BỘ CÔNG THƯƠNG
DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN EU –
VIỆT NAM MUTRAP III
HOẠT ĐỘNG CB - 2A “HỖ TRỢ BỘ CÔNG THƯƠNG
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT
NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM
THỜI KỲ 2011 - 2020”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÁC ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC ĐẾN THƯƠNG MẠI
TOÀN CẦU, ĐẾN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA
VIỆT NAM THỜI KỲ TỚI NĂM 2020
VÀ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG
TS. Trần Mạnh Hùng
xuất khẩu của Trung Quốc chiếm 12,46% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu.
Các nhà hoạch định chiến lược phát triển của Trung Quốc đã đề ra quyết tâm
chiến lược của nước này là đuổi kịp và vượt Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế số
1 thế giới vào giữa thế kỷ XXI.
Trước sự lớn mạnh nhanh của Trung Quốc, một số nhà bình luận quốc tế
đã gọi hiện tượng Trung Quốc là sự trỗi dậy của “Con Rồng lớn Trung Hoa”, là
“Cường quốc kinh tế mới nổi” làm thay đổi tương quan sức mạnh giữa các
cường quốc và cục diện kinh tế toàn cầu.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã tác động mạnh đến quan hệ thương mại
Việt Nam - Trung Quốc. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước tăng từ 32
triệu USD năm 1991 (năm hai nước bắt đầu bình thường hoá mối quan hệ song
phương) lên 19,4 tỷ USD vào năm 2008, và đã trở thành đối tác thương mại lớn
2
nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi ACFTA có hiệu lực, thị phần của hàng
Việt Nam tại Trung Quốc đã giảm từ 0,52% năm 2004 xuống 0,38% năm 2008
và 0,49% năm 2009; trong khi đó thị phần của hàng Trung Quốc tại Việt Nam
đã tăng nhanh từ 14,4% lên 19,4% và 23,5% trong thời gian ương ứng. Điều này
cho thấy, trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Việt Nam bị thua thiệt cả
chiều xuất và chiều nhập khẩu. Trung Quốc đang là thị trường nhập siêu lớn
nhất của Việt Nam, Trung Quốc chiếm trên 14% tổng kim ngạch ngoại thương
của Việt Nam trong khi Việt Nam chỉ chiếm khoảng 0,78 - 0,8% tổng kim ngạch
ngoại thương của Trung Quốc.
Trong thời kỳ tới, sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ tác động như thế nào
đến thương mại toàn cầu, đến thương mại Việt Nam đang là câu hỏi mở, cần
được nghiên cứu giải đáp để tìm ra giải pháp thích ứng cho Việt Nam trong phát
triển xuất nhập khẩu. Chuyên đề nghiên cứu này được thực hiện nhằm bước đầu
giải đáp câu hỏi quan trọng nêu đó.
Nội dung Báo cáo chuyên đề nghiên cứu được kết cấu thành 4 phần:
I. Tình hình thế giới, khu vực trong 5 - 10 năm tới và vị thế của Trung
tái cấu trúc kinh tế toàn cầu ở mọi tầng nấc diễn ra mạnh mẽ. Đây là đặc điểm
nổi trội nhất của thế giới trong giai đoạn hậu khủng hoảng.
- Khủng hoảng kinh tế và cuộc chay đua phát triển trong giai đoạn hậu
khủng hoảng sẽ làm gia tăng quá trình chuyển dịch tương quan lực lượng giữa
các nước lớn, các trung tâm quyền lực lớn của thế giới, thúc đẩy việc hình thành
cục diện “đa cực”. So sánh lực lượng giữa các trung tâm quyền lực lớn của thế
giới sẽ biến chuyển nhanh hơn trong 5 - 10 năm tới. Các nền kinh tế mới nổi
(BRIC), đặc biệt là Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng khá, làm thay đổi tương
quan sức mạnh tổng thể giữa các nước lớn, bao hàm cả kinh tế, chính trị và quân
sự, tạo thành một sự chuyển dịch sức mạnh rõ rệt theo hướng từ một sang đa
trung tâm, và do đó cục diện thế giới sẽ chuyển nhanh hơn theo hướng “đa
cực”.Tuy nhiên, dù trong từng vấn đề và từng thời điểm, tính chất đa cực gia
tăng nhưng cục diện chung vẫn là “một siêu, đa cường”. Trung Quốc và các
cường quốc mới nổi lên dẫu phát triển nhanh, nhưng cũng chưa thể đuổi kịp Mỹ
trên nhiều phương diện. Mỹ vẫn là cường quốc số một về cả kinh tế, chính trị và
quân sự, có khả năng chi phối đời sống kinh tế - chính trị thế giới nhưng cũng
4
phải chia sẻ ảnh hưởng với các cường quốc khác, nhất là các nước mới nổi lên
như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ.
- Các nước lớn vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt
hơn ở khu vực “ngoại vi”, nhấ là ở các địa bàn chiến lược, giàu tài nguyên như:
Trung Đông, châu Phi, Nam Á , các “khu đệm” cận kề các quốc gia mới nổi
như khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Liên Xô cũ.
- Chạy đua vũ trang và tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của nhiều nước
sẽ là một thách thức an ninh toàn cầu. Xung đột cục bộ cũng có khả năng ngày
càng phức tạp hơn. Tình trạng nước lớn đánh nước nhỏ, các nước lớn cạnh tranh
ở khu vực “ngoại vi”, xung đột về biên giới, lãnh thổ, chiến tranh giữa các nước
nhỏ tiếp tục xảy ra.
- Xung đột sắc tộc, bạo loạn tiếp tục xảy ra ở nhiều nước và trở nên phức
trưởng.
- Biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề được tất cả các quốc gia quan
tâm và trở thành một chủ đề quan trọng trong chương trình nghị sự của các
nước, các tổ chức khu vực và quốc tế. Đối phó với biến đổi khí hậu sẽ là một
chủ đề “đấu tranh / hợp tác” giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển,
giữa các nước công nghiệp và nước mới nổi, và ngay trong nội bộ từng nhóm
nước này. Chống khủng bố quốc tế và tội phạm có tổ chức tiếp tục là vấn đề
toàn cầu nhưng mức độ và phạm vi của vấn đề này không nổi trội như trong thập
kỷ đầu của Thế kỷ 21. Các vấn đề, như chống phổ biến vũ khí giết người hàng
loạt, chống các tội phạm xuyên quốc gia sẽ tiếp tục là chủ đề ưu tiên trong
chương trình nghị sự của các quốc gia và của các tổ chức khu vực và quốc tế.
Cạn kiệt tài nguyên, nhất là nguồn năng lượng và nguồn nước dẫn đến sự cạnh
tranh nguồn tài nguyên - như nguồn nước, nguồn năng lượng và các nguồn tài
nguyên khác - sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp và có thể trở thành nguồn gốc của
xung đột quốc tế. Việc chạy đua để kiểm soát tài nguyên giữa các cường quốc sẽ
làm cho môi trường an ninh - chính trị quốc tế thêm căng thẳng. Biến động dân
số trở thành một vấn đề toàn cầu lớn có tác động đến an ninh và phát triển. Dân
số toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nhanh, nhưng không đồng đều và mất cân đối ngày
càng lớn, đặt ra nhiều vấn đề về môi trường, năng lượng, lương thực, và các vấn
đề xã hội kèm theo. Tăng dân số trong bối cảnh toàn cầu hoá làm cho di cư quốc
tế tăng lên cả về số lượng và phạm vi. Trong khi các nước đều có nhu cầu ngày
càng lớn về giữ gìn bản sắc dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá, thì nhân tố di
cư tác động bất lợi cho việc duy trì bản sắc và củng cố đoàn kết dân tốc / sắc tộc
6
trong phạm vi mỗi nước. Những điều này có thể là thách thức đối với nhiều
nước và làm phức tạp thêm quan hệ giữa các nước, nhất là các nước láng giềng.
2. Đặc điểm tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương 5 đến 10
năm tới
Trong 5 đến 10 năm tới, khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ tiếp tục
lượng mới. Trung Quốc có nhu cầu xây dựng hình ảnh một nước lớn đối với
cộng đồng quốc tế với học thuyết “sự trỗi dậy hoà bình”, chủ trương hợp tác
chiến lược với các nước lớn, nhất là Mỹ, cố gắng xây dựng khuôn khổ quan hệ
hợp tác toàn diện ổn định lâu dài với các nước lớn, chủ động tranh giành lợi ích
và ảnh hưởng với Mỹ ở khu vực. Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là “vững
chân ở châu Á, vươn ra thế giới” Trung Quốc coi châu Á là khu vực ảnh hưởng
trực tiếp, là “cơ sở quyền lực” để Trung Quốc chơi ván bài nước lớn và mở rộng
ảnh hưởng ra các khu vực khác. Trung Quốc cũng công khai và mạnh bao hơn
trong các tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, nhất là liên quan đến biển đảo và
công khai phát triển và phô diễn sức mạnh quân sự để hỗ trợ cho các đòi hỏi về
chủ quyền tại các vùng tranh chấp. Ấn Độ tuy vẫn là nước nghèo, thua kém các
cường quốc khác về trình độ phát triển, trình độ KHCN, ảnh hưởng đối ngoại
nhưng với vị thế của một cường quốc có vũ khí hạt nhân và với nền kinh tế
đang tăng trưởng khá nhanh, Ấn Độ có “sức nặng” đáng kể trong bàn cờ chiến
lược ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương. Song song với việc khẳng định vai
trò ở khu vực Nam Á và Ấn Độ Dương. Ấn Độ sẽ thúc đẩy chiến lược “hướng
Đông”, một phần để kết nối với khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, mặt
khác mang tính chất phản ứng đối với các hoạt động của Trung Quốc xung
quanh vùng Ấn Độ Dương. Sức mạnh tăng lên và sự tham gia tích cực hơn của
Ấn Độ ở khu vực CA - TBD sẽ làm gia tăng vai trò “đối trọng” của Ấn Độ trong
các mối quan hệ Mỹ - Trung, Mỹ - Trung - Nga Vai trò của Nhật ở khu vực
vẫn hạn chế và tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ về an ninh. Tuy nhiên, đang điều
chỉnh chiến lược theo hướng bớt lệ thuộc vào Mỹ và gắn kết hơn với châu Á, coi
châu Á là nơi xây dựng “cơ sở quyền lực” của chiến lược nước lớn. Theo đó sẽ
tăng cường viện trợ và đầu tư vào các nước Đông Nam Á, tích cực ủng hộ vị trí
và vai trò chủ đạo của ASEAN trong hợp tác khu vực để qua đó phát huy vai trò
của mình cũng như hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc. Nga tiếp tục phục hồi
nhưng chưa vững chắc. Tuy nhiên, với vị thế là cường quốc về vũ khí chiến lược
và về dầu lửa và khí đốt, Nga tiếp tục có vai trò lớn trong các vấn đề an ninh,
quân sự toàn cầu. Nga sẽ coi trọng hơn khu vực châu Á - Thái Bình Dương, từ
phá thế kiểm toả về chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Mặt khác, Trung
Quốc cũng muốn Việt Nam ở trong vòng ảnh hưởng và là vùng đệm về an ninh
ở phía Nam của mình.
9
- ASEAN triển khai Hiến chương, xây dựng cộng đồng kinh tế vào năm
2015. Nếu không đạt được mục tiêu này,đặc biệt là tăng cường đoàn kết và liên
kết kinh tế nội khối, thì vai trò và vị thế của Hiếp hội sẽ bị thách thức nghiêm
trọng. Việt Nam là một nước lớn có vị trí khá quan trọng trong Hiệp hội, các
nước ASEAN cần Việt Nam có vai trò lớn hơn. Trong 5 - 10 năm tới, chính sách
đối với Việt Nam của các nước ASEAN ít có khả năng thay đổi lớn, các nước
ASEAN ở mức độ khác nhau đều có lợi ích tăng cường hợp tác với Việt Nam để
khai thác thị trường và đầu tư vào Việt Nam, đồng thời tạo thế trên các diễn đàn
kinh tế, chính trị quốc tế và trong quan hệ với các nước lớn trong đó có việc
dùng quan hệ với Việt Nam để phần nào “đối trọng” với ảnh hưởng kinh tế,
chính trị và quân sự ngày càng lớn của Trung Quốc ở Đông Nam Á và giảm sức
ép chính trị và nhân quyền của Mỹ và EU.
- Mỹ có mục tiêu chiến lược xuyên suốt là duy trì vị thế siêu cường số
một và vai trò lãnh đạo thế giới; thúc đẩy việc “mở rộng dân chủ”, phổ biến các
“giá trị Mỹ”. Mỹ coi Đông Nam Á tuy không phải là trọng tâm trong chiến lược
toàn cầu của Mỹ nhưng là một mắt xích quan trọng trong chiến lược kiềm chế
và can dự Trung Quốc. Mỹ sẽ coi trọng hơn vị trí của ĐNA lục địa, thúc đẩy
quan hệ với nhóm nước CLMV (Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam), tham gia
sâu hơn vào các dự án Mê-kông. Theo đó, Việt Nam cũng có vị trí quan trọng
hơn trong chính sách của Mỹ đối với Đông Á và Đông Nam Á. Mỹ có lợi ích ở
một Việt Nam ổn định, lớn mạnh, độc lập và có vai trò lớn hơn trong ASEAN.
Nhưng Mỹ cũng không muốn bị lôi kéo vào những “rắc rối” giữa Việt Nam và
Trung Quốc. Đồng thời, Mỹ vẫn thúc đẩy “diễn biến hoà bình” nhưng đây
không phải là ưu tiên cao nhất trong chính sách của Mỹ đối Việt Nam trong 5 -
10 năm tới và không phải Mỹ muốn làm gì cũng được.
khu vực
Nhìn chung, trong 5 - 10 năm tới môi trường quốc tế phát triển của Việt
Nam có những thuận lợi rất cơ bản và cũng có thể nói Việt Nam đang đứng
trước “thời cơ lớn” để bứt phá về phát triển.
- Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã tăng lên nhiều.
Việt Nam duy trì được ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế, có đường lối đối
ngoại hoà bình, hợp tác; với vị trí địa - chiến lược quan trọng và có vai trò nhất
định ở khu vực và trên thế giới. Mặc dù không được ưu tiên cao trong chính
11
sách đối ngoại của hầu hết các nước, đa số các nước trên thế giới, nhất là các đối
tác chủ chốt đều coi trọng thúc đẩy quan hệ với Việt Nam.
- Mặc dù vẫn tồn tại sự khác biẹt trong một số lĩnh vực, vấn đề nhưng
giữa Việt Nam và đa số các nước không có vướng mắc lớn đến mức có thể làm
đổ vỡ quan hệ hiện có. Chính sách và ảnh hưởng giữa các nước lớn hiện nay và
trong 5 năm tới mở ra cơ hội để chúng ta có thể tiếp tục thúc đẩy quan hệ với
từng nước.
- Thời cơ đối với đất nước ta là xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác để
phát triển vẫn là chủ đạo trên thế giới, mặc dù vẫn còn nguy cơ xảy ra xung đột
vũ trang, thậm chí cả chiến tranh cục bộ.
- Thực lực của chúng ta tiếp tục tăng cường, vị thế của đất nước ở khu
vực và trên thế giới được củng cố, việc ta trở thành thành viên WTO, vừa hoàn
thành nhiệm kỳ uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc
2008 - 2009, tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn thành công, làm Chủ tịch
ASEAN tạo tiền đề cho việc chủ động tham gia hội nhập thế giới và khu vực,
tích cực tham gia vào các công việc và tác động vào các diễn biến tích cực tình
hình ở khu vực.
- Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực năng động, sự phát triển
mạnh của cách mạng khoa học công nghệ và tự do hoá đẩy mạnh, đầu tư cùng
với việc ta gia nhập WTO sẽ tạo thuận lợi cho Việt Nam đẩy mạnh được xuất
tính thực tế nhiều hơn, dự kiến thúc đẩy sự phát triển nhanh của tất cả các khu
vực kinh tế đã bị huỷ bỏ do ảnh hưởng của Cách mạng Văn hoá. Năm 1969,
Chính phủ Trung Quốc đưa ra một báo cáo kêu gọi cách tiếp cận thoáng hơn với
thương mại và giao lưu kinh tế quốc tế. Trong nước, Chính phủ vận động người
lao động làm việc vì trách nhiệm hơn là vì lợi ích vật chất, đề xuất sử dụng lợi
nhuận từ bán hàng nông sản và công nghiệp nhẹ để đầu tư cho sản xuất công
nghiệp.
Kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ tư (1971 - 1975) được coi là thành công
khi nông nghiệp tăng gấp rưỡi và công nghiệp tăng gần gấp hai lần so với năm
1964.
Kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1976 - 1980) đặt ưu tiên hiện đại hoá kinh
tế và lần đầu tiên nhấn mạnh vào phát triển công nghiệp nhẹ hơn là công nghiệp
nặng. Thủ tướng Chu Ân Lai là người đầu tiên đưa ra mục tiêu Bốn hiện đại hoá
13
(công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật hiện đại, quốc
phòng hiện đại). Việc thực thi kế hoạch đã bị hoãn lại cho đến năm 1978, năm
đầu tiên Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách, mở cửa nền kinh tế. Kể từ
năm 1978 Trung Quốc đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường
được gọi là “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc”. Chính phủ đã
chuyển đổi từ chế độ hợp tác xã sang chế độ khoán đến từng hộ gia đình trong
lĩnh vực nông nghiệp, tăng quyền tự chủ của các quan chức địa phương và các
thủ trưởng nhà máy, cho phép sự phát triển đa dạng của doanh nghiệp nhỏ trong
lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp nhẹ và mở cửa nền kinh tế để tăng ngoại hối và
đầu tư nước ngoài. Chính phủ đã tập trung vào việc gia tăng thu nhập, sức tiêu
thụ và đã áp dụng nhiều hệ thống quản lý để giúp tăng năng suất. Chính phủ
cũng đã tập trung vào xuất nhập khẩu như một đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế.
Kế hoạch 5 năm lần thứ sáu (1981 - 1985) tái khẳng định cam kết cải
cách, phát triển theo hướng mở cửa nhằm thực hiện Bốn hiện đại hoá. Chính phủ
được nguồn vốn đầu tư nước ngoài lớn. Trung Quốc đã đưa ra những cải cách
mang tính dài hạn với mục tiêu nền kinh tế hoạt động theo nguyên tắc thị trường
nhiều hơn, tăng cường kiểm soát hệ thống tài chính trong khi các doanh nghiệp
quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nhiều ngành then chốt. Trung
Quốc cũng tăng lãi suất và đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư đẻ kiềm chế sự
tăng trưởng quá nóng cũng như kiểm soát lạm phát.
Kế hoạch 5 năm lần thứ chín (1996 - 2000): Tập trung vào phân bổ các
nguồn lực cho phát triển một cách hợp lý để tạo hiệu quả cao hơn với mục tiêu
đưa thu nhập quốc dân năm 2000 tăng gấp 4 lần năm 1980 và tiếp tục tăng gấp
đôi thu nhập quốc dân vào năm 2010 so với năm 2000.
Kế hoạch 5 năm lần thứ mười (2001 - 2005) đưa ra các ưu tiên: Thiết lập
mô hình hiện đại cho các doanh nghiệp Nhà nước, cải thiện an ninh xã hội, hội
nhập sâu và mạnh vào nền kinh tế thế giới. Kế hoạch cũng đưa ra các mục tiêu
phát triển giáo dục, bảo vệ môi trường và giải quyết việc làm cho số lượng lớn
lao động dôi dư ở nông thôn.
Trong một quãng thời gian tương đối dài kể từ khi tiến hành cải cách mở
cửa vào năm 1978, Trung Quốc chủ yếu dựa vào biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu
làm phương thức tăng trưởng kinh tế, biện pháp này đã thúc đẩy kinh tế Trung
Quốc phát triển rất nhanh. Tổng kim ngạch XNK của Trung Quốc vào năm
15
1978, năm đầu tiên của công cuộc cải cách mở cửa chỉ đạt có 20,64 tỷ USD thì
đến cuối năm 2007 tổng kim ngạch XNK của Trung Quốc đạt 2.173,83 tỷ USD.
Cán cân thương mại từ thâm hụt 1,14 tỷ USD năm 1978 đã chuyển thành thặng
dư 262 tỷ USD năm 2007. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá nhanh chóng
cũng gây những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của Trung Quốc như
tiêu hao tài nguyên, năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, sản phẩm thô, sản
phẩm giá rẻ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu, xuất siêu lớn là nguyên
nhân dẫn đến thường xuyên tranh chấp trong thương mại Để khắc phục tình
trạng này, trong những năm gần đây Trung Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp để
liệu chính thức của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển cho biết hiện nay, mỗi
năm có khoảng 24 triệu người Trung Quốc (bao gồm cả sinh viên mới ra
trường và lao động di cư) gia nhập thị trường lao động, và con số này sẽ còn
tăng lên trong 20 - 30 năm tới. Trong khi đó, thị trường lao động của Trung
Quốc hiện chỉ hấp thụ được khoảng 10 - 12 triệu lao động mới mỗi năm. Nghịch
lý hiện nay của thị trường lao động ở Trung Quốc nằm ở chỗ, trong khi sức ép
vềtạo việc làm rất lớn, trong khi khu vực kinh tế Nhà nước và tập thể (hai nguồn
tạo việc làm chính trong quá khứ) đang phải sa thải công nhân, thì khu vực có
tiềm năng lớn nhất trong việc giải toả sức ép về việc làm lại không được tạo
điều kiện thích hợp để phát triển, chủ yếu là do sự kỳ thị sẵn có của Nhà nước
đối với khu vực này. Những xu thế này là nguồn gốc gây nên bất ổn định ở
Trung Quốc. Mức độ thực tế của tình trạng bất ổn định này tuỳ thuộc vào tốc độ
tăng trưởng trong tương lai của nền kinh tế, vào khả năng tạo công ăn việc làm
của khu vực ngoài Nhà nước, và vào năng lực của Chính phủ trong việc kiểm
soát tình hình.
Giải pháp tốt nhất cho vấn đề việc làm ở Trung Quốc là phát triển khu
vực dịch vụ vì hiện nay, tỷ lệ việc làm trong khu vực này ở Trung Quốc là tương
đối thấp so với các nước có mức phát triển tương đương. Nếu khu vực này được
mở cửa rộng rãi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài thì có thể tạo thêm 40 – 50
triệu việc làm. Một giải pháp khác là phát triển khu vực dân doanh. Về mặt địa
lý, các doanh nghiệp dân doanh của Trung Quốc tập trung chủ yếu ở các tỉnh
ven biển. Riêng 5 tỉnh, thành phố Giang Tô, Quảng Đông, Chiết Giang, Thượng
Hải, và Bắc Kinh đã chiếm tới 54% số doanh nghiệp dân doanh, gấp hơn 4 lần
số doanh nghiệp dân doanh của tất cả các tỉnh miền Tây cộng lại. Phát triển kinh
tế dân doanh cũng là một biện pháp để cải thiện kinh tế địa phương vì theo số
liệu thống kê, tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh của một địa phương càng lớn thì
mức sống trung bình của người dân ở địa phương ấy càng cao.
17
- Vấn đề bất bình đẳng, công bằng xã hội và cán cân thương mại:
18
người lớn ở Thượng Hải có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí. Để khắc phục
khó khăn về năng lượng, Chính phủ Trung Quốc đã đặt ra mục tiêu giảm lượng
tiêu thụ điện 20% cho mỗi một đơn vị tăng trưởng - một mục tiêu có lẽ khó
thành hiện thực.
Với sự thay đổi của giá cả theo hướng có lợi cho các sản phẩm nông
nghiệp, mức sống của người dân được cải thiện, làm tiền để cho sự tăng trưởng
nhu cầu đối với hàng công nghiệp nhẹ và khoảng cách thành thị - nông thôn
được thu hẹp một cách nhanh chóng. Thế nhưng từ năm 1985 trở đi, Trung
Quốc chủ trương nới rộng giá cánh kéo giữa hàng công nghiệp và nông nghiệp
theo hướng có lợi cho hàng công nghiệp và do vậy, làm giảm thu nhập và suất
sinh lợi của đầu tư trong nông nghiệp. Đồng thời, tăng trưởng của các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài có qui mô lớn bắt đầu cất cánh ở vùng duyên hải miền
Đông. Những doanh nghiệp này thâm dụng vốn nhiều hơn và có liên kết với thị
trường nước ngoài chặt chẽ hơn.
Sự ổn định về thu nhập của cư dân đô thị cũng ngày càng trở nên bấp
bênh vì DNNN sa thải rất nhiều công nhân và tỷ lệ thất nghiệp của công nhân đô
thị - vốn từng là đối tượng được ưu ái - tăng nhanh. Từ khi bắt đầu cải cách
DNNN vào đầu những năm 1990 cho đến nay, khoảng 55 triệu công nhân đã
phải nghỉ việc. Theo số liệu thống kê chính thức, tỷ lệ thất nghiệp vào giữa
những năm 1990 chỉ là 3% và tăng lên gần 5% vào năm 2005. Tuy nhiên, theo
một số nguồn thông tin độc lập, tỷ lệ thất nghiệp hiện nay có thể lên tới 12 -
13%. Bên cạnh đó, tỷ lệ thiểu dụng lao động cũng xấp xỉ 23%.
Tương tự như cải cách DNNN, những cải cách trong lĩnh vực giáo dục và
y tế theo đó người sử dụng các dịch vụ này phải đóng phí đã làm xói mòn hệ
thống an sinh xã hội của cả khu vực thành thị và nông thôn. Chi phí y tế giờ đây
đã trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây nên tình trạng
nghèo khó ở Trung Quốc. Hệ thống bảo hiểm y tế được thực hiện từ năm 2003
chủ yếu chỉ phục vụ những người khá giả sống ở nông thôn chứ không đem lại
trung bình như linh kiện ô tô, thép, điện gia dụng. Cho đến năm 2007, Trung
Quốc vẫn chưa có công ty nào nằm trong Top 250 công ty toàn cầu về đầu tư
cho R & D và đến năm 2004 Trung Quốc chỉ đứng thứ 74 trong bản xếp hạng
của UNCTAD về “Chỉ số Năng lực Sáng tạo”, đứng sau cả Tajikistan. Tăng
trưởng cao trong những năm qua của Trung Quốc được duy trì không phải nhờ
vào cải thiện công nghệ mà là nhờ tỷ lệ đầu tư kỷ lục lên tới 35 - 40% GDP. Tuy
nhiên, những khoản đầu tư này được phân bổ chủ yếu cho các DNNN, trong khi
20
các doanh nghiệp tư nhân vẫn có qui mô nhỏ, trung bình sử dụng 60 - 70 lao
động. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dân doanh của Trung Quốc thì chủ yếu là
công ty nhỏ, có tuổi thọ ngắn hơn 3 năm. Nguyên nhân của tình trạng này là
Trung Quốc đã kiên trì theo đuổi mục tiêu sở hữu Nhà nước như là một mục
đích tự thân thay vì sử dụng các tiêu chí về kết quả xuất khẩu, năng lực công
nghệ, hay chất lượng sản phẩm. Về phương diện này, mô thức công nghiệp hoá
và phát triển này của Trung Quốc rất khác so với các nước Đông Á. Từ sau năm
2002, Trung Quốc đã tăng cường năng lực về công nghệ, đã tăng nhanh hàm
lượng công nghệ cao trong sản phẩm nhưng vẫn chủ yếu tập trung vào lĩnh
vực xuất khẩu. Tỷ lệ hàng có hàm lượng công nghệ cao trong xuất khẩu của
Trung Quốc đã tăng nhanh từ 28,9% năm 2000 lên 41,3% năm 2005 và 45%
năm 2007 - 2009. Tỷ lệ hàng công nghệ cao trong cấu trúc nhập khẩu cũng tăng
từ 31,3% năm 2001 lên 37,6% năm 2005 và khoảng 40% năm 2009. Tuy thế,
đến nay, năng lực R & D và công nghệ nguồn của Trung Quốc còn tụt hậu rất xa
so với Mỹ, EU.
Một hậu quả khác là sự kém hội nhập của các thị trường nội địa, và trong
nhiều năm, các địa phương giao thương với quốc tế nhiều hơn là giữa họ với
nhau. Tiến trình này cũng dẫn đến tình trạng tập trung đầu tư nóng một cách thái
quá. Tỷ lệ đầu tư trên GDP duy trì ở mức trên 35% trong gần 13 năm, và thậm
chí có một số năm tỷ lệ này vượt quá 40%. Trong khi đó, cần lưu ý rằng đầu tư
trực tiếp nước ngoài đóng góp hơn 50% hàng xuất khẩu nhưng chỉ chiếm 10%
nông thôn. Những thay đổi to lớn này, cùng với những vấn đề cố hữu như tham
nhũng tràn lan, môi trường suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng
với tốc độ phát triển kinh tế thì những thách thức mới về thành thị - nông thôn,
trung ương - địa phương, và bất công bằng là những vấn đề mà Trung Quốc
buộc phải giải quyết. Suy đến cùng, đây không chỉ là những thách thức kinh tế,
mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã hội. Mặc dù Chính phủ Trung
Quốc đã cho thấy những dấu hiệu điều chỉnh chiến lược phát triển từ “tăng
trưởng bằng mọi giá” sang cam kết thực hiện công bằng xã hội, thế nhưng cho
đến nay nỗ lực của Chính phủ Trung Quốc dường như vẫn chưa đem lại những
đổi thay thực sự. Vấn đề mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang gặp phải là nếu
họ càng chậm trễ trong việc giải quyết các thách thức này thì giải pháp để giải
quyết chúng tận gốc càng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của họ
1
.
1
Nguồn: Tham khảo Báo cáo : “Lựa chọn thành công Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của
Việt Nam - Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020”,
Chương trình Việt Nam, Đại học Harvard, năm 2008.
22
3. Triển vọng tác động của Trung Quốc đến thương mại toàn cầu
Trong thời kỳ tới, Trung Quốc tiếp tục là một trong những nhân tố hàng
đầu tác động đến thương mại toàn cầu trên nhiều phương diện. Trong đó, sự tác
động mạnh nhất là theo các kênh chủ yếu sau:
- Nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc tuy sẽ giảm so với giai
đoạn trước nhưng vẫn còn ở mức cao so với mức tăng trưởng xuất khẩu trung
bình của thế giới và cao hơn nhiều so với Mỹ, EU, Nhật Bản. Tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc trong 30 năm 1979 - 2009 đạt mức
bình quân 16,7%/năm. Dự báo trong 10 năm tới, tăng trưởng xuất khẩu hàng
55,5% năm 2001 lên 63,3% năm 2006 và 57,5% năm 2009, riêng tỷ trọng của
thị trường Trung Đông đã tăng từ 3,8% lên 5,2% và 7,1% trong thời gian tương
ứng; tỷ trọng của thị trường châu Phi cũng tăng nhanh từ 2,0% lên 3,9% và
7,1% trong cùng thời gian. Từ sau năm 2008, Trung Quốc đã chủ động thúc đẩy
chiến lược “Một trục hai cánh” và thực hiện chính sách hướng Nam mạnh mẽ.
Dự báo trong 10 năm tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục đẩy mạnh thu hút nguyên liệu,
vật liệu, nhiên liệu và các tài nguyên khác của khu vực Đông Nam Á, Tây Nam
Á, Trung Đông và châu Phi. Do đó, tỷ trọng của các khu vực thị trường này
trong cơ cấu thị trường nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng lên.
- Trung Quốc sẽ tiếp tục gia tăng sức ép cạnh tranh trong xuất khẩu với
các nước ASEAN và các nước Đông Á khác tại các thị trường xuất khẩu trọng
điểm, chiến lược ở Bắc Mỹ, EU, châu Đại Dương và cả Nam Mỹ. Đồng thời,
tiếp tục gia tăng áp lực để mở rộng thị phần cho hàng Trung Quốc tại khu vực
ASEAN, Tây Nam Á. Việc tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao trong
cấu trúc nhập khẩu của Trung Quốc trong 10 năm qua đã tạo cơ sở để nâng cao
sức cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc trong giai đoạn tới, tạo hiệu ứng mạnh
đối với toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc trong cạnh tranh toàn cầu thời kỳ tới.
Trong thời kỳ 2000 - 2008, tỷ trọng nhóm sản phẩm có hàm lượng công nghệ
cao trong cấu trúc nhập khẩu của Trung Quốc đã tăng được 10 điểm phần trăm,
từ 31,3% lên trên 41%, tỷ trọng của nhóm sản phẩm công nghệ trung cao giảm
từ 19,3% xuống 15% trong thời gian tương ứng, tỷ của nhóm sản phẩm công
nghệ thấp cũng giảm từ 20,3% xuống còn khoảng 10% trong cùng thời gian.
Đây là yếu tố hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng
xuất khẩu Trung Quốc trong thời kỳ tới.
Mặt khác, Trung Quốc đang có lợi thế với nhiều đối thủ khác trong cạnh
tranh xuất khẩu toàn cầu. Chẳng hạn, năm 2008, hệ số nguồn lực / GDP đầu
24
người của Trung Quốc chỉ 0,015, trong khi của Ấn Độ là 0,023, của Việt Nam là
0,126 (thấp hơn gần 8 lần của Việt Nam). Năm 2008, Trung Quốc đứng ở vị trí