MỤC LỤC
1. Giới thiệu chung về Singapore......................................................................5
2. Những chính sách giáo dục tiêu biểu của Singapore.....................................6
2.1. Ngân sách đầu tư cho giáo dục...................................................................6
2.2 Chính sách song ngữ...................................................................................8
2.2.1.Vì sao chọn chính sách song ngữ.............................................................8
2.2.1.1.Chính sách song ngữ vì hòa bình sắc tộc..............................................8
2.2.1.2.Tiếng Anh – ngôn ngữ quốc tế..............................................................10
2.2.2. Sự phản đối của người Hoa.....................................................................11
2.2.3. Những mặt hạn chế của chính sách.........................................................11
2.3. Chính sách thu hút nhân tài........................................................................12
2.3.1. Lí do chọn chính sách thu hút nhân tài....................................................12
2.3.2. Các biện pháp đưa ra để thực hiện chính sách này và những kết quả đạt
được...................................................................................................................13
2.4. Kết hợp cả giáo dục phương Đông và phương Tây..................................15
2.5. Phương pháp dạy ít hơn, học nhiều hơn.....................................................16
2.5.1. Tại sao chọn chính sách này....................................................................16
2.5.2.Chính sách được thực hiện như thế nào...................................................17
2.5.3. Thách thức đối với mô hình giáo dục này...............................................19
2.6. Đầu tư dạy môn toán và khoa học trong trường học..................................19
3. Những thành tựu tiêu biểu đã đạt được.........................................................20
4.Bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam................................................22
4.1. Tăng cường việc dạy và học tiếng Anh......................................................22
4.2. Chú trọng đầu tư chất lượng giáo viên bằng các biện pháp thực tế...........23
4.3. Việt Nam nên có những ngành nghề đào tạo kĩ thuật, đào tạo những công
nhân lành nghề đang còn rất thiếu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
...........................................................................................................................24
4.4. Nhân tài và thu hút nhân tài.......................................................................25
Kết luận.............................................................................................................27
Tài liệu tham khảo.............................................................................................28
Chính sách và thành tựu giáo dục Singapore : Những bài học
sức mạnh quốc gia của Singapore “ . Lê Thanh Hương với bài nghiên cứu :
“Tính cộng đồng , tính cá nhân và thành công trong phát triển đất nước của
Singapor “ trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á ) … Bên cạnh đó, trên các
phương tiện thông tin đại chúng cũng đang rất quan tâm tới giáo dục Singapore
bởi hiện nay du học tại Singapore đang là một lựa chọn của rất nhiều phụ huynh
và học sinh. Như các trang web : vnexpress.net, dantri.com, tuoitre.com.vn….
3. Mục đích nghiên cứu của báo cáo khoa học bao gồm các vấn đề
sau:
- Giới thiệu và phân tích những chính sách giáo dục tiêu biểu của
Singapore trong những năm qua (những chính sách đó đã xuất hiện trong thời kì
nào, những mặt tích cực, mặt hạn chế của các chính sách đó và giải pháp nhằm
tìm ra hướng đi mới đúng đắn và thành công hơn).
- Nêu lên những thành tựu giáo dục Singapore như là kết quả của các
chính sách giáo dục của chính phủ.
- Từ những chính sách và thành tựu giáo dục của Singapore có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Vì hai nước cùng nằm trong khu vực
Đông Nam Á, cùng nằm trong khối ASEAN nên ít nhiều cũng có những nét
tương đồng về mặt văn hóa, hoàn cảnh phát triển với nước ta. Do đó, chúng ta
nên tham khảo những chính sách giáo dục của Singapore xem có thể áp dụng
vào nền giáo dục Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
Trong báo cáo khoa học này đối tượng nghiên cứu là chính sách và thành
tựu giáo dục tiêu biểu của Singapore khi tách khỏi Liên bang Malaysia cho đến
nay và một số chính sách giáo dục mà Việt Nam có thể học tập từ Singapore. Do
đó, phạm vi nghiên cứu của báo cáo khoa học không chỉ trình bày về giáo dục
Singapore mà ít nhiều mở rộng sang cả những vấn đề giáo dục của Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp chủ yếu là tổng hợp, phân tích nhằm trình bày được những
vấn đề chính về chính sách và thành tựu giáo dục Singapore
Ngoài ra, phương pháp do sánh cũng được sử dụng nhằm tìm ra những ưu
nghịch với dân số, đất chật người đông, nạn thất nghiệp ngày càng tăng cao.
Hơn nữa, Singapore lại vừa trải qua một thời kì dài nằm dưới ách thống trị của
chủ nghĩa thực dân phương Tây nên nền kinh tế vẫn trong tình trạng lạc hậu. Do
những khó khăn đó, Singapore đã gia nhập Liên bang Malaysia vào năm 1963
với mục đích tìm kiếm thị trường nội địa để phát triển. Tuy nhiên từ năm 1963 –
1965 nền kinh tế Singapore đã không thể phát triển được giống như kế hoạch
mà những nhà cầm quyền đưa ra cùng với đó là sự mâu thuẫn gay gắt về quyền
lợi giữa tư sản người Hoavà tư sản người Malaysia nên các nhà cầm quyền
Singapore quyết định chuyển hướng chiến lược tách Singapore ra khỏi Malaysia
năm 1965. Sau đó các nhà lãnh đạo Singapore quyết tâm thi hành các chính sách
phát triển kinh tế xã hội và đạt được một số kết quả đáng mừng như : ngay từ
đầu những năm 80 của thế kỉ trước Singapore đã là một nước công nghiệp mới,
phúc lợi xã hội của người dân ngày càng được nâng cao. Từ đầu những thập
niên 90 thu nhập quốc dân của Singapore đã đạt 7.000$ và đang phấn đấu trở
thành Thụy Sĩ của châu Á (Phan Ngọc Liên : Giáo dục – một dộng lực phát triển
của Singapore). Năm 2002 GDP đạt 160 tỉ $ [3]. Năm 2005 theo báo cáo của
ngân hàng thế giới Singapore được xếp hạng thứ 3 trên tổng số 45 nước trên thế
giới có môi trường kinh doanh thuận lợi. Singapore trở thành quốc gia sử dụng
dịch vụ viễn thông lớn nhất tại châu Á với tỉ lệ sử dụng dịch vụ Internet là 42 %.
Tháng 3/ 2002 Tạp chí Economist đưa ra cho thấy chất lượng sống tại Singapore
còn vượt hơn cả hai thành phố London và New York dựa trên tiêu chuẩn đánh
giá trên 39 lĩnh vực bao gồm ổn định chính trị, tự do cá nhân, ô nhiễm môi
trường, chất lượng chăm sóc y tế, trường học nhà hát, nhà hàng…[3]
Thành công đó có được từ những chính sách hết sức linh họat, nhạy bén
của chính phủ Singapore trong sự phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác đầu tư,
xây dựng bộ máy hành chính trong sạch, và một yếu tố góp phần vô cùng quan
trọng trong thành công đó là nhờ sự đầu tư vào giáo dục.
2. Những chính sách giáo dục tiêu biểu của Singapore
Chính phủ Singapore rất nỗ lực trong việc đưa ra các chính sách nhằm
phát triển kinh tế - xã hội như : “tập trung vị trí địa lí thuận lợi để phát triển kinh
Cách làm này không những tạo thêm nguồn vốn để phát triển nguồn nhân lực
mà còn là một trong những cách tốt nhất cho lực lượng lao động tiếp cận và lĩnh
hội nhanh chóng những kiến thức và công nghệ tiên tiến nhất của thế giới.
Ngoài ra, chính phủ còn khuyến khích các tổ chức cộng đồng quyên góp tiền của
xây dựng trường học cho con em mình. Việc làm này đã giúp mở ra rất nhiều
trường học mới đáp ứng nhu cầu của ngành giáo dục và phát huy tinh thần đoàn
kết của toàn dân vì một nền giáo dục phát triển. Kết quả là đến những năm 80 có
nhiều trung tâm nghiên cứu đào tạo do người nước ngoài giúp đỡ xây dựng ở
nước này như : Học viện Nhật- Singapore, Học viện Pháp- Singapore, Học viện
Đức – Singapore…(Trần Khánh : “ Phát triển và thích nghi nguồn nhân lực với
coongn ghiệp hóa – kinh nghiệm của Singapore” )Điều này cho thấy chính phủ
Singapore đã rất nhạy bén trong việc giáo dục, huy động nguồn vốn đầu tư cho
giáo dục từ nguồn vốn sẵn có trong nước và nước ngoài, việc làm này một mặt
phát huy nội lực bên trong đất nước làm cho người dân có ý thức trong việc xây
dựng giáo dục quốc dân, mặt khác thu hút sự quan tâm của nước ngoài nhằm tạo
tính cạnh tranh, tăng cường phát triển hơn nữa giáo dục, tạo dựng mối quan hệ
với bạn bè quốc tế và tiếp thu công nghệ từ khắp nơi trên thế giới
2.2. Chính sách song ngữ
2.2.1.Vì sao lại chọn chính sách song ngữ
Năm 1959, Thủ tướng Lí Quang Diệu và cộng sự quyết định dùng tiếng
Malay làm quốc ngữ song sau đó các nhà lãnh đạo đã nhận ra rằng tiếng Anh
phải là ngôn ngữ nơi làm việc và là ngôn ngữ chung. Bên cạnh đó tỏng dư luận
xã hội có nhiều luồng phản ứng khi đề nghị chính phủ đảm bảo vị thế của người
Hoa như một ngôn ngữ chung vì người Hoa chiếm một số lượng đông đảo dân
số của Singapore . Từ những vấn đề đó chính phủ Singapore đã đưa ra phương
án song ngữ nhằm mục đích để tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung ở Singapore
làm cầu nối cho mọi công dân có nguồn gốc chủng tộc khác nhau. Do vậy chính
phủ áp dụng xây dựng Giáo trình song ngữ hay chính sách tiếng mẹ đẻ và chính
sách này đã trở thành một nền tảng của hệ thống giáo dục Singapore. Anh ngữ
là ngôn ngữ duy nhất và là phương tiện giao tiếp trong giáo dục ở nhà trường.
từ bỏ ngôn ngữ của mình để nói một ngôn ngữ hoàn toàn khác. Họ cũng giống
như 5 triệu người sống ở Quebec kiên trì giữ gìn tiếng Pháp trong một đại lục có
đến 300 triệu người nói tiếng Anh . Hơn nữa một vấn đề cấp thiết cần được giải
quyết ngay đó là phải có một ngôn ngữ chung trong lực lượng vũ trang
Singapore vì sẽ rất khó khăn để chỉ huy một tập thể mà nói nhiều thổ ngữ khác
nhau cũng như phải đương đầu với một viễn cảnh bước vào trận chiến mà không
hiểu nhau dù có sử dụng bất kì ngôn ngữ nào trong 4 ngôn ngữ chính thức đi
chăng nữa. Do đó chính sách song ngữ đã giữ nguyên tiếng mẹ đẻ trong giáo
dục sẽ không làm mất đi truyền thống của họ làm họ cảm thấy giá trị văn hóa
dân tộc mình được lưu giữ giữa một quốc gia đa văn hóa đa dân tộc.
2.2.1.2.Tiếng Anh –ngôn ngữ quốc tế
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc
tế, ngôn ngữ nơi làm việc và đặc biệt rất phù hợp với một cộng đồng giao
thương như Singapore. Tiếng Anh sẽ phá vỡ những rào cản ngôn ngữ và văn
hóa trong giao tiếp lớp trẻ đồng thời xóa bỏ đi những bất công trong cơ hội tìm
kiếm việc làm giữa các thí sinh tốt nghiệp trường tiếng Anh và các trường tốt
nghiệp thứ tiếng khác. Thông thạo tiếng Anh là một công cụ cho họ tiếp cận
được những tri thức tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay, phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp công nghiêp hóa hiện đại hóa, mang đến cho người Singapore sự tự tin
và khẳng định mình trong thế giới châu Á mà từ xa xưa con người không biết
đến cái tôi của mình và tạo điều kiện cho sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây
lấy cá nhân làm trung tâm cũng thâm nhập ngày càng mạnh ở nước này. Năm
1971, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ hành chính thống nhất
của Singapore. . Vì thế chính sách song ngữ được đưa ra là để nguyên giá trị
vốn có của nó với 4 ngôn ngữ chính thức là tiếng Malay, tiếng Hoa (phổ thông)
tiếng Tamil và tiếng Anh. Do đó chính phủ đề ra việc học 3 thứ tiếng Quan
Thọai , Malay, Tamil ở các trường tiếng Anh và giới thiệu việc học tiếng Anh
trong các trường dạy bằng tiếng Hoa, tiếng Hoa tiếng Malay và Tamil. Thực tế
đã chứng minh việc sử dụng đồng thời cả tiếng Anh là một nhân tố quan trọng.
Năm 1966 Đại học Nanyang( Natah) là đại học dạy bằng tiếng Hoa sau này phải
ngôn ngữ phương Tây là tiếng Anh.
- Khi dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy những giá trị Nho giáo
truyền thống không thể được củng cố trong toàn trường học bởi vì cả giáo viên
lẫn học sinh đều là những người thuộc nhiều chủng tộc và sách giáo khoa không
được viết bằng tiếng Hoa. Chính sách “nhiều tiếng nói một ngôn ngữ” cũng là
một nguy cơ làm giảm đi giá trị truyền thống đạo đức trong sinh viên qua việc
tăng tiếp xúc với văn hóa phương tây.
-Họ được giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ nên rất thuần thục tiếng Anh. Những
người có bằng cấp ở Singapore muốn du học và làm việc tại những môi trường
tốt hơn như Anh, Úc là điều rất dễ dàng vì họ có trong tay chìa khóa tiếng Anh
vì thế đây cũng là môt hạn chế do nó thúc đẩy tình trạng chảy máu chất xám ở
Singapore.
2.3.Chính sách thu hút nhân tài
2.3.1. Lí do chọn chính sách thu hút nhân tài
Đối với bất kì một quốc gia nào trên thế giới nhân tài là một hạt nhân, một
yếu tố trọng yếu góp phần mang lại thành công cho đất nước vì có nhân tài sẽ là
một đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Nguyên Thủ tướng Lí Quang
Diệu đã phát biểu : “ Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua