Một số Giải pháp đẩy mạnh hoạt động XNK Hàng hóa giữa VN và Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập ACFTA - Pdf 11

luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Với việc trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 11/2001, Trung
Quốc đã có thể củng cố vị thế kinh tế, chính trị của mình và hội nhập sâu hơn vào th-
ơng mại thế giới. Hiện nay, Trung Quốc càng có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế với
các nớc trong khu vực.
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) hịên đang là nhà cung cấp,
cũng nh một thị trờng quan trọng đối với Trung Quốc và đang chịu tác động mạnh mẽ
theo nhiều hớng khác nhau đặc biệt là từ khi Trung Quốc gia nhập WTO. Trong thập
kỉ vừa qua Trung Quốc và ASEAN đều có những cải cách, mở cửa nền kinh tế và đều
thực hiện chiến lợc kinh tế hớng tới xuất khẩu, có tốc độ tăng trởng kinh tế khá cao
và ảnh hởng qua lại ngày càng lớn. Cuộc đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN là
sáng kiến tăng cờng quá trình hội nhập và hợp tác kinh tế để thành lập một Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc gọi tắt là ACFTA (ASEAN- China Free Trade
Area) vào ngày 4/11/2002 thông qua việc ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế
toàn diện ASEAN- Trung Quốc.
Với việc hình thành nên ACFTA sẽ mở ra những thời cơ và thách thức đối
với quan hệ thơng mại Việt Nam- Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới. Bởi vậy, em đã chọn đề tài Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập ACFTA.
Mục tiêu của Luận văn Tốt nghiệp:
Đánh giá thực trạng quan hệ thơng mại giữa ASEAN, Việt Nam- Trung Quốc
trong những năm gần đây. Đánh giá cơ hội và thách thức đối với thơng mại Việt Nam
trong quá trình hội nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA). Từ
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
1
luận văn tốt nghiệp
đó, đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và
Trung Quốc trong bối cảnh ACFTA.
Đối tợng nghiên cứu của Luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ thơng mại giữa ASEAN, Việt

. Với sự hình thành và
phát triển của các khối kinh tế, các nền kinh tế quốc gia, các nền kinh tế khu vực, các
mảnh khác nhau của nền kinh tế thế giới đang tồn tại và phát triển trong sự đan xen,
gắn kết, cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau. Từ đây và cùng với các yếu tố khác, xu h-
ớng hội nhập kinh tế khu vực va xu hớng toàn cầu hoá kinh té ( toàn cầu hoá) đã xuất
hiện.
Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế chung đó, kể từ khi bắt đầu thực
hiện chính sách mở cửa thị trờng và bình thờng hoá quan hệ với một số nớc láng giềng
trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đâ có rất nhiều nỗ lực tham gia tiến trình hội
nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới nh là AFTA. APEC, WTO... và từng bớc
thực hiện các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định song phơng, đa phơng nh Hiệp
định thơng mại Việt Nam- Hoa Kỳ... và gần đây nhất là Hiệp định khung về hợp tác
kinh tế toàn diện ASEAN- Trung Quốc. Do đó chúng ta đòi hỏi phải có hệ thống quan
điểm về vấn đề hội nhập sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình để có thể
có đợc các chính sách, giải pháp, chiến lợc đúng đắn trong quá trình hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới.
1.1.1.1. Khái niệm:
Cũng nh các khái niệm khu vực hoá và toàn cầu hoá thì khái niệm hội nhập
(integration) xuất phát từ phơng Tây và định nghĩa khái niệm này là cả một vấn đề
1
Viện Nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa (1998)-Đại từ điển kinh tế thị trờng
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
3
luận văn tốt nghiệp
không đơn giản. Trên thực té đối với ngay cả các chuyên gia kinh tế thì cũng có
không ít những định nghĩa khác nhau về hội nhập và hầu nh không có định nghĩa nào
đợc thừa nhận tuyệt đối. ở Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế là một khái niệm mới
mẻ, đợc sử dụng nhiều từ giữa thập niên 90 trở lại đây. Thuật ngữ hội nhập xuất hiện
và đợc sử dụng phổ biến trong bối cảnh chúng ta xúc tiến mạnh mẽ chính sách đa ph-
ơng hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, tích cực triển khai các nỗ lực để gia nhập vào

trong khu vực và thế giới, mặt khác tự do hoá thơng mại cũng đang trở thành một xu
thế tất yếu và đợc xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao lu giữa các
quốc gia, thúc đẩy tăng trởng kinh tế và nâng cao mức sống của mọi quốc gia. Chính
vì vậy, định hớng phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều điều chỉnh các
chính sách của mình theo hớng mở cửa thị trờng, giảm dần và tiến tới dỡ bỏ các rào
cản thơng mại, tạo điều kiện cho việc lu chuyển các nguồn lực và hàng hóa tiêu dùng
giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn.
Việt Nam không thể đi ngợc lại xu thế chung đó, bởi hiện nay đã có hai phạm
trù thực tiễn đã tồn tại khách quan đó là: quan hệ hàng hóa tiền tệ và sự trao đổi này
đã ra khỏi phạm vi của một quốc gia độc lập có chủ quyền, tức là một quốc gia dù có
giàu có hoặc phát triển đến đâu cũng không thể tự mình đáp ứng đợc tất cả các nhu
cầu của chính mình. Trình độ phát triển càng cao thì càng phụ thuộc với mức độ nhiều
hơn vào thị trờng thế giới. Đó là một vấn đề có tính quy luật. Những quốc gia chậm
trễ trong hội nhập kinh tế quốc tế thờng phải trả giá bằng chính sự tụt hậu của chính
mình. Bởi vậy, để hội nhập hiệu quả, cần phải có quan điểm nhận thức đúng đắn, nhất
quán, cơ chế chính sách thích hợp tận dụng tốt cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, hạn chế rủi
ro trong quá trình hội nhập, phát triển tiến lên của mình.
1.1.2. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế:
1.1.2.1. Các hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tổng hợp của các nỗ lực trong chính
sách và hành động theo hớng tự do hoá, mở cửa của các quốc gia ở cấp độ đơn ph-
ơng,song phơng và đa phơng.
ở cấp độ đơn phơng, mỗi nớc có thể chủ động thực hiện những biện pháp tự
do hoá, mở cửa trong một số lĩnh vực nhất định mà họ thấy cần thiết vì mục đích phát
triển kinh tế của mình chứ không nhất thiết do quy định của các định chế, tổ chức
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
5
luận văn tốt nghiệp
kinh tế quốc tế mà họ tham gia. Có nhiều nớc đã làm nh vậy nhất là trong lĩnh vực đầu
t.

6
luận văn tốt nghiệp
vậy, trong một thị trờng chung, không những hàng hoá, dịch vụ mà hầu hết các nguồn
lực khác nh vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân công... đều đợc tự do lu chuyển giữa các
thành viên
+ Liên minh kinh tế (Economic Union): là mô hình hội nhập ở giai đoạn cao
dựa trên cơ sở mô hình thị trờng chung cộng thêm với việc phối hợp các chính sách
kinh tế giữa các thành viên.
+ Liên minh toàn diện ( Total Economic Integration): Là giai đoạn cuối cùng
của quá trình hội nhập. Các thành viên thống nhất về chính trị và các lĩnh vực kinh tế,
bao gồm cả lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thuế và các chính sách xã hội. Nh vậy, ở giai
đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên đợc chuyển giao cho một cơ cáu
cộng đồng. Đây thực chất là giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nớc liên bang hoặc các
cộng đồng an ninh đa nguyên.
Những mô hình trên chỉ có tính chất lý thuyết. Trên thực tế nhiều quá trình hội
nhập không đi đúng theo trình tự và hoàn toàn khớp với nội dung của mô hình đó. Từ
thực tiễn của quá trình này, một số học giả đã bổ sung vào lý thuyết của Belassa
những mô hình sau:
+ Thoả thuận thơng mại u đãi: Các bên tham gia thực hiện cắt giảm thuế
quan và các biện pháp phi thuế quan ở một mức độ nhất định nhằm tạo điều kiện thúc
đẩy thơng mại giữa họ với nhau. Hình thức này thể hiện sự hội nhập còn thấp hơn cả
Khu vực mậu dịch tự do. ( Vd: các thoả thuận thơng mại u đãi PTA năm 1977)
+ Thoả thuận thơng mại tự do từng phần: Các bên tham gia chỉ thực hiện
cắt giảm và loại bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế định lợng trong một lĩnh vực
cụ thể.
1.1.2.2. Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế:
Xuất phát từ thuật ngữ hội nhập nh đã đợc xác định ở trên, tức là sự chủ động
tham gia của các quốc gia vào quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá; hội nhập bao hàm
các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiện (policy and pratice) của các quốc gia để
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại

Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
8
luận văn tốt nghiệp
nguyên tắc và cách thức cam kết của WTO làm cơ sở cho suốt quá trình đàm phán và
cam kết giữa hai bên).
Các nguyên tấc cơ bản của WTO
1
bao gồm:
+ Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Đây là nguyên tắc tối quan trọng trong
hoạt động của WTO, tức là không đợc phân biệt đối xử giữa các thành viên.
Theo điều khoản về Đãi ngộ tối huệ quốc ( Most Favoured Nation - MFN)
thì mỗi thành viên sẽ dành sự đãi ngộ của mình đối với sản phẩm (hàng hóa,dịch vụ,
đối tợng sở hữu trí tuệ) của các thành viên khác nh nhau, tức là không kém u đãi hơn
so với hàng hoá của các thành viên khác.
Đãi ngộ quốc gia ( National treatment - NT ) cũng là loại hình chống phân
biệt đối xử. Theo yêu cầu của loại hình này thì hàng hoá cua một nớc thành viên khi
thâm nhập vào một thị trờng sẽ đợc đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá t-
ơng tự đợc sản xuất trong nớc.
+ Thơng mại tự do hơn: Đây cũng là nguyên tắc chủ đạo của GATT/WTO, đó
là để cho thơng mại tự do hơn hay khác đi là tăng khả năng thâm nhập thị trờng của
các công ty, các nhà đầu t thì phải từng bớc giảm và xoá bỏ các loại rào cản. Tất cả
các vòng đàm phán của GATT đều nhằm đến mục đích loại bỏ dần các rào cản thơng
mại. Trong tiến trình của các cuộc đàm phán, xu hớng chung là cắt giảm thuế quan và
thuế hoá các rào cản phi thuế.
+ Thơng mại có thể dự báo trớc: Vấn đề mấu chốt của thơng mại có thể dự
báo trớc đó là sự minh bạch các chính sách trong nớc của các quốc gia thành viên.
Rất nhiều hiệp định của WTO đều chứa đựng điều khoản về minh bạch hoá đòi hỏi
phải đợc công bố công khai. Các quan chức WTO sẽ rà soát các chính sách này.
+ Tăng cờng cạnh tranh công bằng: Mục tiêu của WTO là tiến tới tự do hoá
thơng mại chứ không phải là tổ chức thơng mại tự do, cho nên WTO vẫn cho phép sử

áp dụng chiến lợc thay thế nhập khẩu và hớng ra xuất khẩu để chuyển dịch cán cân th-
ơng mại về phía xuất siêu; và cùng với sự mở rộng quy mô thơng mại quốc té. thu hút
đầu t trực tiếp nớc ngoài, phát triển lực lợng sản xuất cũng góp phần đẩy mạnh tăng tr-
ởng kinh tế. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia đang phát triển đã đạt tốc độ
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
10
luận văn tốt nghiệp
tăng trởng rất cao trong những năm qua kể từ khi bắt đầu mở cửa thị trờng, tăng cờng
hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng cho phép các quốc gia đang phát triển tham gia
vào quá trình chuyển giao vốn, công nghệ, lao động quốc tế, thu hút đầu t nớc ngoài,
nhờ đó cải thiện năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, doanh
nghiệp, nền kinh tế. Khi đó các quốc gia nh Việt Nam, Trung Quốc,... có thể tiếp xúc
và áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại và trình độ quản lý cao đối với nền sản xuất
trong nớc. Trong năm 2000, tổng vốn FDI dịch chuyển trên toàn cầu đã vợt ngỡng
1000 tỷ USD. Việt Nam cũng đang nỗ lực tận dụng cơ hội này của hội nhập để đi tắt
đón đầu hoàn thành mục tiêu phấn đấu trở thành nớc công nghiệp vào năm 2020.
Cùng với sự tăng trởng của GDP do tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, các
quốc gia đang phát triển có nhiều điều kiện để nâng cao mức sống xã hội, nhiều ngời
dân có thể tiêu dùng đợc nhiều hàng hoá phong phú hơn. Singapore là một trong
những quốc gia đang phát triển đã tận dụng rất tốt cơ hội hội nhập để cải thiện thu
nhập xã hội và điều kiện sống của nhân dân.
Một cơ hội nữa dành cho các quốc gia đang phát triển khi tham gia hội nhập là
đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ( bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu
vùng...) từ chỗ tự cung tự cấp hoặc phải nhập khẩu thì nay có thể thay thế đợc nhập
khẩu và hớng ra xuất khẩu. Với Việt Nam, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất
quan trọng, chúng ta vừa phải điều chỉnh tối u hoá sản xuất theo điều kiện nguồn lực
vừa phải đáp ứng các đòi hỏi của hội nhập.
Tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế còn góp phần ổn định vĩ mô nền
kinh tế chống lại các tác động tiêu cực. Trong khủng hoảng tài chính châu á năm

doanh nghiệp Việt Nam vốn quen đợc nhà nớc bảo hộ, và chậm chạp trong xúc tiến
thơng mại sẽ bị thua thua thiệt trong một môi trờng cạnh tranh bình đẳng nhng vô
cùng quyết liệt này. Với sự cạnh tranh gay gắt từ một số hàng hoá của Trung Quốc và
một số nớc khác ngay tại thị trờng trong nớc trong những năm qua, các doanh nghiệp
Việt Nam muốn tồn tại và phát triển đợc thì bắt buộc phải xác định đợc lợi thế của
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
12
luận văn tốt nghiệp
mình, điều chỉnh lại cơ cấu mặt hàng, cố gắng tiếp thu những thành tựu khoa học mới,
đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thơng mại nhằm nâng cao sức cạnh tranh để đối phó
và dần từng bớc vợt lên.
Thứ hai, đó là mặc dù hội nhập có tạo ra điều kiện để rút ngắn khoảng cách
phát triển giữa các quốc gia song nếu không nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thì nó lại là nguy cơ nới rộng khoảng cách hơn nữa, mang lại nhiều lợi ích cho các
quốc gia phát triển, các tập đoàn kinh tế t bản giàu có và gây bát lợi cho các quốc gia
và khu vực yếu kém trong tơng lai không xa. Nguyên nhân là do trong thời đại khoa
học phát triển nh hiện nay thì đa số công nghệ kỹ thuật hiện đại đều đã sử dụng ít
nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên, và hàng hóa sơ chế và lao động cha qua đào tạo
hoặc trình độ thấp không còn là lợi thế của các quốc gia đang phát triển nữa. Trong
nền kinh tế hiện đại chỉ có công nghệ trí thức và kỹ năng mới đợc coi là nguồn lực có
lợi thế so sánh.
Thứ ba, có một thực tế đó là nếu một quốc gia hội nhập càng sâu thì mức độ
phụ thuộc của quốc gia đó vào nền kinh tế thế giới càng lớn. Thêm vào đó, các tổ
chức kinh tế thế giới không phải lúc nào tôn trọng định hớng phát triển của các quốc
gia khi sự can thiệp của họ dến cải cách chính sách, tài chính, mở rộng thị trờng đợc
coi nh là điều kiện để mỗi quốc gia hội nhập và nhận đợc hỗ trợ. Ngoài ra, đó còn là
sự chi phối của các tập đoàn, công ty đa quốc gia với các quốc gia đang phát triển, rõ
nét nhất là ở châu Phi, Mỹ Latinh, một số quốc gia châu á).Tất cả các nhân tố đó tác
động tiêu cực đến tính độc lập và hiệu quả của các chính sách phát triển quốc gia.
Thứ t, đó chính là nguy cơ mất cân bằng trong phân phối thu nhập xã hội,

Đây là hình thức liên kết kinh tế có tính thống nhất không cao (Xem 1.1.2.1),
các nớc trong liên kết cùng nhau thoả thuận :
- Thuận lợi hoá hoạt động thơng mại và đầu t giữa các nớc thành viên bằng
cách thoả thuận cắt giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế, thuận lợi hoá hoạt động
đầu t vào nhau.
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
14
luận văn tốt nghiệp
- Giữa các nớc này xây dựng các chơng trình hợp tác kinh tế và đầu t vì sự
phát triển chung của các nớc thành viên.
- Thực hiện đơn giản hoá thủ tục hải quan và thị thực xuất nhập cảnh tạo điều
kiện cho hàng hoá, dịch vụ, hoạt động đầu t của các thành viên thâm nhập vào nhau.
- Mỗi nớc tuỳ vào điều kiện phát triển kinh tế của quốc gia mình mà đa ra các
giải pháp về thuế quan, các biện pháp phi thuế riêng phù hợp với các nguyên tắc
chung của khối.
- Mỗi nớc thành viên vẫn có quyền độc lập tự chủ của mình trong quan hệ
kinh tế đối ngoại với các nớc ngoài khối.
FTA là hình thức liên kết kinh tế phổ biến nhất. Vì đây là hình thức cho phép
mỗi nớc thực hiện tự do hoá thơng mại với các nớc trong liên kết, nhng vẫn thực hiện
đợc các chính sách đa dạng hóa thị trờng, đa phơng hoá các mối quan hệ kinh tế. Các
FTA có thể có tiến trình hình thành và thể chế không giống nhau song về nguyên tắc
hoạt động, nội dung cơ bản vẫn sẽ dựa vào các nguyên tắc cơ bản của WTO (1.1.2.2).
1.2.2. Tác động của Tự do hoá thơng mại và FTA đối với các nớc thành
viên:
1.2.2.1. Tác động của Tự do hoá thơng mại:
Khi thực hiện tự do hoá thơng mại, các quốc gia thờng gặp phải những tác
động liên quan đến ngân sách chính phủ, cán cân thanh toán, việc làm và phân phối
thu nhập. Cần lu ý rằng các tác động này có thể khắc phục đợc và do đó không gây
cản trở lớn đối với tiến trình cải cách thơng mại, nếu đáp ứng đợc những điều kiện
nhất định.

Vấn đề liên quan đến việc làm hay các chi phí xã hội của tự do hoá thơng
mại: Việc phân bổ lại các nguồn lực, trong đó có nguồn nhân lực là không thể tránh
khỏi, khi tiến hành tự do hoá thơng mại. Tác động này của cải cách thơng mại mang
tính bù trừ giữa những công việc bị mất đi trong các ngành sản xuất bị thu hẹp và
những công việc đợc tạo thêm trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu. Thônng th-
ờng tác động này rất khó xác định trong thực té do sự xảy ra không đồng thời của các
công việc cũ bị mất đi và các công việc mới đợc tạo thành. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
16
luận văn tốt nghiệp
vào khả năng thích ứng về trình độ chuyên môn và tay nghề của lực lợng lao động
hiện có đối với các công việc mới, cũng nh tính linh hoạt của thị trờng lao động. Trên
cơ sở đó, trong ngắn hạn, thất nghiệp có thể tăng lên, dẫn đến suy giảm sản xuất. Giá
trị sản xuất bị suy giảm chính là chi phí xã hội của tự do hoá thơng mại. Chi phí này
thờng mang tính giới hạn bởi hai lẽ: nó có thể giải quyết đợc sau một thời gian nhất
định và cũng có thể hạn chế đợc nếu có một môi trờng lao động linh hoạt. Bởi vì độ
linh hoạt của thị trờng này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển lao động từ các
ngành sản xuất bị thu hẹp sang các ngành sản xuất đợc mỏ rộng sẽ tiến hành nhanh
hơn. ở các nớc đang có nền kinh tế chuyển đổi, thông thờng tính linh hoạt của thị tr-
ờng lao động không cao nếu không đẩy nhanh quá trình t nhân hoá các doanh nghiệp
nhà nớc. Bên cạnh chi phí xã hội của tự do hoá thơng mại nói trên, bản thân các cá
nhân ( kể cả công nhân cũng nh chủ doanh nghiệp) bị thay đổi việc làm cũng có nguy
cơ phải gánh chịu một số thiệt thòi nhất định: thu nhập ( lợi nhuận) thấp hơn, tăng chi
phí đào tạo lại, tốn thời gian làm quen với công việc mới,.... Trong trờng hợp thất
nghiệp quá lớn và kéo dài, gây giảm sút nghiêm trọng trong sản xuất, tức chi phí xã
hội của tự do hoá thơng mại quá lớn, có thể dẫn đén tình trạng phân phối thu nhập
không đồng đều giữa các nhóm dân c, cụ thể là giữa nhóm dân c từ các ngành sản
xuất bị thu hẹp và các ngành sản xuất đợc mở rộng. Trên thực tế, tác động này của tự
do hoá thơng mại là có nhng không đáng kể vì tổng các thiệt hại về sản lợng và việc
làm do tự do hoá thơng mại tạo nên là nhỏ. Lý do là vì đa số các nớc đang phát triển

trên mọi mặt với các nớc khác trong khu vực, qua đó đảm bảo an ninh, trật tự, hoà
bình và hợp tác cùng nhau phát triển.
1.2.3. Một số FTA:
Với việc tự do hoá thơng mại và toàn cầu hoá đang rất phổ biến và trở thành
xu thế tất yếu nh hiện nay, đã có nhiều Khu vực mậu dịch tự do đã và đang đợc hình
thành, phát triển ( Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA, Khu vực mậu dịch tự
do Bắc Mỹ NAFTA, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc
ACFTA(năm 2010),...). Thậm chí đã có nhiều Khu vực mậu dịch tự do đã phát triển
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
18
luận văn tốt nghiệp
đến mức độ hội nhập cao nhất đó là Liên minh toàn diện mà nhà kinh tế học Bela
Balassa đã nêu ra. ( Vd: Liên minh châu Âu EU).
1.2.3.1. Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ NAFTA :
NAFTA đợc viết tắt từ North American Free Trade Area, thành lập theo Hiệp
định đợc ký kết giữa ba nớc Mỹ, Canada và Mexico vào ngày 12/8/1992. Và đợc
Quốc hội ba nớc lần lợt thông qua vào năm 1993. Đây là khối kinh tế lớn nhất toàn
cầu với diện tích lãnh thổ là 21,3 triệu km2, dân số 278 triệu ngời, năm 2002 đạt tổng
GDP là 11.400 tỷ USD ( Mỹ gần 10.000 tỷ, Canada gần 1000 tỷ, Mexico trên 400 tỷ).
Hiệp định của NAFTA gồm 15 chơng trình và 20 điều khoản chủ trơng dẫn tới
xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa 3 nớc trong vòng 15 năm, gạt bỏ mọi trở ngại trong
các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ và đầu t, cho phép công dân ba nớc thành viên đợc tự
do đi lại, mở ngân hàng, thị trờng chứng khoán, công ty bảo hiểm,... ở cả 3 nớc.
NAFTA cũng đã mở ra thị trờng tài chính vốn khép kín của Mexico với trị giá 146 tỷ
USD, đồng thời cải thiện việc thâm nhập vào thị trờng Canada trị giá 285 tỷ USD.
Những hạn chế phân chia thị trờng Mexico ( cả đối với các nớc ngoài NAFTA) đã đợc
bãi bỏ vào 1/1/2000, cho phép các ngân hàng và công ty bảo hiểm Mỹ có cơ hội cạnh
tranh và phát triển không hạn chế với các công ty trong nớc. Mặt khác, Hiệp định đã
giới hạn các quyền cung cấp các dịch vụ tài chính thuế quan biên giới. Các công ty
hợp nhất của NAFTA có liên doanh ở Mexico sẽ đợc phép thành lập các liên doanh

hơn cho các nớc trong khu vực- một thị trờng khoảng nửa tỷ ngời gần bằng một
nửa dân số Trung Quốc nhng với một lợng tổng sản phẩm quốc nội GDP tơng đơng
Trung Quốc.
Thực tế cho thấy hiệu quả của việc thực hiện AFTA là thơng mại nội khối
tăng nhanh từ 44,2 tỷ USD năm 1993 lên 97,8 tỷ USD năm 2000. Đến năm 2002,
ASEAN 6 đã đạt đợc 98,3% tổng dòng thuế trong danh mục IL (Danh mục giảm
thuế): 0,49% tổng dòng thuế trong danh mục SL (Danh mục nhạy cảm). Tỷ lệ CEPT
trung bình giảm từ 11,44% năm 1993 còn 2,93% năm 2002 đối với ASEAN 6. Tuy
nhiên, do khó khăn mà Brunei còn 16 mặt hàng, Indonesia còn 67, Phillippines còn
205, Thái Lan còn 457 và Malaysia còn 922 mặt hàng vẫn duy trì thuế suất trên 5%
theo cơ chế linh hoạt và dự kiến đạt 100% dòng thuế IL vào năm 2003. Theo Ban Th
1
Nhiều tác giả-Đông á hội nhập/Lộ trình chính sách thơng mại hớng đến mục tiêu tăng trởng chung-Nxb Văn hoá
thông tin -tr 61
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
20
luận văn tốt nghiệp
ký ASEAN, do kết quả thực hiện CEPT, xuất khẩu từ ASEAN 6 đến ASEAN 10 đã
tăng từ 43,6 tỷ USD năm 1993 lên 87,7 tỷ USD năm 2001, tăng trung bình
9,92%/năm. Tỷ lệ xuất khẩu nội ASEAN chiếm 22,75% tổng xuất khẩu năm 2001.
Đánh giá kết quả thực hiện AFTA, ông Amát Xakiát-Trởng ban th ký ASEAN cho
rằng tiến trình AFTA đi đúng lộ trình, tất cả các nớc thành viên ASEAN đều đợc hởng
lợi từ tiến trình AFTA, trớc hết là có thể mở rộng thị trờng cho hàng hoá của mình,
thứ đến là tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và thu hút ngày càng nhiều vốn
đầu t.
1.3. Thực tế hội nhập và tham gia FTA của một số quốc gia:
1.3.1. Thực tế hội nhập của các quốc gia Đông Nam á:
Đông Nam á là vùng tập trung nhiều tuyến đờng giao thông quốc tế và ở vị
trí tiếp giáp, trung chuyển giữa phơng Đông và phơng Tây. Hiện nay, Đông Nam á có
11 quốc gia( thêm Đông Timo mới tách ra từ Indonesia) với quy mô thị trờng 500

của ASEAN trong những năm qua, thì tỷ lệ tăng trởng đó lại không đáng kể. Giá trị
của AFTA với t cách là sức hút mới đối với các nhà đầu t nớc ngoài, còn cha đợc
chứng minh trong thực tế. Điều này có thể do AFTA cha thực sự hình thành và ảnh h-
ởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở Đông Nam từ tháng 7/1997 và
kéo dài cho tới hiện nay. Có thể thấy rằng những thành tích trong hợp tác kinh tế và
phát triển còn hết sức nghèo nàn, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới
những cố gắng hợp tác kinh tế khu vực của ASEAN không đa lại kết quả mong muốn
là do các nớc này cha thật sự có nhu cầu tăng cờng hợp tác kinh tế với nhau. Ngoài
ra, xuất phát điểm thực hiện AFTA của các nớc ASEAN cũng là một vấn đề khi mà
trình độ kinh tế giữa các quốc gia thành viên cũ (Brunei, Indonesia, Malaysia,
Phillippines, Thái Lan, Singapore) và mới (Việt Nam, Lào, Myanmaar, Campuchia)
cũng đặt ra nhiều vấn đề phải tính đến. Đó là từ đầu năm 2003, tiến trình AFTA giảm
thuế xuất nhập khẩu từ 0-5% hầu nh hoàn tất với các thành viên cũ thì các thành viên
mới còn đang cố gắng thực hiện theo thời hạn kéo dài đến 2006, 2008, 2010. Sự chênh
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
22
luận văn tốt nghiệp
lệch về thời gian hoàn thành AFTA là cần thiết cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của
các nớc mới gia nhập ASEAN, nhng dù sao cũng gây ra những khó khăn nhất định đối
với những nớc có trình độ cao hơn. Cho nên không tránh khỏi việc một số quốc gia
thành viên đã thiết lập một số tam giác tăng trởng nh là Tam giác Sijori (bao gồm
Singapore, đảo Riau của Indonesia và bang Johor cuả Malaysia đợc cựu Thủ tớng
Singapore Goh Chuk Tong đa ra năm 1989), Tam giác IMT-GT (bao gồm bắc
Sumatra của Indonesia, các bang phía bắc Malaysia: Penang, Kedah, Perlis và nam
Thái Lan đợc phát động vào 7/1993)... hoặc thậm chí tìm kiếm sự liên kết thị trờng th-
ơng mại tự do (thông qua các Hiệp định thơng mại song phơng) với một đối tác bên
ngoài khu vực nh Singapore với Mỹ, với Nhật.... Tuy nhiên, cũng có một vài quốc gia
thành viên ASEAN đã bày tỏ thái độ dè dặt đối với việc thúc đẩy hiệp định thơng mại
tự do song phơng vì sợ rằng hiệp định thơng mại tự do song phơng sẽ cản trở nỗ lực
hội nhập của ASEAN và ảnh hởng tới sự tín nhiệm của AFTA. Bất chấp mọi tranh cãi

Singapore- úc
Khu vực mậu dịch tự do Đã ký 2003
Singapore- Canada Khu vực mậu dịch tự do Đang đàm phán 2001
Singapore- Chile Khu vực mậu dịch tự do Đang đàm phán 2000
Singapore- Nhật Bản Khu vực mậu dịch tự do Đã ký 2002
Singapore- Hàn Quốc Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất
Singapore- Mỹ Khu vực mậu dịch tự do Đã ký 2003
Singapore- Mexico Khu vực mậu dịch tự do Đang đàm phán 1999
Singapore- New Zealand Khu vực mậu dịch tự do Đã ký 2001
Singapore- Đài Loan(TQ) Đối tác kinh tế gần gũi Đề xuất/Nghiên cứu 2002
Philippines- Nhật Bản Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất 2002
Philippines- Mỹ Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất
Thái Lan- Nhật Bản Đối tác kinh tế gần gũi Đề xuất/Nghiên cứu 2002
Thái Lan- úc
Khu vực mậu dịch tự do Đang đàm phán 2002
Thái Lan- Croatia Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất 2001
Thái Lan- Czech Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất 2001
Thái Lan- ấn Độ
Khu vực mậu dịch tự do Đề xuất 2002
Các khu vực
AFTA Khu vực mậu dịch tự do Đang đợc thực thi 1992
AFTA+CER Đối tác kinh tế gần gũi Thảo luận chính thức/ 2000
Nguyễn Việt Hải- K37F3- Khoa Kinh tế- ĐH Thơng mại
24
luận văn tốt nghiệp
Nghiên cứu
ASEAN+Trung Quốc Khu vực mậu dịch tự do Thảo luận chính thức/
Đàm phán
2001
ASEAN+ ấn Độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status