1.2.4. Nâng cao trình độ quản lý và dịch vụ tín dụng
Trình độ quản lý và phục vụ tín dụng phản ánh địa vị và vai trò của
một ngân hàng trong phát triển kinh tế địa phương. Trong tình hình hiện nay
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp giảm sút, ý thức tín dụng kém, chất lượng
tiền vốn xấu đi, trình độ quản lý và phục vụ tín dụng càng trở thành khâu then
chốt quyết định ngân hàng có thể phát triển ổn định hay không. Do vậy, NHTM
phải nỗ lực hoàn thiện cơ chế giữ và tăng giá trị tiền vốn tín dụng, nâng cao đến
mức tối đa hiệu quả kinh tế. Vì vậy các ngân hàng tiếp tục tăng cường công tác
trên các phương diện sau:
- Kiên trì áp dụng các kỹ thuật xếp hạng tín dụng nhất quán với các
thiện phục vụ có thể nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng, đồng thời do sự
gia tăng trong cạnh tranh, ép các ngân hàng buộc phải cải thiện dịch vụ.
- Đối với các NHTM QD cần tăng cường phục vụ doanh nghiệp nhà
nước (DNNN). Ở Trung Quốc, DNNN luôn là xương sống của nền kinh tế quốc
dân, dù trong tình hình sau cải cách kết cấu kinh tế quốc dân phát sinh những
biến động lớn, trên các mặt: tăng giá trị, lợi nhuận, thu thuế, mức độ ảnh hưởng
và mức độ điều tiết DNNN vẫn là cây trụ đá giữa dòng trong nền kinh tế Trung
Quốc. Nhưng, hiện nay sau khi DNNN bước vào giai đoạn đánh trận quyết định
chuyển đổi thể chế và điều chỉnh kết cấu, khá nhiều doanh nghiệp gặp phải rất
nhiều vấn đề từ tầng sâu mang tính tổng hợp, như cơ chế kinh doanh không linh
hoạt, cải tạo kĩ thuật lạc hậu, về tổng thể thể hiện ở chỗ DNNN còn chưa thích
ứng được với những thay đổi và yêu cầu của nền kinh tế thị trường. NHTM QD,
với tư cách là một kênh chính cung ứng tiền tệ cho các DNNN, phát huy vai trò
quan trọng trong việc nâng đỡ các DNNN tồn tại và phát triển.
- Điều chỉnh các chính sách cho vay liên quan đến việc cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ vay vốn. Đó là, các ngân hàng đã nhấn mạnh đến tầm quan
trọng trong việc thành lập các bộ phận phụ trách công tác cấp vốn vay cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những biện pháp khác được đưa ra là việc xác lập
một hệ thống đánh giá độ tin cậy phù hợp với các doanh nghiệp này và quy định
quyền hạn cấp vốn lưu động, tăng giới hạn của lãi suất thả nổi đối với vốn cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay, tạo ra cơ chế hạn chế và kích thích để tăng
cường hoạt động marketing vốn vay, tăng hiệu quả của vốn cho vay và tăng
cường công tác đổi mới hoạt động cho vay vốn.
- Tăng cường các khoản cho vay tiêu dùng đối với khách hàng. Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, các hộ gia đình ngày càng có xu
hướng vay mượn để chi tiêu xây nhà và mua sắm ô tô. Các khoản vay cho chi
tiêu từ ngân hàng Thương mại và Công nghiệp Trung Quốc- một NHTM lớn
nhất nước hiện nay- đã tăng 32 lần trong vòng 4 năm qua. Theo sổ nợ của các
ngân hàng, người tiêu dùng được vay từ 4 NHTM QD lớn đã tăng từ 1% lên
10% kể từ năm 1999 (Xem bảng 3). Điều này cho thấy một tín hiệu khả quan