ụ
ít ĩ
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Dề tài!
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO TỚI MỘT số
NGÀNH
KINH TẾ CHỦ CHỐT CỦA
TRUNG
QUỐC VÀ
NHỮNG
BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT
NAM
Sinh
viên thực hiện
Lớp
Khóa
NÓI ĐẦU
1
CWÍƠHQ 1 :
VẤN ĐỀ
GIA
NHẬP Tồ
CHÚC THUƠNG MẠI THẾ
GIỚI
CỦA
TRUNG QUỐC
3
ì. Quá trình đàm phán
gia
nhập
WTO
của Trung
Quốc
3
1.
Quá trình đàm phán đa phương
3
2.
Quá trình đàm phán
song
phương
6
3.
Tại
sao quá trình
đàm
pháp
18
2.
Chính sách
thuế
quan
20
3. Trong
lĩnh
vấc
dịch
vụ
21
4.
Vấn
để sở hữu
trí
tuệ
23
CHÚƯNCỊ
2 : TÁC
ĐỘNG
CỦA
VIỆC
GIA NHẬP WTO TỚI MỘT số
NGÀNH
KINH
TẾ
CHỦ
CHỐT
gia
nhập
WTO 28
n.
Tác động đến ngành nông
nghiệp
30
1.
Vài
nét về
nông
nghiệp Trung
Quốc
30
2.
Dấ
báo
những
ảnh
hường
tới
nông
nghiệp
32
3. Đối
sách
của Trung
Quốc
trong
lĩnh
2.
Tác động
đến
một
số
ngành công
nghiệp
cụ
thể
40
2. Ì
Ngành
sản
xuất
ôtô
40
2.2 Ngành
dệt
may
42
2.3 Các ngành công
nghiệp
khác
45
3. Đối
sách
của Trung
Quốc
trong
lĩnh
chung
52
3.
Tác động đến một
số
ngành
dịch
vụ cụ
thể
53
3.1.
Ngân hàng
53
3.2.
Bảo
hiểm
56
3.3.
Bưu chính
viỌn
thông
57
4. Đối
sách
của Trung
Quốc
trong
lĩnh
vực
dịch
TỚI
KINH
TẾ
TRUNG QUỐC 63
ì.
Trung
Quốc
sau gần 5 năm
gia
nhập
WTO 63
1.
Gia
nhập
WTO
có ảnh
hưởng
tích
cực
đến
sự
phát
triển
kinh tế
Trung
Quốc
.
63
1.1
Tăng
Quốc phát
triển
69
1.5 Pháp
luật
ngày càng hoàn
thiện
hơn
70
1.6
Tham
gia
sâu hơn vào
toàn
cầu hoa kinh tế
70
2.
Những
vấn
đề
chủ yếu đặt ra cho
Trung
Quốc
sau khi gia
nhập
WTO 71
2.1
Xung
đột
thương
Việt
Nam 77
Ì. Linh
hoạt
trong
thực
hiện
các
cam
kết,
nợm
vững
và
vận
dụng
triệt
đế các quy
định
của
WTO 78
2.
Điều
chỉnh
chính sách
kinh tế
nhằm nâng cao
sức
cạnh
tranh, tận
dụng
tợc
và cơ
chế
cùa
WTO
để ứng phó
có
hiệu
quả
với
các
tranh
chấp
thương
mại
82
7. Cải
cách
đối
nội,
tăng cường
nội lực
83
8. Cải
cách hành chính và bộ máy
điều
hành
của
chính phủ
84
phục
vụ
hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
87
12.
Đào
tạo
và
thu hút
nguồn
nhân
lực
có
trình
độ
cao
87
KẾT LUẬN 89
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 90
hòi
nói
mu.
1. Tính cấp
thiết
và
Việt
Nam
cũng
không nằm ngoài xu
thế
chung này.
"Phúc" hay
"hoa"
đến
với
mỗi quốc
gia
như
thế
nào còn
tuy
thuộc
vào
sự
nỗ
lực
chù
quan của quốc
gia
đó
trong bối
cảnh
khách
quan đẩy
quan
trọng nhất, hiện thu
hút
tới
149
quốc
gia
thành viên và
chi phối
trên 95%
tỏng
kim
ngạch
thương mại toàn
thế
giới
chính
là
mục tiêu
chung của
các nước
trong
xu
hướng
mở
cửa
và
hội
nhập
kinh tế.
-
xã
hội
của
Trung
Quốc.
Tuy nhiên chúng
ta
đều
có
thể
nhận
thấy
rằng
sau
gần 5 năm
tham
gia
vào ngôi nhà
chung
WTO, đã có
rất
nhiều
ảnh
hưởng
tới
nền
kinh tế
Trang
Quốc,
của
Việt
Nam
khi gia
nhập
WTO không
giống
như
Trung
Quốc
với
ý
thức
"Trung
Quốc không
thể
thiếu
WTO và WTO
cũng
không
thể
thiếu
Trung
Quốc",
nhưng là nước đi
sau
và là nước láng
giềng
với
khá
kinh tế
phát
triển
một cách
hiệu
quả và hạn
chế
những
thua
thiệt
mà quá
trình
cạnh
tranh
không hề cân
sức
này
mang
lại.
Chính
vì
lí
do
này,
em đã
chọn
đề
tài
:
'Tác động của
tài
tập
trang
phân tích các tác động
từ
việc
Trung
Quốc
gia
nhập
Tổ
chức
Thương mại Thế
giới
(WTO)
tới
một
số
ngành
kinh tế
cùa nước
này,
qua đó đưa
ra
những
gợi
ý cho
Việt
Nam nhằm thúc đẩy các ảnh
hưởng
là
một số
ngành
kinh tế
chặ
chốt
cặa Trung
Quốc
-
đặc
điểm,
tác
động,
đối
sách và
thực
trạng
cặa
các ngành này
từ
sau
khi
Trung
Quốc
gia
nhập
WTO
cho đến nay.
4. Phương pháp
nehiên
Kết
luận,
đề
tài
gồm 3 chương:
Chương
ì:
Vấn đề
gia
nhập
Tổ
chức
Thương
mại Thế
giới
cặa Trung
Quốc
Chương
li:
Tác động
cặa
việc gia
nhập
WTO
tới
một
số
ngành
kinh tế
chù
chế về
kiến thức,
thời
gian
cũng
như
nguồn tài
liệu
tham khảo
nên
khoa
luận
không tránh
khỏi
có
những chỗ
thiếu
sót.
Em
rất
mong
nhận
được sự
góp
ý,
bổ
sung cặa
các
thầy
cô giáo và các bạn để
này.
Hà
Nội,
tháng
lo
năm
2006
Sinh
viên
thực
hiện
Đường
Thị
Phương Dung
2
mAÙlQỊ:
VAN BỀ GIA
NHẬP
Tổ
CHỨC
THƯƠNG
MẠI THÊ
GIÓI
CỦA
TRUNG
Quốc
ì. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA TRUNG QUỐC
Ị.
Quá
trình
chính phủ
quốc
dân
Đảng
ở
Đài
Loan
lấy
danh nghĩa "Trung
Hoa dân
quốc"
tuyên bố
rút
khỏi
GATT. Sự
rút
lui
này
bị
các nước liên
quan
hoài
nghi
và
ngay
bản thân Chính phủ
Trung
Quốc
cũng
không công
cho Trang
Quốc
nữa.
Mặc dù
vậy, trong suốt
hơn ba
chục
năm
sau đó,
do hàng
loạt
các nguyên nhân chủ
quan
và
khách
quan
khiến
Trang
Quốc vẫn chưa
có
liên
hệ
gì
với
GATT.
Cho đến
khi
chính sách
cải
cách,
tế.
Chính vì vậy
mà
ngày
11/7/1986
,
Đại
sứ
Trang
Quốc
tại
Liên hữp
quốc
-
Tiền
Gia
Đông
- đã
gửi
công
hàm
cho
GATT,
chính
thức
đề
xuất việc
chính phủ
Trang
Quốc
ngoại
thương
Trung
Quốc" lên Ban thư ký
GATT.
Đến tháng 6/1987
GATT
đã thành
lập
"Nhóm
công
tác
về
địa
vị
nước
tham
gia
ký
kết
Hiệp
định
chung của Trung
Quốc"
,
mờ
đẩu
cho
việc
Trung
các
biện
pháp
mở
cửa
và
cải
cách
thể
chế
mậu
dịch,
tăng
cường
đàm
phán
với
các bên
ký
kết hiệp
định
chủ
yếu.
Quá trình
đàm
phán
gia
nhập
WTO
của
tập trung
vào
5
vẫn
đề chính
là: (1)
Thực
thi
rõ ràng và
thống
nhất
các chính sách thương
mại; (2) cắt
giảm
thuế
quan;
(3)
Các
biện
pháp
phi
thuế
quan;
(4)
Thời
gian biểu cải
cách giá
cả; (5)
Các
điều
lí
thương mại (mở cửa
thị
trường thương mại hàng hoa
và
tự
do
hóa thương
mại) của
Trang
Quốc,
mà
chưa đề
cập
toàn
diện
đến
vẫn
đề về
quyền
sở
hữu
trí tuệ,
biện
pháp
đẩu tư
và
thị
trường
thương
đã
đạt
được
thoa
thuận
về
những
vấn
đề
chính liên
quan
đến
việc
tái
gia
nhập
GATT.
Thông qua
7
lần
Hội
nghị,
nhóm công
tác
về
Trung
Quốc đã cơ
bản kết
thúc
việc trả
thảo
trên
giấy,
những
thoa
thuận
chung
trong
đàm phán cả
song
phương
cũng
như đa
phương
cũng
đã cơ
bản đạt
được.
Việc
tái gia
nhập
GATT
của
Trang
Quốc đến lúc
đó
tưởng
chừng
như đã
đạt kết quả.
đối vởi
nưởc này. Kết thúc
giai
đoạn
này,
cơ
hội
mà
Trung
Quốc
Mỏng
chừng
đã
nắm
chắc
trong tay
lại
bị
tuột
mất.
1.2
Giai
đoạn 1989 -1992
Nhóm công
tác mở hội
nghị
lần thứ 8, 9 và lo , đây
được
xem là
giai
Trung
Quốc. Bẽn
cạnh
đó
còn một số nguyên nhân khác dẫn
đến việc
đàm phán
của
Trung
Quốc
bị
đình
trệ
,
đó
là:
•
Do
kinh tí
phát
triển
quá nóng và lạm phát
ở mức
cao,
Trung
Quốc
đã
thực
hiện
chương trình "Chẩn đốn
• Vòng đàm phán Urugoay rơi vào bế tắc, cuộc chiến về nông sản giữa Mỹ và
châu
Âu
lên đến cao
trào,
các bên không còn
thời
gian
để
quan
tâm
tới
vọn đề cùa
Trung
Quốc .
1.3 Giai đoạn 1992 -1995
Tháng
10/1992,
Tổ
công tác về
Trung
Quốc họp phiên
thứ
li,
đại biểu
Trung
Quốc tuyên bố
:
Trung
Quốc xây
từ
giai
đoạn
hỏi
đáp
chuyển
sang
giai
đoạn
đàm
phán
thực chọt
về
quyền
lợi
và
nghĩa
vụ cho
phép
đi
vào
thị
trường.
Trung
Quốc
có
nhiều
bước
tiến
mạnh
đề
cập tói
quản
lí
thương
mại,
các
biện
pháp
thuế
quan
và
phi thuế
quan
mà
còn đề
cập
đến các
vọn
để
về
quyền
sở hữu
trí
tuệ,
mở
cửa
thị
trường
dịch
càng đàm phán
thì nội
dung
càng
rộng
và
càng đàm phán
thì
quyền
lợi
của
phía
Trung
Quốc càng
mơ
hồ.
1.4
Giai
đoạn 1995
-
2001
Ngày
1/1/1995,
Tổ
chức
Thương
mại Thế
giới
(WTO)
được thành
Thương mại Thế
giới
quyết
định
tiếp
nhận
Trung
Quốc
làm
quan
sát viên của tổ
chức
này.
Tháng
11/1995
Nhóm công tác về
vọn
đề
Trung
Quốc
tái gia
nhập
GATT
đổi
tên
thành Nhóm công
tác về
Trung
Quốc
gia
sự thống nhất
vói
Trang
Quốc về vấn đề
này)
và
sau
đó
cũng
trong
năm
này, Trung
Quốc
lần lượt
ký
kết
Hiệp
định
kết
thúc đàm phán cho phép thâm
nhập
thị
trường
với
một số nước
khác.
Đáng chú ý
trong
thời
kỳ
điều
kiện
cho
Trung
Quốc nhưng
một
mặt
lại
không
muốn
người
khác
nhanh
chân hơn mình
trong việc
chiếm lĩnh thị
trường
lớn,
béo bở
này.
Do vậy
từ
cuối
năm 1999
lần lượt
các
đối
tác lòn như Mỹ,
Canada,
EU
:
Nghị định
thu gia
nhập,
báo cáo của nhóm công
tác,
các phụ
lục
của
Nghị
định
thư
và
quyết
định
trình
lên
Hội
nghị
thường
trực
WTO
thẩm duyệt.
Sau
hơn 15 năm đàm
phán,
ngày
10/11/2001
tại
Doha
thức
trở
thành thành viên
thứ
143
của
WTO .
2.
Quá trình đàm phán song phương
Có tất cả 37 thành viên của WTO đã bày tụ
mong
muốn
tiếp
cận và ký các cam
kết
song
phương
với Trung
Quốc như Mỹ,
Canada,
Thúy Sỹ, Nauy, Thái Lan
Mehico (15
nước thành viên của Liên
minh
châu Âu được tính làm
một).
Các
cam
kết song
phương là một
phương vói
phần
lớn
các thành viên khác của WTO sau
khi
họ ký
kết
được
Hiệp
định
song
phương
với
Mỹ vào
11/1999,
đây vốn được
coi
là
trở
ngại
lớn
nhất
vói
Trung
Quốc
trong
quá trình đàm phán
gia
nhập
WTO. Để
Với
những
nhượng bộ
nhất
định bên
canh
sự kiên
định
với
nguyên
tắc
đã đề
ra của
chính
phủ
Trung
Quốc
trong
nỗ
lực gia
nhập
WTO,
tểng
cộng
13 năm
thoa
thuận
và 6 ngày thương lượng nước rút đã đem
lại kết
quả
bản,
nhất
quán đã được đề ra
ngay
từ ban
đầu
là: (1)
Trung
Quốc
gia
nhập
WTO
với tư
cách một nước đang phát
triển
; (2)
Trung
Quốc
phải
gánh vác
nghĩa
vụ tương
xứng
với
thực
lực
của mình ;
(3)
Trung
Quốc
Quốc là
trong
lĩnh
vực
dịch
vụ.
Trung
Quốc cho phép phía nước ngoài được sở hữu 49% cể
phẩn
ban đầu
của
các công
ty
viễn
thông và
sau
2 năm
gia
nhập
WTO
sẽ
tăng con số
này lên
50%.
Hay như
về
điện
ảnh,
Mỹ đòi
Trung
để các ngân hàng nước ngoài được
kinh
doanh
lẻ tiền tệ,
được
cho các xí
nghiệp
Trung
Quốc vay
bằng
đồng NDT sau 2 năm nước này
gia
nhập
WTO và
sau
5 năm
thì
cho phép các ngân hàng nước ngoài bán
lẻ lẻ tiền tệ
Nhưng ngược
lại
Mỹ
cũng
phải
nhượng bộ
Trung
Quốc
nhiều
điểu,
chẳng
việc
Mỹ
chấp
nhận
dành cho
Trung
Quốc
quy chế
tối
huệ
quốc
(MEN) lâu
dài.
Một đối
tác
quan
trọng
trong
đàm phán đa phương khác
của
Trung
Quốc
là
Liên
minh
châu Âu
(EU).
Sau
nhiều
lần
với
các thành viên
khác,
quá trình đàm phán
gia
nhập
WTO
của
Trung
Quốc
khó khăn và kéo
dài
hơn
cả.
Trải
qua 15 năm nỗ
lực
và cố
gắng
Trung
Quốc mới có
thể trở
thành thành viên chính
thức
của
WTO. Quá trình đàm phán
qia
nhập
WTO
của
lẩn
khác,
Trung
Quốc
vẫn vấp
phải
những
trở
ngại
trong
đàm
phán.
Nguyên nhân có
thể
thấy
ở cả
nhân
tố chủ
quan
cũng
như khách
quan
:
3.1 Vấn đề
tư
cách
gia
nhập của Trung Quốc
Một
thành viên
5 năm
sau khi gia
nhập
WTO, được
trợ
giá nông phẩm
tối
đa 10%
trong
thời
kỳ quá độ Còn
với
tư cách
một
nước phát
triển thì
thời
hạn
khống
chế
đầu tư
chỉ
là 2 năm
,
mức
trợ
giá nóng
sản tối
đa
cũng
Quốc
cũng
sẽ
phải
điểu
chỉnh
lại
và nâng mức đóng góp cho các
tổ
chức
quốc
tế
khác như
IMF,
WB RÕ
ràng
những
nghĩa
vụ này là cao hơn
rất
nhiều
so vói
nghĩa
vụ của một nước đang
phát
triển.
Các bên đàm phán
muốn
Trung
Quốc
ra
các
ví
dụ
như
: sản
lượng
hàng hoa
của
nhiều
ngành công
nghiệp
trọng
yếu của
Trung
Quốc
đã đứng đầu
thế giới
(gang,
thép,
than,
bông,
xi
măng );
các ngành cóng
nghiệp
vũ
trụ
và vũ khí
hạt
khoảng
902 USD vào
năm
2001
(còn tính
theo
sức mua tương đương là
2200
USD)
[16]
như
vậy
là đểu
cao
hơn các nước đang phát
triển
thông
thường,
gần
bằng
nước phát
triển.
Trong
khi
đó
Trung
Quốc luôn xác định
gia
nhập
WTO vói tư cách một nước đang phát
của các ngành công
nghệ
cao ỏ
Trang
Quốc
lại
càng nhỏ hơn
nhiều;
kim ngạch
xuất
khẩu của Trung
Quốc
chầ chiếm khoảng
3%
tổng
kim ngạch
xuất
khẩu của
thế
giới thêm
vào
đó, Trung
Quốc
hiện
cũng
đang
phải đối
mặt
với
hầu
thuận
song
phương
cũng
như đa phương. Cuộc đàm phán
rồi
cũng
đi đến
kết
thúc
khi
các nước thành viên WTO
phải
chấp nhận
việc
Trung
Quốc
gia
nhập
WTO
với
tư
cách một nước đang phát
triển
.
3.2 Yêu cầu của
các
bèn đàm phán
Các bên đàm phán
quan
1994,
các bên đàm phán yêu
cầu Trung
Quốc
giảm
mức
thuế
nhập khẩu
bình quân
từ
44,6%
năm 1992
xuống
còn
8,96%.
Năm 1997,
Mỹ
lại
yêu cầu
giảm
thuế suất
bình quân của
4037
sản phẩm công
nghiệp
Trung
Quốc
xuống
6,9%. Những yêu cầu này
Trung
Quốc
phải
đưa
ra lịch
trình huy bỏ toàn bộ hàng rào
phi
thuế
quan.
+ Về
sản
phẩm nông
nghiệp
:
Trang
Quốc
bị
yêu câu
ngay sau
khi gia
nhập
WTO
phải lập tức
giảm
thuế
bằng
mức
với
các nước phát
triển
như
mức độ
tự
do hoa
trong
chính sách
thương mại của các nước thành viên WTO càng cao hơn nên
những
yêu cầu
của
họ
với
Trung
Quốc
tất
nhiên
cũng sẽ cao hơn.
Ví dụ
về
yêu
cầu của
EU năm 1992
:
hạn
9
chế
tối
đa mức
thuế
nhập khẩu
của
quan xuống
còn 8%
[11]
.
3.3 Các vấn để
cẩn
thảo luận
Không như
trước
đây
khi gia
nhập
GATT,
các nước đang phát
triển
hầu như
chỉ
cam
kết
về
thuế
quan
và
phi thuế
quan,
nên
chi
cần nhưừng bộ nhỏ
là
đưừc.
tiêu
chuẩn
bảo hộ
lao
động Chính vì
điều
này mà có ý
kiến
cho
rằng
việc
Trung
Quốc nỗ
lực
gia
nhập
WTO như
bắn
vào một tấm
bia
di
động,
bởi
ngay bản
thân WTO
cũng
liên
tục
thay đổi.
3.4 Tác động của một
Quốc ở
Belgrade
- Nam Tư
(5/1999)
.Những
sự
kiện
này đã làm
quan
hệ
Trung
Quốc - Mỹ nói
riêng
và
quan
hệ
giữa
Trung
Quốc vói nước ngoài nói
chung
thêm căng
thẳng,
do
vậy cũng
góp
phần
làm
cho
tiến
trình
Trung
Quốc vẫn còn
nhiều
điểm
chưa hoàn
thiện,
vẫn tồn tại
những
cách
biệt
nhất
định
với
các yêu
cầu của
WTO, mức độ mở
cửa
cùa
nhiều
ngành còn
thấp
hơn
so
với
mức độ
chung của
các nước thành viên WTO
.
3.6
Nhiều nước
Quốc
muốn
lãnh đạo
thế giới.
Kinh
tế
Trung
Quốc đã và đang tăng trưởng vói
tốc
độ
cao,
điều
này đang làm tăng
vai
trò của
Trang
Quốc
trong
thế giới
đang phát
triển
và cả
thế giới
phát
triển.
Nếu
tiếp tục giữ
mức phát
triển
này thì
kịp
phương
Tây,
điều
khiển
Âu -Mỹ "
của
nhiều
thế hị
người
Trung
Quốc sẽ có
thể đạt
được,
Trang
Quốc sẽ
chuyến
từ chỗ chi
phối
thế giới
sang
lãnh
đạo
thế giới.
+
Trung
Quốc vói sự
trỗi
dậy của
nhiều
mạnh
vào các
thị
trường
lớn
vói
những
ưu
thế
như
:
giá
rẻ,
hàng hoa có
nhiều
chủng
loại,
mẫu mã
phong
phú,
cùng
một loại
hàng
lại
có
nhiều
dòng sản phẩm
với
các cấp
chất
thị
trường
thế giới, ví
dụ như 50% máy
ảnh,
30% máy
điều
hoa và
tivi,
25%
tủ
lạnh
trên
thế giới
có
xuất
xứ
từ
Trung
Quốc.
Rất
nhiều
sản
phẩm
,
hàng hoa có
nguồn
gốc
Trung
Quốc đang
tế
của
Trung
Quốc
.
+ Đuợc
gia
nhập
WTO,
Trung
Quốc sẽ
là
thành viên
với vị thế là
nhà
xuất
khẩu
lớn thứ bảy,
nhà
nhập
khẩu
lớn thứ
tám
về
thương
mại
hàng
hoa,
và
là
thực
lực
kinh
tế
không
ngừng
gia
tăng,
ưu
thế của
nước đi sau,
thêm vào đó là
thị
trường
nội địa
khổng
lồ
và sự phát
triển
đa
ngành,
Trung
Quốc
đang là
điểm
đến có sức hấp dẫn cực
mạnh
cả vẻ
vốn,
kỹ
của
Trung
Quốc .
li
3.7
Lí do về
mặt
chính
trị
Các nước phương Tây luôn
coi
Trung
Quốc
là
thách
thức lớn nhất đối
vói
thế
giói
một
cực mà họ
ra
sức
tạo
ra.
Do vậy
ngay
từ
đẩu các nưóc này đã
coi
đàm phán
buộc
Trung
Quốc
phổi thực
hiện cổi
cách
theo
ý cùa
họ.
Mặt
khác,
Trung
Quốc
là
một
thị
trường
khổng
lồ,
có bước phát
triển
nhanh,
vai
trò của
Trung
Quốc
trong
nền
kinh
thể.
Bổn Nghị định thư
gia
nhập
trong
đó
Trung
Quốc
giổi
trình
việc
họ
sẽ
tuân
thủ
những
nguyên
tắc
của
WTO như
thế
nào dài
tới
11
trang,
so
với
các ứng viên khác
của
WTO
đi
đến bổn
thoa thuận
cuối
cùng.
Thoa
thuận gia
nhập
WTO của
Trung
Quốc được ký
kết
có một khuôn
khổ rộng,
bao gồm
khoổng
700 cam
kết thể
hiện
những
thay đổi
sẽ
diễn
ra
ở
tất
cổ
các ngành, các
lĩnh
vục cùa nền
của
Tổ
chức
Thương mại
Thế
giới.
Có 7
loại
cam
kết
khác
nhau
liên
quan
đến
chế
độ thương mại
trong
Nghị định
thư
gia
nhập.
Một
số
loại
cam
kết
đòi
hỏi
những
những
cam
kết
xác định
nghĩa
vụ của
Trung
Quốc
trong việc
phổi thực
hiện
các nguyên
tắc
minh
bạch,
không phân
biệt
đối
xử
giữa
doanh
nghiệp
trong
nước và
doanh
nghiệp
nước
ngoài Cụ
thể
các cam
thuế suất
áp
dụng
với
một
số
mặt hàng
cụ thể như:
thịt
bò
(45%
xuống
12%), gia
cầm
(20%
xuống
10%),
nho
(40%
xuống
12%),
rượu
(65%
xuống
20%),
pho mát
(50%
xuống
12%) Một
số
ngạch
nhập
khẩu
với nhiều
nông
sản
đều tăng
lên,
chẳng
hạn so sánh
năm 2000 và
2004,
hạn
ngạch
nhập
khẩu
lúa mì tăng
từ
7
triệu
lên gần
lo
triệu
tấn,
ngô
từ
hơn 4
triệu
tấn lẽn
hơn 7
Từ 1/1/2002
Trung
Quốc
thực hiện việc
cắt
giảm
gần 1/3
thuế
nhập
khẩu
đối với
các
loại
ôtô
nhập
khẩu.
Thuế đánh vào các
loại
ôtô trên 3000 phân
khối
được
giảm
từ
80%
xuống
còn
50,7%;
vói các
loại
xe
Trang
Quốc dao động
trong
khoảng
từ 80% đến 100%
,
đến tháng
7/2006
mức
thuế suất
đó sẽ
giảm
còn 25%
,
thuế suất đối
vói phụ tùng ôtô
cũng
sẽ
giảm
từ 23,4%
xuống
còn 10%
.
Hạn
ngạch
nhập
khẩu
ôtô
cũng
được bỗ hẳn vào
dụng
các
biện
pháp hạn
chế
nhập
khẩu
trong
trường hợp các
sản
phẩm
dệt
may
xuất
khẩu
của
Trung
Quốc gây
ra
tình
trạng
mất
thị
trường
của
các nhà
sản xuất của
các nước thành viên.
13
4.
sẽ
mỏ cửa
lĩnh
vực phân
phối
bán
lẻ
mặt hàng này sau 3 năm
gia
nhập
WTO và cho
phép các công
ty
nước ngoài có ít
nhất
30% cị
phẩn
ở mỗi
trạm
xăng
dầu.
Thị
trường
bán buôn xăng
dầu Trung
Quốc
sẽ
được mở
cửa sau
5 năm
năm 2003 họ có
thể
bán bảo
hiểm
y
tế
và đến năm 2004 có
thể
bán các hợp đồng bảo
hiểm
tập thể.
Ban đầu các
đối
tác
nước ngoài có
thể
chiếm
51%
vốn
đầu tư
cho
bảo
hiểm
thương
mại,
2 năm
sau
tỷ lệ
này có
thể
những
bảo đảm hợp pháp để
kiểm
soát vốn
tốt
hơn.
6.
Về
hoạt
đông của các ngân hàng nưức ngoài
Khi
chính
thức
gia
nhập
WTO
,
Trung
Quốc
sẽ
phải
tiến
hành một
số
cam
kết
nhu:
• Xoa bỏ
hạn chế về khu vực
và khách hàng
ngân hàng có vốn đầu tư nước
ngoài.
Khi
gia
nhập
sẽ thực
hiện
ở Thâm Quyến,
Thượng
Hải,
Thiên Tân,
Đại
Liên; sau 2 năm sẽ
thực
hiện
tại
Quảng Châu,
Thanh
Đảo,
Nam
Kinh,
Vũ
Hán,
Tế Nam, Phúc
Châu,
Thành
Đô,
Trùng Khánh;
5 năm
sau
nghiệp
Trung
Quốc; sau 5 năm
thì cho
phép
kinh
doanh
nghiệp
vụ đó
vói
tất
cả
các khách hàng
Trung
Quốc .
•
Việc
thanh
toán,
giải
ngân
bằng
NDT
trước
hết
được áp
dụng
ở 4 thành phố
lớn
và sau 5 năm sẽ được áp
thị
trưứng
tiền
cho
vay
là
ngoại
hối,
15%
thị
trưứng
tiền
cho vay là
NDT.
• Sau 5 năm
gia
nhập
WTO,
xoa
bỏ
tất
cả
các
biện
pháp
hiện
hành có
tính
chất
hạn
duyệt
tương
tự
như ngân hàng
Trung
Quốc
.
7. Về phân
phối
Sau khi
Trung
Quốc
gia
nhập
WTO được Ì năm
,
các nhà
cung
cấp
dịch
vụ nước
ngoài được
tham
gia
liên
doanh
kinh
doanh
bán
buôn.
ở 5 đặc khu
kinh tế
(Thâm
Quyến,
Chu
Hải,
Sán Dầu, Hạ Môn và
Hải
Nam
)
và ồ 4 thành
phố
(Thiên
Tân,
Quảng
Châu,
Đại
Liên và
Thanh
Đảo)
8. Về
viễn
thông
Các cam kết chính đòi hỏi
phải
bỏ một
phần
các hạn chế
tiếp
cận thị trưứng, đặc
bản.
Định
nghĩa
được sử
dụng
trong lịch
trình là
:
dịch
vụ viên
thông cơ
bản
bao gồm
dịch
vụ
nội hạt,
đưứng dài và
quốc
tế,
sử
dụng
công
cộng
và
phi
công
cộng;
có
thể
được
vục
này được tăng lên
25%,
một năm sau
tỷ lệ
này là 35% và 3 năm sau là
49%.
Các
hợp
đồng thuê mua cùa ngành này
cũng
được
tự
do
hoa.
15
9. Với
các
dịch
vu
ĩnternet
và
truyền
thông
Các công
ty
nước ngoài có
thể
nắm
giữ
Dịch vụ
viễn
thõng đường dài và có dây cố định sẽ được mở
cửa
ờ mức
25%
sau 3 năm và 49% sau 6 năm.
Trung
Quốc đồng ý
tham
gia
Hiệp
định công
nghệ
thông
tin (ITA)
và cam
kết xoa
bỏ
thuế
vói
các
sản
phầm
thuộc
danh
sách ITA
bao
gồm
:
thực
thi
Hiệp
định về
các
lĩnh
vực
liên
quan
đến thương
mại bản
quyền
(TRIPS).
lo.
Mót
số
cam
kết
khác
•
Trung
Quốc có
thể
duy
trì
thương mại hàng hoa của nhà nước vói một số mặt
hàng như lương
thực,
thuốc
lá,
sau khi
gia
nhập
WTO và sẽ
từng
bước
sửa đổi
hệ
thống
pháp
luật
cho phù hợp
với
các
quy
định của WTO.
Đồng
thòi nước này sẽ bãi bỏ các
biện
pháp
quản
lí
bằng
hạn
ngạch.
•
Trung
Quốc cam
kết
thực
các nước thành viên WTO đều có
thể
vào
Trung
Quốc
kinh
doanh
và hưởng sự
ưu
đãi
cũng
như các quy
chế
giống
nhu
vói
các công
ty
Trung
Quốc
.
Tuy
nhiên,
các
nước
thành viên WTO
vẫn
duy
trì
3
áp
dụng
các
biện
pháp
tự vệ đối
16
vói hàng
nhập
khẩu từ Trung
Quốc nếu
những
hàng hoa này gây
tổn hại
nghiêm
trọng
đến
nền
công
nghiệp
nội
địa của
họ.
Thêm vào
đó,
nếu một nước viên đến cớ
giải
quyết
tranh
chấp
khẩu Trung
Quốc phá vỡ
thị
trường
của họ.
Thứ
hai,
cho dù
mọi
hạn
ngạch
đối
với
hàng
xuất
khẩu dệt
may
của Trung
Quốc
sẽ bị
dỡ bỏ vào ngày 1/1/2005
thì vẫn sẽ
có cơ
chế bảo
vệ đỡc
biệt
được
đật ra
cho
tới
sẽ bị
trừng
trị
bởi
mức
thuế
phạt
bán phá giá áp
dụng
cho nền
kinh
tế phi thị
trường.
Các nước
nhập
khẩu
hàng
Trung
Quốc có
thể
sử
dụng
giá
hoỡc
chi
phí
của
các
sản
phẩm tương
Mở
cửa
thị
trường
:
Trung
Quốc cam
kết cắt giảm
đúng
lịch
trình
nhiều
loại
thuế
quan
và hàng rào
phi
thuế
quan,
đỡc
biệt
mở cửa đáng kể khu vực
dịch
vụ
cho sự tham
gia
của
các
đối
tác
kết
tuân
thủ
Cơ
chế
giám
sát chuyển đổi
đỡc
biệt
trong
10 năm đầu
sau
khi gia
nhập
WTO.
Trung
Quốc cam
kết cắt
giảm
và
loại
bỏ các hàng rào
thuế
quan,
hầu
hết là
đến năm
2004
và không
có
đỡc
biệt
áp
dụng
cho
trợ
cấp sản
xuất
trong
nước
trong
lĩnh
vực
nông
nghiệp
và đổng ý không
sử
dụng
trợ
cấp
xuất
khẩu.
+ Nguyên
tắc
Thương mại không
bị
bóp méo
: Trung
Quốc cam
kết
cấp
cũng
như một cơ
chế
tự
vệ
đạc
biệt
cho
các hàng hoa cụ
thể
và cơ
chế
tự
vệ
về hàng
dệt
may riêng
biệt
mà các thành
viên
khác yêu
cầu.
HI.
VIỆC
THỰC
HIỆN
CÁC CAM KẾT CỦA
TRUNG
QUửC
đối
mặt
vói không
ít
khó
khăn,
thách
thức.
Trung
Quốc
gia
nhập
WTO đổng
nghĩa
với
việc
tham
gia
sâu
rộng
hơn vào
cạnh
tranh
quốc
tế,
buộc
các ngành
sản
xuất
trong
các mối
quan
hệ
kinh tế
toàn
cầu,
thúc đẩy
cạnh
tranh
và
khẳng
định mình trên trường
quốc
tế.
Vậy cho
tói
nay,
sau
gần 5 năm
gia
nhập
WTO,
Trung
Quốc đã
thực
hiện
các cam
kết
của
mình như
lập
khuôn khổ pháp
luật
và các quy định
điều chỉnh
việc
buôn bán hàng
hoa, dịch
vụ
bằng
cách tôn
trọng
các nguyên
tắc
minh bạch
và nguyên
tấc đối
xử
quốc
gia
được
tổ
chức
này quy
định.
Nhiều
đạo
luật
và các quy định thương mại đã được
Hội
điều
lệ
liên
quan
đến mậu
dịch
trong
nước và nước
ngoài,
đầu tư nước
ngoài,
hợp tác
kinh tế đối
ngoại,
bảo vệ
quyền
tác
giả cũng
như các văn bản pháp
luật,
quy
định,
điều
lệ
liên
quan
đến thương mại
dịch
vụ.
Trong
Điều
lệ
quản lí
cơ cấu
tiền
tộ
vốn nước
ngoài,
Điều
lệ
quản
lí
doanh
nghiệp
viễn
thông đầu tư nước
ngoài;
hay như
Luật
bản
quyền,
Luật
nhãn
hiệu
thương
mại,
Điều
lệ
bảo hộ
phần
rộng
phạm
vi
các ngành được
khuyến
khích đầu tư
từ
186 lên
262,
các
khoản
mờc
hạn chế giảm từ
112
xuống
còn 75 mờc. Các hướng mới
tập
trung
thu
hút đầu tư
vào các
lĩnh
vực công
nghệ phờc
vờ nông
nghiệp,
công
nghệ cao,
vận
tải,
dịch
vờ
kế
toán
Sau
ba năm chính phủ đã
sửa
đổi
hơn
2500
loại
văn bản pháp
luật
và các quy chế
của
các bộ ngành,
trong
đó có
thể
kể đến
Luật
đầu tư nước ngoài,
Luật ngoại
thương Các
địa
phương đã
chỉnh
lí
hem 190 000 văn bản pháp quy
mang
duyệt
hành chính.
Nhằm
chỉ
đạo
thực hiện
tốt
hơn
những
cam
kết với
WTO, kỳ họp
thứ nhất
Quốc
hội
khoa
X
của
Trung
Quốc
(3/2003)
đã thông qua phương án
cải
tổ
một số
bộ,
cơ
quan ngang
bộ liên
quan
ban
phát
triển
và
cải
cách
quốc
gia.
Mờc tiêu là
tinh
giảm
bộ máy hành
chính,
xoa
bỏ
tình
trạng
chồng
chéo,
giảm
chân lên
nhau
giữa
các bộ và hạn
chế
sự
can
thiệp
của
chính phủ vào
bị
xoa
bỏ.
Quyển này được
giao
cho
các
tỉnh
và các đơn
vị
lãnh
thổ
khác,
các công
ty ngoại
thương
của
ngành và
của địa
phương,
các
liên
hiệp
xí
nghiệp
và các
xí
nghiệp
cờ
thể
Quốc
cũng
đã bãi bỏ
nhởng
hạn
chế
đối
vói hàng hóa nước ngoài của 7 bộ
luật
khác,
trong
đó có
nhởng
quy
định cấm và hạn
chế nhập khẩu
ôtô nước
ngoài,
cấm nước ngoài
tham
gia kinh
doanh hoặc
bán
lẻ
vào các ngành ở
nội
điạ như dầu
hoa,
dịch
vụ đấu
nhởng
cam kết vói WTO,
Trung
Quốc đã hạ
thấp thuế
quan
đúng
thời
gian
biểu.
Từ 1/1/2002 mức
thuế
quan chung từ
14% được hạ
xuống
còn
12,7%.
Đến
năm
2003,
mức
thuế
quan chung
này
chỉ
còn
11,5%,
trong
đó
tỷ
điện
tử
giảm
còn 9,9%
,
thiết
bị
giao
thông còn 15,9%
,
sản
phẩm cơ
khí
còn
8,6%.
Năm
2005
Trung
Quốc đã
thực hiện
cam
kết
của
mình
trong
việc
bãi bỏ
hoặc cắt giảm
đáng kể
thuế
vị
:
%)
Năm Mức
thuế
Thuế quan
bình quân
sản
Thuế quan
bình quân
sản
quan chung
phẩm công
nghiệp
phẩm nông
nghiệp
2000
15,6 14,7
21,3
2001
14,0
13,0
19,9
2002
12,7
11.7 18,5
2003
11,5
10,6
17,4
20