Nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá của Công ty Cung ứng nhân lực Quốc tế và Thương mại - SONA - Pdf 61

LỜI MỞ ĐẦU
Xuất nhập khẩu hàng hoá là lĩnh vực kinh doanh buôn bán hàng hoá và dịch vụ với
nước ngoài nhằm thu được lợi nhuận và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Đặc biệt là
lĩnh vực hoạt động xuất khẩu từ lâu đã chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong sự tồn tại
và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xu hướng
quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước ngày càng phát triển. Đại bộ phận các doanh
nghiệp, công ty hiện nay trực tiếp hoặc gián tiếp đều có liên quan đến giao dịch thương
mại quốc tế. Chính vì vậy, các quan hệ giao dịch thương mại giữa Việt nam và các
nước Mỹ, Nhật, Tây Âu ... ngày càng tăng cường; và các chính sách của chính phủ các
nước này sẽ có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong
nước. Một số doanh nghiệp, Ngân hàng, các công ty bảo hiểm , công ty cổ phần mặc dù
không liên quan trực tiếp đến buôn bán quốc tế, song vẫn có những mối quan hệ nhất
định về kinh doanh xuất nhập khẩu.
Việc chuyển sang nền kinh tế mở vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là sự phát triển của
hàng loạt các loại hình doanh nghiệp mới: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần.. và kéo theo sự sôi động của một thị trường tràn ngập hàng
hoá. Vì vậy,khó khăn của các doanh nghiệp Nhà nước là điều không tránh khỏi. Để
tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường mang đầy tính cạnh tranh thì không
có con đường nào khác là phải nâng cao khả năng cạnh tranh qua việc nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này càng mang tầm quan trọng
đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Thông qua xuất nhập khẩu chúng ta có điều kiện nắm bắt và tiếp cận những
thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới, thúc đẩy sản xuất trong nước ngày càng
phát triển, kích thích và mở rộng nhu cầu trong nước, đưa cuộc sống con người ngày
càng văn minh hiện đại, khai thác triệt để tiềm năng và thế mạnh của đất nước và thế
giới trên cơ sở phân công lao động quốc tế và chuyên môn hoá quốc tế.
Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận lớn, là phương
tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện
cho nhập khẩu và cơ sở hạ tầng. Nhà nước ta luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các
ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng

1. Tính tất yếu khách quan của thương mại quốc tế (TMQT):
Xuất nhập khẩu hàng hoá là lĩnh vực kinh doanh buôn bán hàng hoá và dịch vụ
với nước ngoài nhằm thu được lợi nhuận và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Buôn
bán hàng hoá và dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế - xã hội và
phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá nói
riêng của các quốc gia nói chung. Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các nước tham
gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước.
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một trong những yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế
và do đó nó góp phần quyết định sự thắng bại của một đường lối công nghiệp hoá ở
các nước đang phát triển cũng như của Việt Nam.
Xuất nhập khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt
động quan trọng của thương mại quốc tế. Sự ra đời và phát triển của TMQT gắn liền
với quá trình phân công lao động quốc tế. Với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật phạm vi
chuyên môn hoá ngày một tăng. Số sản phẩm cùng dịch vụ để thoả mãn nhu cầu của
con người ngày một dồi dào. Điều đó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước
ngày càng tăng. TMQT cũng vì thế mà ngày càng phát triển mở rộng và phức tạp.
Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương thì mỗi nước muốn đạt được sự
thịnh vượng phải gia tăng khối lượng tiền tệ. Muốn có của cải, các nước phải phát
triển buôn bán với nước ngoài. Lý thuyết trọng thương chỉ ra rằng lợi nhuận buôn
bán là kết quả của sự thay đổi không ngang giá và lừa gạt giữa các quốc gia, TMQT
chỉ có lợi cho một bên và gây ra thiệt hại cho bên kia. Đến giai đoạn cuối họ cho
rằng có thể tăng cường nhập khẩu nếu qua đó đẩy mạnh được xuất khẩu, cán cân
thương mại vẫn nghiêng về phía xuất khẩu.
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và xã hội giữa các quốc gia là cơ sở xuất
hiện TMQT. Chính sự khác nhau đó mà mỗi nước có lợi thế riêng là chuyên môn hoá
sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với điều kiện sản xuất và xuất khẩu hàng
hoá của mình để nhập khẩu những hàng hoá cần thiết khác mà trong nước chưa có
điều kiện để sản xuất hay sản xuất với chi phí lớn không hiệu quả. Điều quan trọng ở
đây là mỗi quốc gia phải tự xác định cho được những mặt hàng nào mà nước mình có
lợi nhất trên thị trường cạnh tranh quốc tế. Sự khác nhau về điều kiện sản xuất cũng

TMQT.
Vậy TMQT bắt nguồn từ đâu:
Một là, TMQT xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất giữa
các nước, nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng có lợi thế và nhập khẩu các
loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng bất lợi lớn nhất thì chắc chắn đem lại lợi nhuận
lớn hơn. Nguồn lực tự nhiên gồm: đất đai, thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý. Nguồn tài
nguyên ảnh hưởng tới TMQT là rất rõ, nó giải thích tại sao một nước kinh doanh
xuất khẩu nông sản, lương thực, dầu lửa, dịch vụ du lịch,...
Nguồn nhân lực là lực lượng con người trong một quốc gia. Đây là lực lượng
trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nên nó ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện sản xuất, đặc
4
biệt là lao động có kỹ năng cao. Lực lượng lao động của một nước càng có kỹ năng
cao thì nước đó càng có nhiều khả năng để trở thành nước xuất khẩu các sản phẩm
chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao giá cả phải chăng trên
thị trường thế giới. Những thập kỷ qua đã nói lên điều này, nhờ dựa vào lực lượng
lao động dồi dào, giá nhân công rẻ mạt mà các nước Đông Nam á đã thành công
chiến lược hướng vào xuất khẩu các sản phẩm có sử dụng nhiều lao động. Hạ tầng cơ
sở của một nước như: giao thông vận tải với truyền thông, hệ thống cung cấp điện
năng và các phương tiện công cộng đóng một vai trò quan trọng về việc có thể thúc
đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển thương mại của một nước đó đối với thế giới. Ví dụ
như đường sá, bến cảng không thích hợp có thể làm tăng chi phí lưu thông hàng hoá,
không có điều kiện để phát triển các hoạt động dịch vụ. Ngược lại, cơ sở hạ tầng tốt
là một nguồn lực phục vụ cho xuất khẩu, như hệ thống truyền thông tin phát triển
giúp cho các bên liên lạc trao đổi dễ dàng, nhanh, xúc tiến quá trình thương mại giữa
các nước.
Hai là, hiệu quả kinh tế theo qui mô, nghĩa là hầu hết các hàng hoá được sản
xuất ra đắt hơn khi sản xuất với khối lượng nhỏ, và trở nên rẻ hơn khi qui mô sản
xuất tăng lên. Do vậy mà một nền sản xuất có qui mô lớn người ta có thể tiết kiệm
trong việc sử dụng máy móc thiết bị và nguyên liệu. Hơn nữa, do sự phân công công
việc ra giữa nhiều người khác nhau, mỗi người có thể trở thành chuyên gia trong một

dụng sự phân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất.
Nhận thức được vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã có những bước đi đúng
đắn trong đường lối đối ngoại của mình. Với chính sách đa dạng hoá và đa phương
hoá các quan hệ quốc tế, mở cửa và hướng mạnh ra xuất khẩu đã làm cho nền kinh tế
nước ta sống dậy, hoạt động ngoại thương trong 10 năm đổi mới đã đạt được những
thành tựu đáng kể, như hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở nước ta không ngừng gia
tăng, từ năm 1986 đến năm 1996 trung bình hàng năm tăng 25-27% đóng góp một
phần không nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Do vậy, tại Đại hội
Đảng lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: "Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập tự chủ, mở rộng, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh
thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều mặt song phương và đa phương với
các nước các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền
toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng.
2. Khái niệm và các loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu.
2.1. Khái niệm
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước
thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội
và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá
riêng biệt của các quốc gia.
Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự mở rộng của các quan hệ mua bán trong
nước và ngoài nước. Trước đây, khi chưa có quan hệ trao đổi hàng hoá, cá nhân mỗi
con người cũng như mỗi quốc gia đều tự thoả mãn lấy các nhu cầu của mình, lúc đó
6
mọi nhu cầu của con người cũng như của quốc gia bị hạn chế. Quan hệ mua bán trao
đổi hàng hoá xuất hiện khi có sự ra đời cuả quá trình phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Cùng với sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật và tác động của những quy luật kinh tế khách quan, phạm vi chuyên
môn hóa và phân công lao động xã hội ngày càng rộng, nó vượt ra khỏi một nước và

là quá trình điều tra để tìm triển vọng bán hàng cho một sản phẩm cụ thể hay một
nhóm sản phẩm. Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số
liệu về thị trường, so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận để lập kế
hoạch marketing. Khi nghiên cứu thị trường phải tìm hiểu nước nào là thị trường có
triển vọng nhất đối với sản phẩm của công ty? Khả năng số lượng bán ra được bao
nhiêu? Sản phẩm cần có những thích ứng gì trước những đòi hỏi của thị trường? Nên
chọn phương pháp bán hàng nào cho phù hợp.
a/ Nghiên cứu thị trường trong nước
Trước hết doanh nghiệp phải nắm chắc tình hình trong nước về các mặt có
liên quan đến việc xuất nhập khẩu
- Nhận biết hàng hoá xuất nhập khẩu
- Doanh nghiệp nắm chắc các chính sách, chế độ tập quán của nước liên quan
đến việc xuất nhập khẩu hàng hoá.
b/ Nghiên cứu thị trường nước ngoài
Nghiên cứu thị trường nước ngoài theo các khía cạnh chủ yếu: đặc tính
hàng hoá, thị hiếu của khách hàng, chính sách tập quán thương mại, tình hình tài
chính, tín dụng, điều kiện chuyên chở và bốc xếp, nắm chắc các điều kiện về phẩm
chất và chủng loại hàng, đặc tính thị trường như dung lượng thị trường, giá thị
trường.
c/ Lựa chọn đối tượng giao dịch.
8
Trên cùng một thị trường, cùng một loại hàng có rất nhiều nhà kinh doanh
khác nhau, vì vậy khi lựa chọn cần tìm hiểu về: thái độ chính trị của đối tượng giao
dịch, khả năng kinh tế , loại hình doanh nghiệp, phạm vi kinh doanh, vốn và cơ sở
vật chất kỹ thuật của đối tác , uy tín của đối tác trên thị trường đó. Lựa chọn đối
tượng giao dịch nên dùng các phương pháp như qua sách báo, tài liệu, qua tư vấn của
nhà nước , qua điều tra trực tiếp hoặc buôn bán thử để tìm hiểu dần.
3.1.2. Các bước giao dịch
Sau giai đoạn nghiên cứu tiếp cận thị trường là giai đoạn giao dịch, thương
lượng với nhau về các điều kiện để đi đến ký kết hợp đồng. Lập kế hoạch cụ thể để

bán ngoại thương. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị
xuất nhập
khẩu của nước ta trong quan hệ với nước ngoài
3.1.5. Tổ chức thực hiện hợp đồngxuất nhập khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo
đúng những điều khoản đã ký trong hợp đồng.
10
11
3.2. Trình tự thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá.
* Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá bao gồm các bước sau:
12
Ký hợp đồng xuất khẩu
Kiểm tra L/C
Xin giấy phép xuất khẩu
Chuẩn bị h ng xuà ất khẩu
Giao h ng lên t uà à
Uỷ thác thuê t uà
Mua bảo hiểm
L m thà ủ tục hải quan
Kiểm nghiệm h ng hoáà
L m thà ủ tục thanh toán
Giải quyết khiếu nại
* Trình tự nhập khẩu hàng hoá bao gồm các bước sau:4. Vai trò của xuất nhập khẩu .
Xuất nhập khẩu hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và
lưu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết
13
Ký kết kinh doanh nhập

động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế góp
phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giàu.
Với định hướng phát triển kinh tế xã hội của Đảng, chính sách kinh tế đối
ngoại nói chung và thương mại nói riêng phải được coi là một chính sách cơ cấu có
tầm quan trọng chiến lược nhằm phục vụ quá trình phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Chính sách xuất nhập khẩu phải tranh thủ được tới mức cao nhất nguồn vốn kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến của nước ngoài nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển, giải quyết việc làm cho người lao động.
II- NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT NHẬP KHẨU
A. Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài.
1. Nhân tố kinh tế - xã hội trong nước.
Nhân tố kinh tế - xã hội trong nước có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập
khẩu ở đây bao gồm trạng thái của nền kinh tế trong nước và các chính sách của nhà
nước.
1.1 Trạng thái của nền kinh tế trong nước.
14
a/ Dung lượng sản xuất
Dung lượng sản xuất thể hiện số lượng đầu mối tham gia vào sản xuất hàng
hoá xuất nhập khẩu và với số lượng sản xuất lớn thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp xuất khẩu trong công tác tạo nguồn hàng, song cũng trong thuận lợi đó,
doanh nghiệp có thể phải đương đầu với tính cạnh tranh cao hơn trong việc tìm bạn
hàng xuất khẩu và nguy cơ phá giá hàng hoá bán ra thị trường thế giới.
b/ Tình hình nhân lực.
Một nước có nguồn nhân lực dồi dào là điều kiện thuận lợi để các doanh
nghiệp trong nước xúc tiến xuất nhập khẩu các mặt hàng có sử dụng sức lao động.
Về mặt ngắn hạn, nguồn nhân lực được xem như là không biến đổi, vì vậy chúng ít
tác động tới sự biến động của hoạt động xuất nhập khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi
dào, giá nhân công rẻ là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều
lao động như hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc ... và nhập khẩu thiết bị, máy móc kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến...

chỉnh theo quá trình lạm phát có liên quan hay là tỷ giá hối đoái thực tế. Trong quan
hệ buôn bán ngoại thương, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng, tác động lớn tới hiệu
quả hoạt động xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm sẽ làm thay đổi giá trị
hàng hoá xuất nhập khẩu, ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu. Có thể đưa ra ví dụ trong xuất khẩu như: Nếu tỷ giá hối đoái
chính thức là không đổi và tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên thì các nhà xuất khẩu các
sản phẩm sơ chế, là người bán theo mức giá cả quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của
họ sẽ bị thiệt. Họ phải chịu chi phí cao hơn do lạm phát trong nước. Hàng xuất khẩu
trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán với tỷ giá hối đoái chính thức cố
định không được tăng lên để bù lại chi phí sản xuất cao hơn. Các nhà xuât khẩu các
sản phẩm chế tạo có thể làm tăng giá cả xuất khẩu của họ để bù đắp lại chi phí nội
địa cao hơn, nhưng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trường sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ
nguyên mức giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận thấp. Nếu tình trạng ngược lại là tỷ
giá hối đoái thực tế giảm so với tỷ giá hối đoái chính thức, khi đó sẽ có lợi cho các
nhà xuất khẩu nhưng lại bất lợi cho các nhà nhập khẩu.
b/ Thuế quan và quota.
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng
trực tiếp của thuế xuất nhập khẩu và quota.
16
Thuế xuất khẩu có xu thế làm giảm xuất khẩu và do đó làm giảm nguồn thu
ngoại tệ của đất nước. Tuy nhiên, đối với nước ta hiện nay, thực hiện chủ trương
khuyến khích xuất khẩu nên hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt các mặt hàng
nông sản, không phải chịu thuế xuất khẩu.
Thuế nhập khẩu có xu thế làm giảm nhập khẩu và do đó làm tăng nguồn
thu ngoại tệ của đất nước. Hiện nay ở nước ta, rất nhiều mặt hàng phải chịu thuế
nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ các ngành sản xuất các mặt hàng đồng
nhất ở trong nước. Nhưng bắt đầu giai đoạn này, thực hiện chủ trương hội nhập với
thế giới, tham gia vào AFTA,nước ta đang tiến dần tới việc xoá bỏ dần một số hình
thức bảo hộ bằng thuế nhập khẩu.
Còn quota là hình thức hạn chế về số lượng xuất nhập khẩu, có tác động

làm, nhiều khi vẫn còn xảy ra " cuộc chiến " giữa " luật và lệ ".
2. Nhân tố tài nguyên thiên nhiên và địa lý.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những nhân tố quan trọng làm cơ
sở cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất nhập khẩu. Nó góp phần ảnh
hưởng đến loại hàng, quy mô hàng xuất nhập khẩu của quốc gia.
Vị trí địa lý có vai trò như là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát
triển kinh tế cũng như xuất nhập khẩu của một quốc gia. Vị trí địa lý thuận lợi là điều
kiện cho phép một quốc gia tranh thủ được phân công lao động quốc tế, hoặc thúc
đẩy xuất nhập khẩu dịch vụ như du lịch, vận tải, ngân hàng...
3. Ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới.
Trong xu thế toàn cầu hoá thì phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng, vì
vậy mà mỗi sự biến động của tình hình kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có những
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nước. Lĩnh vực hoạt động xuất
nhập khẩu là lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể ở nước ngoài, chịu sự chi
phối và tác động của các nhân tố ở nước ngoài nên nó lại càng rất nhạy cảm. Bất kỳ
một sự thay đổi nào về chính sách xuất nhập khẩu, tình hình lạm phát, thất nghiệp
hay tăng trưởng và suy thoái kinh tế... của các nước đều ảnh hưởng tới hoạt động
xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở nước ta.
B. Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp.
1. Nhân tố bộ máy quản lý
18
Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viên
nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động. Để quản lý tập trung thống nhất
phải sử dụng phương pháp hành chính. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy
doanh nghiệp cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố quyết
định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp
lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động kinh doanh,
ngược lại nếu cơ cấu tổ chức xệch xoạc, cách điều hành kém cỏi sẽ dẫn đến hiệu quả
thấp trong hoạt động kinh doanh.
2. Nhân tố con người.

1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi xem xét hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cần phải
dựa vào hệ thống tiêu chuẩn sau:
- Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường nhưng phải tuân thủ sự
quản lý vĩ mô của nhà nước.
- Phải kết hợp hài hoà ba lợi ích kinh tế: cá nhân, tập thể, nhà nước. Tuyệt
đối không vì lợi ích cá nhân làm tổn hại lợi ích tập thể.
- Lợi nhuận doanh nghiệp kiếm được phải dựa trên cơ sở vận dụng linh hoạt,
sáng tạo các quy luật của nền sản xuất hàng hoá.
- Mức thu nhập thuần tuý của doanh nghiệp trên lao động phải thường xuyên
tăng lên.
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu người ta
thường dựa vào nhóm chỉ tiêu sau:
20
Chỉ tiêu Công thức xác định
*Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng lao động
- Năng xuất lao động Kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
- Kết quả sản xuất trên một đồng chi phí
tiền lương
Kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
- Lợi nhuận bình quân tính cho một lao
động
Lợi nhuận trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
*Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn cố định
- Sức sản xuất của vốn cố định Kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ

Tổng chi phí tiêu thụ và sản xuất trong kỳ
- Doanh lợi theo vốn sản xuất Lợi nhuận trong kỳ
21
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
- Doanh lợi kim ngạch xuất nhập khẩu
thuần
Lợi nhuận trong kỳ
Kim ngạch xuất nhập khẩu thuần
Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các yếu tố riêng lẻ phản ánh hiệu quả sử dụng
từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ
tiêu này càng lớn phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố càng cao, đồng thời nó cũng
phản ánh một khía cạnh nào đó hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu
2.1 Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có liên quan
đến nhiều yếu tố khác nhau, do đó khi đánh giá hiệu quả cần quán triệt những quan
điểm sau:
- Bảo đảm thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ kinh doanh trong
việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Do đặc điểm của nước ta là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa cho nên đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Nó thể hiện
trước hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện các chỉ
tiêu pháp lệnh hoặc các đơn hàng nhà nước giao hoặc các hợp đồng kinh tế nhà nước
ký kết với các doanh nghiệp vì đó là nhu cầu, là điều kiện để phát triển cân đối nền
kinh tế quốc dân, nền kinh tế hàng hoá. Những nhiệm vụ kinh tế và chính trị nhà
nước giao cho doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp trước hết việc sản xuất kinh doanh
cần phải hướng tới đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, của thị trường trong nước,
lợi ích quốc gia.
- Bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích xã

nghiệp cần phải thực hiện các mối quan hệ kinh tế chủ yếu sau đây:
- Mối quan hệ giữa các hàng hoá tiêu thụ trên thị trường với hàng hoá sản
xuất ra và tổng sản lượng.Trong đó phải tăng tốc độ tiêu thụ hàng hoá trên thị trường,
giảm hàng hoá tồn kho, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.
- Mối quan hệ giữa tốc độ tăng kết quả lao động sống và chi phí chi ra để
duy trì và phát triển sức lao động.Trong đó tốc độ tăng năng xuất lao động phải
nhanh hơn tốc độ tăng lương bình quân và tăng tiền công lao động.
23
- Mối quan hệ giữa tốc độ tăng kết quả sản xuất kinh doanh và tăng các
nguồn chi phí để đạt kết quả đó. Trong đó tăng kết quả phải nhanh hơn tăng chi phí.
- Mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh và tăng chi phí sử dụng tài
sản lưu động để đạt kết quả đó. Trong đó tốc độ tăng kết quả nhanh hơn chi phí tài
sản cố định để đạt kết quả đó.
- Mối quan hệ giữa tăng vốn đầu tư và tăng năng lực sản xuất mới.Trong đó
tốc độ tăng năng lực sản xuất mới nhanh hơn tốc độ tăng vốn đầu tư để đạt tăng năng
lực mới.
24
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
XUẤT NHẬP KHẨU Ở CÔNG TY SONA
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
1. Sự hình thành và phát triển
a/ Tên công ty:
- Tên đầy đủ: Công ty cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại
- Tên giao dịch: International manpower supply and trade company
- Tên giao dịch viết tắt: sona
b/ Địa chỉ: 34 - Đại Cồ Việt, Quận Hai Bà Trưng, Hà nội.
c/ Cơ quan sáng lập:
Công ty Cung ứng nhân lực Quốc tế và Thương mại (SONA), tiền thân từ
Công ty dịch vụ lao động với nước ngoài, trực thuộc Cục quản lí lao động với nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status