Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Với việc trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 11/2001, Trung
Quốc đã có thể củng cố vị thế kinh tế, chính trị của mình và hội nhập sâu hơn vào th-
ơng mại thế giới. Hiện nay, Trung Quốc càng có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế với
các nớc trong khu vực.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) hịên đang là nhà cung cấp,
cũng nh một thị trờng quan trọng đối với Trung Quốc và đang chịu tác động mạnh mẽ
theo nhiều hớng khác nhau đặc biệt là từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Trong thập
kỉ vừa qua Trung Quốc và ASEAN đều có những cải cách, mở cửa nền kinh tế và đều
thực hiện chiến lợc kinh tế hớng tới xuất khẩu, có tốc độ tăng trởng kinh tế khá cao
và ảnh hởng qua lại ngày càng lớn. Cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN là
sáng kiến tăng cờng quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế để thành lập một Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc gọi tắt là ACFTA (ASEAN- China Free Trade
Area) vào ngày 4/11/2002 thông qua việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế
toàn diện ASEAN- Trung Quốc.
Với việc hình thành nên ACFTA sẽ mở ra những thời cơ và thách thức đối
với quan hệ thơng mại Việt Nam- Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới. Bởi vậy, em đã chọn đề tài Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập ACFTA.
Mục tiêu của Luận văn Tốt nghiệp:
Đánh giá thực trạng quan hệ thơng mại giữa ASEAN, Việt Nam- Trung Quốc
trong những năm gần đây. Đánh giá cơ hội và thách thức đối với thơng mại Việt Nam
trong quá trình hội nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA). Từ
đó, đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong bối cảnh ACFTA.
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
1
Luận văn tốt nghiệp
Đối tợng nghiên cứu của Luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ thơng mại giữa ASEAN, Việt
1.1.1.1. Vai trò của nhập khẩu:
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của Ngoại thơng. Nhập khẩu tác động
một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nớc.
Nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá mà trong nớc không sản xuất đợc, hoặc
sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu. Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu
về những hàng hoá mà sản xuất trong nớc sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt
nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu đợc thực hiện tốt sẽ tác động tích cực
đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân trong đó, cân đối trực tiếp ba yếu tố của
sản xuất: công cụ lao động, đối tợng lao động và lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu
đợc thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo h-
ớng công nghiệp hoá đất nớc.
- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển
kinh tế cân đối và ổn định.
Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân, ở đây,
nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân và hàng tiêu dùng, vừa đảm
bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho ngời lao động.
Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể
hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất bằng xuất khẩu, tạo môi trờng thuận
lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nớc ngoài, đặc biệt là nớc nhập khẩu.
1.1.1.2. Những nguyên tắc và chính sách nhập khẩu:
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
3
Luận văn tốt nghiệp
Những nguyên tắc nhập khẩu trình bày dới đây đợc hiểu nh là những quy tắc
thực hiện trong hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với lợi ích xã hội cũng nh của
doanh nghiệp:
Thứ nhất, sử dụng vốn nhập khẩu tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao :
trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, việc mua bán với các nớc đều
thực hiện mục tiêu chiến lợc phát triển kinh tế xã hội cua nớc ta đến năm 2010, tầm
nhìn 2020, chính sách nhập khẩu của Nhà nớc ta trong những năm tới là:
- Ưu tiên nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ mới phục vụ cho việc thực
hiện những mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc cho tăng trởng xuất
khẩu.
- Tiết kiệm ngoại tệ, chỉ nhập khẩu vật t phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và sản xuất hàng tiêu dùng để giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu.
- Bảo vệ chính đáng sản xuất nội địa.
1.1.1.3. Các công cụ quản lý và điều hành nhập khẩu:
Công cụ quản lý và điều hành nhập khẩu của các nớc rất khác nhau: có những
đánh thuế rất cao đối với hàng nhập khẩu lại có những nớc lại quản lý nhập khẩu qua
quản lý ngoại tệ, qua các biện pháp phi thuế quan. Mục đích của các công cụ quản lý
nhập khẩu là cản trở xuất khẩu của các nớc khác vào lãnh thổ nớc mình. Do đó, các
nhà nhập khẩu và xuất khẩu phải biết đợc những quy định cụ thể và đặc điểm của
chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nớc mình và nớc mà họ xuất khẩu.
Những công cụ quản lý nhập khẩu có rất nhiều, phức tạp và đa dạng. Nhng tựu
trung lại có hai nhóm công cụ (biện pháp) là thuế quan và phi thuế quan.
1
Các biện pháp thuế nhập khẩu bao gồm hàng hoá bị đánh thuế nhập khẩu theo
luật thuế do Quốc hội nớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26-12-1991 là những
hàng hoá đợc phép nhập khẩu qua cửa biên giới Việt Nam, kể cả hàng từ khu chế xuất
đa vào thị trờng trong nớc.
Hàng rào phi thuế quan có nghĩa là các biện pháp khác với thuế quan, trên
thực tế ngăn cấm hoặc hạn chế việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu các sản phẩm giữa hai
1
GS.TS Bùi Xuân Lu (2002), Giáo trình Kinh tế Ngoại thơng, Nxb Giáo duc tr 165
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
5
Luận văn tốt nghiệp
hay nhiều quốc gia bao gồm các hạn chế định lợng, các biện pháp quản lý về giá,
chức sản xuất hớng tới xuất khẩu, quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trờng
thế giới để tổ chức sản xuất, chính điều đó đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống của nhân dân: tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm
nhiều mặt, đó là thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời
sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Thứ t, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta: chúng ta thấy rõ rằng xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có
tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu
thúc đẩy quan hệ tín dụng, dầu t, mở rộng vận tải quốc tế... Mặt khác, chính các quan
hệ kinh tế đối ngoại trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát
triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc.
1.1.2.2. Mục tiêu, nhiệm vụ xuất khẩu:
Mục tiêu quan trọng chủ yếu nhất của xuất khẩu là để nhập khẩu đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế. Mà nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng: phục vụ cho công nghiệp
hoá đất nớc, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo thêm công ăn việc làm...
Xuất khẩu là để nhập khẩu, do đó thị trờng xuất khẩu phải gắn với thị trờng
nhập khẩu. Phải xuất phát từ yêu cầu của thị trờng để xác định phong hớng và tổ chức
nguồn nhập khẩu hàng hoá thích hợp.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nớc (đất đai, vốn,
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất...).
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
7
Luận văn tốt nghiệp
Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lợng và kim
đạt tiêu chuẩn quốc tế. Dành u tiên đầu t cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu,
hạn chế hoặc không đầu t cho các ngành thay thế nhập khẩu mà năng lực sản xuất
trong nớc đã đáp ứng đủ nhu cầu. Có chính sách u tiên, u đãi về thuế, về lãi suất cho
các dự án này.
Tổ chức thiết lập, quy hoạch các khu chế xuất hàng xuất khẩu. Có nhiều ý
kiến tranh luận về lợi ích của khu chế xuất. Tuy nhiên, nhìn vào các nớc có ít nhiều
thành công trong việc tổ chức các khu chế xuất có thể thấy rất nhiều lợi ích nh : thu
hút đợc vốn và công nghệ, tăng cờng khả năng xuất khẩu tại chỗ, góp phần giải quyết
việc làm cho ngời lao động, góp phần làm cho nền kinh tế nớc chủ nhà hoà nhập với
nền kinh tế thế giới và của các nớc trong khu vực.
Thứ hai, các biện pháp chính sách tài chính nhằm khuyến khích sản xuất
và thúc đẩy xuất khẩu: Chính phủ đã có nhiều biện pháp, chính sách tài chính, tiền tệ
thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp, bao gồm:
Nhà nớc đứng ra bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, ngoài việc thúc đẩy xuất khẩu,
còn năng đợc giá bán hàng vì giá bán chịu bao gồm cả giá bán trả tiền ngay và phí
tổn đảm bảo lợi tức. Đây là hình thức khả phổ biến trong chính sách ngoại thơng của
nhiều nớc để mở rộng xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trờng.
Trong hoàn cảnh cạnh tranh trên thị trờng không hoàn hảo nh hiện nay, chính
phủ các nớc đều muốn sản phẩm của các doanh nghiệp nớc mình đủ sức cạnh tranh và
giành giật thị trờng tiêu thụ ở nớc ngoài. Vì vậy đối với nhiều quốc gia, trợ cấp xuất
khẩu đợc sử dụng nh là một công cụ để đẩy mạnh xuất khẩu. Ngoài ra, trợ cấp xuất
khẩu còn đem lại nhiều lợi ích nh góp phần phát triển công nghiệp nội địa và thúc đẩy
xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế, kích thích lan truyền hiệu
ứng tích cực và khắc phục hiệu ứng tiêu cực.
Phân tích các vấn đề liên quan đến chính sách xuất khẩu không thể tách rời
việc xem xét chế độ tỷ giá hối đoái mà nớc đó áp dụng. Chế độ tỷ giá trong chính
sách tiền tệ mà các quốc gia sử dụng hình thành và phát triển từ hệ thống tỷ giá cố
định đến hệ thống tỷ giá thả nổi.
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
9
(Ví dụ: WTO...). Nhìn chung, các định chế tổ chức kinh tế khu vực ngày nay thờng
vận hành trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản nền tảng của WTO.
Các nguyên tắc cơ bản của WTO
1
bao gồm:
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Đây là nguyên tắc tối quan trọng trong
hoạt động của WTO, tức là không đợc phân biệt đối xử giữa các thành viên.
Theo điều khoản về Đãi ngộ tối huệ quốc ( Most Favoured Nation - MFN)
thì mỗi thành viên sẽ dành sự đãi ngộ của mình đối với sản phẩm (hàng hóa,dịch vụ,
đối tợng sở hữu trí tuệ) của các thành viên khác nh nhau, tức là không kém u đãi hơn
so với hàng hoá của các thành viên khác.
Đãi ngộ quốc gia ( National Treatment - NT ) cũng là loại hình chống phân
biệt đối xử. Theo yêu cầu của loại hình này thì hàng hoá cua một nớc thành viên khi
thâm nhập vào một thị trờng sẽ đợc đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá t-
ơng tự đợc sản xuất trong nớc.
- Thơng mại tự do hơn: Đây cũng là nguyên tắc chủ đạo của GATT/WTO, đó
là để cho thơng mại tự do hơn hay khác đi là tăng khả năng thâm nhập thị trờng của
các công ty, các nhà đầu t thì phải từng bớc giảm và xoá bỏ các loại rào cản. Tất cả
các vòng đàm phán của GATT đều nhằm đến mục đích loại bỏ dần các rào cản thơng
mại. Trong tiến trình của các cuộc đàm phán, xu hớng chung là cắt giảm thuế quan và
thuế hoá các rào cản phi thuế.
- Thơng mại có thể dự báo trớc: Vấn đề mấu chốt của thơng mại có thể dự
báo trớc đó là sự minh bạch các chính sách trong nớc của các quốc gia thành viên.
Rất nhiều hiệp định của WTO đều chứa đựng điều khoản về minh bạch hoá đòi hỏi
phải đợc công bố công khai. Các quan chức WTO sẽ rà soát các chính sách này.
- Tăng cờng cạnh tranh công bằng: Mục tiêu của WTO là tiến tới tự do hoá
thơng mại chứ không phải là tiến hành thơng mại tự do, cho nên WTO vẫn cho phép
sử dụng các biện pháp bảo hộ, vẫn dùng thuế và các biện pháp hạn chế khác. Ngời ta
gọi đây là hệ thống các nguyên tắc mở trong cạnh tranh và thơng mại quốc tế.
1
cộng đồng. Đây thực chất là giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nớc liên bang hoặc các
cộng đồng an ninh đa nguyên.
1
Vụ hợp tác kinh tế đa phơng- Bộ Ngoại giao (2002)- Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá, vấn đề
và giải pháp- Nxb Chính trị quốc gia
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
12
Luận văn tốt nghiệp
Những mô hình trên chỉ có tính chất lý thuyết. Trên thực tế nhiều quá trình hội
nhập không đi đúng theo trình tự và hoàn toàn khớp với nội dung của mô hình đó. Từ
thực tiễn của quá trình này, một số học giả đã bổ sung vào lý thuyết của Belassa
những mô hình sau:
+ Thoả thuận thơng mại u đãi: Các bên tham gia thực hiện cắt giảm thuế
quan và các biện pháp phi thuế quan ở một mức độ nhất định nhằm tạo điều kiện thúc
đẩy thơng mại giữa họ với nhau. Hình thức này thể hiện sự hội nhập còn thấp hơn cả
Khu vực mậu dịch tự do. ( Vd: các thoả thuận thơng mại u đãi PTA năm 1977)
+ Thoả thuận thơng mại tự do từng phần: Các bên tham gia chỉ thực hiện
cắt giảm và loại bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế định lợng trong mộhas số ít
lĩnh vực cụ thể.
1.2. Tự do hoá th ơng mại và Khu vực mậu dịch tự do (FTA)
1.2.1. Khái luận về tự do hoá thơng mại và FTA:
1.2.1.1. Tự do hoá thơng mại:
Tự do hoá thơng mại là một thuật ngữ chung dùng để chỉ hoạt động loại bỏ
các cản trở hiện hành đối với thơng mại hàng hoá và dịch vụ.Thuật ngữ này có thể bao
hàm cả việc loại bỏ các cản trở đối với đầu t, nếu nh thị trờng mà chúng ta nghiên cứu
cần đầu t để tiếp cận thị trờng. Mục đích cuối cùng của tự do hoá thơng mại là xoá bỏ
hoàn toàn mọi cản trở đối với thơng mại, tức là đạt đợc chế độ thơng mại tự do. Tuy
nhiên, khó có thể có đợc một định nghĩa chuẩn xác về thơng mại tự do, bởi vì việc xoá
bỏ triệt để tất cả các hạn chế đối với thơng mại đợc coi là không khả thi mà chỉ là một
cái đích để vơn tới. Hiện tại, việc di chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn, và lao động giữa
cản trở lớn đối với tiến trình cải cách thơng mại, nếu đáp ứng đợc những điều kiện
nhất định.
Đối với vấn đề liên quan đến ngân sách chính phủ, tự do hoá thơng mại có
thể tác động lên ngân sách chính phủ theo các hớng khác nhau. Nó sẽ làm giảm nguồn
thu ngân sách từ thuế nhập khẩu và xuất khẩu, giảm chi ngân sách cho trợ cấp xuất
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
14
Luận văn tốt nghiệp
khẩu, có thể làm giảm khoản thuế thu đợc từ các doanh nghiệp sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu mà trớc đây kinh doanh có lãi, có thể làm tăng chi ngân sách do phải do
phải trợ cấp cho số lao động bị dôi d từ những ngành cạnh tranh xuất khẩu. Đối với
các nớc đang phát triển do nguồn thu từ thuế thơng mại đóng vai trò khá quan trọng
trong thu ngân sách, nên việc tiến hành tự do hoá thơng mại sẽ có nhiều nguy cơ gây
ra sự mất cân đối bên trong. Tuy nhiên, vẫn có trờng hợp tự do hoá thơng mại góp
phần tăng thu ngân sách. Đó là khi hạn ngạch đợc thay bằng thuế quan, hoặc khi sự
giảm đi trong thuế suất làm tăng tỷ lệ thuu thuế nhập khẩu, hoặc khi giảm tỷ lệ đợc
miễn thuế.
Ván đề liên quan đến cán cân thanh toán: Khi tiến hành cải cách thơng mại
theo hớng tự do hoá, các rào cản thơng mại giảm đi sẽ tạo điều kiện gia tăng nhập
khẩu. Đồng thời, cũng không tránh khỏi việc gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu và
các hàng hoá đầu vào khác, từ đó tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu. Khi đó rất dễ
xảy ra trờng hợp xuất khẩu tăng chậm hơn nhập khẩu dẫn đến thiếu hụt trong tài
khoản vãng lai và ảnh hởng xấu đến cán cân thanh toán. Trên thực tế nó rất hay xuất
hiện ở các nớc đang phát triển, khi đó nó đòi hỏi các quốc gia phải có một tài khoản
vốn đủ lớn để bù đắp lại mức thiếu hụt trong tài khoản vãng lai, dẫn đến cân bằng cán
cân thanh toán. Trong trờng hợp này, tự do hoá thơng mại đã tác động ngợc lên cán
cân thanh toán, gây cho nớc tiến hành cải cách những khó khăn đáng kể và nhiều khi
còn làm cho mục tiêu làm tăng sản lợng của tự do hoá thơng mại không thể đạt đợc
nh mong muốn. Quá trình thực hiện các cải cách thơng mại sẽ không bị đe doạ đảo
ngợc khi gặp phải thâm hụt quá lớn trong tài khoản vãng lai, nếu các nớc có những
do hoá thơng mại là có nhng không đáng kể vì tổng các thiệt hại về sản lợng và việc
làm do tự do hoá thơng mại tạo nên là nhỏ. Lý do là vì đa số các nớc đang phát triển
khi tiến hành tự do hoá thơng mại đều phát triển các ngành xuất khẩu cần nhiều lao
động một lợi thế so sánh lớn của họ khi tham gia vào nền kinh tế thế giới.
Những tác động trên của tự do hoá thơng mại chỉ mang tính tạm thời, chúng
có thể khắc phục đợc khi có những điều chỉnh thích hợp trong các lĩnh vực chính sách
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
16
Luận văn tốt nghiệp
khác nh chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách tiền tệ, chính sách thị trờng lao động,
chính sách giáo dục, phân phối lại thu nhập...
1.2.2.2. Tác động của FTA đến các nớc thành viên:
Khu vực mậu dịch tự do thơng mai ra đời có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với các quốc gia thành viên, bởi nó đã đáp ứng đợc nhu cầu đẩy mạnh quan hệ thơng
mại với các nớc khác trong khu vực, phản ứng lại với xu thế tự do hoá thơng mại và
quá trình toàn cầu hoá.
Trớc hết theo đúng nội dung cam kết khi tham gia FTA, các quốc gia thành
viên sẽ từng bớc giảm dần và tiến tới xoá bỏ các rào chắn thơng mại đối với hàng hoá
của các nớc thành viên trong FTA đó, nh vậy, sẽ thúc đẩy trao đổi hàng hoá và thơng
mại nội khối. Tụ do hoá thơng mại còn đẩy mạnh dịch chuyển các yếu tố sản xuất,
giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực trong khu vực, tăng cờng khả năng cạnh tranh của
các nền kinh tế, và với sự tồn tại của Khu vực mậu dịch tự do sẽ tăng cờng năng lực
chống chịu lại đợc những khó khăn bất ổn do khủng hoảng,suy thoái kinh tế gây ra.
Khi tham gia vào các FTA, mỗi quốc gia sẽ nhận đợc sự hậu thuẫn của khu
vực trong quan hệ kinh tế- thơng mại quốc tế, qua đó tăng cờng vị thế kinh tế của các
thành viên trên trờng quốc tế. Thế mạnh của từng quốc gia sẽ đợc nâng lên khi tham
gia các quan hệ kinh tế quốc tế với t cách một thể chế hợp nhất.
FTA sẽ giúp các quốc gia thành viên thu hẹp khoảng cách phát triển với nhau,
do các nớc có nền kinh tế mạnh hơn có thể hỗ trợ các nớc có nền kinh tế yếu hơn. Hội
nhập vào khu vực mậu dịch tự do là bớc chuẩn bị cho mỗi quốc gia hớng tới hội nhập
giới hạn các quyền cung cấp các dịch vụ tài chính thuế quan biên giới. Các công ty
hợp nhất của NAFTA có liên doanh ở Mexico sẽ đợc phép thành lập các liên doanh
mới và tăng cổ phần hiện có của họ, thậm chí công ty nớc ngoài ở Mexico sẽ đợc đối
xử bình đẳng nh các công ty trong nớc.
1.2.3.2. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN( AFTA):
Hòa cùng với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, Hiệp hội các nớc
Đông Nam á (ASEAN), mọt trong những khu vực đầy tiềm năng phát triển năng
động và có tốc độ tăng trởng cao vào loại nhất thế giới, bắt đầu chuyển trọng tâm của
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
18
Luận văn tốt nghiệp
sự hợp tác sang lĩnh vực kinh tế. Nhằm nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá của mình
trên thị trờng quốc tế và tăng tính hấp dẫn đối với đầu t nớc ngoài, vào ngày 1/1992,
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ t tại Singapore đã quyết định ký kết một Hiệp định
về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Đến nay, AFTA có 10 nền kinh tế thành
viên với số dân gần nửa tỷ ngời và GDP khoảng 750 tỷ USD. AFTA đợc hoàn tất từ
ngày 1/1/2002 đối với 6 quốc gia thành viên cũ của ASEAN là Brunei, Indonesia,
Malaysia, Phillippines, Thái Lan, Singapore. Các nớc thành viên mới, đợc áp dụng
thời gian thực hiện AFTA dài hơn, 2006 với Việt Nam, 2009 đối với Cộng hoà Dân
chủ Nhân dân Lào và Myamar, 2010 đối với Campuchia
1
.
Quá trình hội nhập kinh tế chính thức thông qua AFTA chủ yếu giới hạn trong
lĩnh vực giảm thuế quan. Trong khi đó, tỷ lệ thuế quan trong thơng mại nội khối
ASEAN đã ở mức thấp. Mục tiêu của AFTA là giảm thuế xuống mức 0-5% của AFTA
đối với thơng mại nội khối của 6 quốc gia ASEAN ban đầu. Trên thực tế, 90% thơng
mại nội khối ASEAN đã có thể thực hiện ở mức thuế 0-5%. Tỷ lệ Chơng trình u đãi
thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của ASEAN giảm từ 12,76% xuống 2,91% trong
giai đoạn 1993-2002. Nếu thực hiện đúng lộ trình của CEPT thì chậm nhất là sau năm
2010, mức thuế nhập khẩu trong ASEAN sẽ bằng 0%, các mặt hàng hoá trong các nớc
triệu dân đang trở thành một khu vực quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế thế
giới. Với vị trí thuận lợi nh vậy, Khu vực Đông Nam á luôn thu hút sự chú ý của các
nớc lớn trong và ngoài khu vực. Mong muốn đợc phát triển ổn định và độc lập, nhiều
quốc gia Đông Nam á từ lâu đã thấy rằng, cần kết thành một khối tạo nên sự gần gũi
về chính trị, kinh tế giữ đợc độc lập tự chủ do đó Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) ra đời nh là một kết quả tất yếu sau những nỗ lực không mệt mỏi của các
quan chức lãnh đạo các nớc trong khu vực Đông Nam á. Mục tiêu của ASEAN là
thúc đẩy tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong vùng trên tinh
thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cờng cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia
Đông Nam á hoà bình và thịnh vợng. Nhng phải đến Hội nghị thợng đỉnh Borgu1992
(Indonesia) mới là cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của ASEAN. Những
văn kiện đợc thông qua tại Hội nghị này đều có nội dung chủ yếu về kinh tế. Quyết
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
20
Luận văn tốt nghiệp
định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA) của Hội nghị thợng đỉnh
Borgu là biểu hiện quyết tâm đa hợp tác kinh tế khu vực lên một bình diện mới. Tuy
nhiên, AFTA không phải là mục tiêu cuối cùng của quá trình hội nhập kinh tế khu
vực. Nó mới chỉ là bớc đi đầu tiên nhng có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình liên
kết kinh tế Đông Nam á.
Triển khai xây dựng AFTA, các nớc ASEAN hy vọng quá trình tự do hoá th-
ơng mại này sẽ giúp tăng cờng buôn bán trong nội bộ khu vực và do đó giảm bớt sự
phụ thuộc của ASEAN vào các thị trờng bên ngoài. Kỳ vọng lớn thứ hai mà ASEAN
đặt vào AFTA là ở chỗ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN sẽ giúp khôi phục tính hấp
dẫn của ASSEAN với t cách là một thị trờng đầu t. Để biến AFTA thành hiện thực,
ASEAN đã quyết định sử dụng nhiều công cụ, trong đó Hiệp định u đãi thuế quan
hiệu lực chung (CEPT) đợc xem là công cụ chủ yếu. Và sau mấy năm triển khai,
AFTA đã thật sự đa lại những lợi ích kinh tế và chính trị cho các nớc thành viên. Kết
quả tiến bộ nhất của AFTA là tạo ra mức tăng trởng trung bình trên 17% cho mậu
dịch nội bộ của ASEAN. Tuy nhiên, nếu xét mức tăng đó trong tổng buôn bán quốc tế
bất lợi cho hiệp định tự do thơng mại song phơng, các hiệp định này vẫn có giá trị
riêng của chúng. Trong số đó có việc tự do tiểu khu vực giữa Singapore và các nớc
phát triển sẽ giúp duy trì mối quan tâm của các nhà đầu t nớc ngoài vào ASEAN. Cam
kết của tất cả mọi quốc gia ASEAN đối với việc thành lập AFTA sẽ giúp ASEAN trở
thành một thị trờng đơn nhất trong mắt các nhà đầu t.
Với lợi thế về kinh tế, chính trị của khu vực Đông Nam á ngày nay, đã có rất
nhiều đề xuất hợp tác kinh tế của các đại gia cờng quốc kinh tế trong khu vực cũng
nh trên thế giới với ASEAN (Xem Bảng 1). Ngày 11/2001, các nhà lãnh đạo ASEAN
và Thủ tớng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã phê chuẩn việc thiết lập một khu vực tự do
giữa các nền kinh tế ASEAN và Trung Quốc trong vòng 10 năm, trong khuôn khổ của
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN- Trung Quốc. Phản ứng trớc đề
xuất xây dựng một Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc, Thủ tớng Nhật Bản
Junichiro Koizumi đã gợi ý thiết lập quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN- Nhật
Bản, bao gồm các nội dung truyền thống và mới về thuận lợi hoá, tiêu chuẩn và các
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
22
Luận văn tốt nghiệp
hình thức hợp tác khác. Hàn Quốc cũng đa ra một đề xuất tơng tự. Tại Hội nghị APEC
2002 ở Mexico, thậm chí Mỹ cũng đa ra một đề xuất tơng tự. Tuy nhiên vẫn cha có
biểu thời gian nào đợc đa ra.
Tóm lại, ASEAN đang ở trong tình thế vô cùng thuận lợi, là trung tâm của
một loạt các thoả thuận thơng mại u đãi. Tuy vậy, có thể do những yếu kém nội tại và
thiếu sự lãnh đạo thống nhất, nên ASEAN vẫn cha tận dụng triệt để vị thế độc đáo
này. Do đó để đạt đợc thành công, ASEAN cần đảm bảo rằng mình có một tầm nhìn
rõ ràng về những mục tiêu cần đạt đợc từ chủ nghĩa khu vực và ASEAN cần có một lộ
trình rõ ràng nhằm xác định các Hiệp định sẽ tham gia để mang lại hiệu quả cao nhất
cho từng quốc gia và khu vực Đông Nam á.
Bảng 1 : Các hiệp định thơng mại đã ký và đang đợc đề xuất của các nớc Đông
Nam á
Loại hiệp định Hiện trạng Năm
ASEAN+ ấn Độ
Đề xuất 2002
ASEAN+ Nhật bản Đối tác kinh tế gần gũi Thảo luận chính thức 2002
ASEAN+ Hàn Quốc Khu vực mậu dịch tự do Thảo luận chính thúc 2002
Singapore+EFTA Khu vực mậu dịch tự do Đã ký 2002
ASEAN+3 Khu vực mậu dịch tự do Thảo luận chính thức/
Nghiên cứu
2000
EU+ ASEAN 2003
Chú thích:
EFTA: Thuỵ Sỹ, Iceland,Lichtenxten và Na Uy.
ASEAN+3: ASEAN + Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
CER: úc + New Zealand, đã có hiệp định đối tác kinh tế gần gũi
Nguồn: Nhiều tác giả- Đông á hội nhập: Lộ trình chính sách thơng mại hớng đến
mục tiêu tăng trởng chung- Nxb Văn hoá thông tin- tr 59-60
1.3.2. Thực tế hội nhập của Trung Quốc:
Hai trăm năm trớc đây, Napoléon đã gọi Trung Quốc là ngời khổng lồ đang
ngủ say và cho rằng khi Trung Quốc tỉnh dậy sẽ làm chấn động cả thế giới. Ngày
nay, nh nhiều ngời nhận định, Trung Quốc đã tỉnh dậy rồi. Hơn hai mơi năm cải
cách mở cửa và phát triển kinh tế, Trung Quốc đã đạt đợc những thành tựu to lớn: từ
năm 1980-1995, GDP của Trung Quốc tăng bình quân hàng năm 10,2%. Năm 1995,
GDP đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980. Tốc độ tăng trởng kinh tế năm 1996 là 9,7%,
năm 1997 là 9,5% và năm 2000 là 8%. Các nhà lãnh đạo kinh tế Trung Quốc cũng nh
các cơ quan WB, IMF, Ngân hàng Châu á đều nhận định rằng Trung Quốc rất có khả
năng giữ đợc tốc độ phát triển kinh tế trên 9%.. Nhìn vào thực lực kinh tế hiện nay, có
ngời cho rằng. Trung Quốc là trung tâm sức mạnh chủ yếu ở khu vực châu á- Thái
Bình Dơng. Năm 1998 tính theo tỷ giá hối đoái thì GDP của Trung Quốc chỉ kém
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
24
Luận văn tốt nghiệp