Tiểu luận thanh toán: “ Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc. Bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam”
I. Chính sách tỉ giá hối đoái của Trung Quốc
1.1. Chính sách tỉ giá hối đoái của Trung Quốc trong thời gian qua
1.1.1. Giai đoạn trước chuyển đổi nền kinh tế - năm 1979
Cũng như các nước khác trong hệ thống XHCN, trước thời điểm chuyển đổi kinh
tế, Trung Quốc xây dựng và áp dụng chính sách tỉ giá cố định và đa tỉ giá nhưng
không tuân theo hoàn toàn đúng những nguyên tắc của chế độ tỉ giá cố định. Những
tỉ giá được ấn định khác nhau tuỳ theo từng quan hệ kinh tế đối ngoại và thoả thuận
trong quan hệ hai bên hay nhiều bên có tính chất nội bộ hệ thống, xoay quanh giá
trị của đồng Ruble (RUR) được ấn định ngang bằng với giá trị của đồng đô la. Trên
thực tế, giao dịch ngoại thương giữa các nước XHCN trong thời gian này là trao
đổi thương mại trực tiếp (hàng đối lưu) và tỉ giá hối đoái ấn định chỉ được sử dụng
vào thanh toán số dư cuối kỳ các hiệp định thương mại hoặc cuối kỳ kế toán.Thực
chất của chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá trong giai đoạn này ở các nước XHCN
nói chung và ở Trung Quốc nói riêng đã xoá nhoà những tín hiệu của thị trường -
động lực kinh doanh đối với các đơn vị kinh tế. Các yếu tố thị trường như quan hệ
cung - cầu đối với ngoại tệ, những nhân tố tác động đến tỷ giá và thị trường ngoại
hối, thị trường tài sản… chỉ tồn tại có tính chất hình thức hoặc không tồn tại chứ
không phải là công cụ đắc lực của nền kinh tế thị trường, không có tác dụng là
những đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Các đơn vị kinh tế nói chung, các
đơn vị và các tổ chức tham gia xuất nhập khẩu nói riêng trở thành những đơn vị thụ
động thực thi các kế hoạch tập trung, chủ quan của Nhà nước bao quát tất cả mọi
khâu của quá trình sản xuất, từ việc cung cấp các yếu tố đầu vào, đến việc sản xuất
cái gì, sản xuất như thế nào, bởi ai và bán cho ai, bao nhiêu, ở đâu… Cơ chế nay đã
thực sự tước đoạt quyền chủ động trong kinh tế, không gắn kết lợi ích của các chủ
thể kinh tế với hoạt động kinh doanh của chính họ. Do đó, làm cho các đơn vị kinh
tế không quan tâm đến hiệu quả của quá trình sản xuất - kinh doanh, hoàn toàn ỷ lại
vào sự sắp đặt của Nhà nước. Chính cơ chế này đã góp phần đưa nền kinh tế của
các nước XHCN, trong đó có Trung Quốc rơi vào thời kỳ suy thoái và khủng hoảng
kinh tế sâu sắc (những năm 70 - 80).
lạm phát của Trung Quốc và Mỹ là 10,92% (27,52% - 16,60% thời kỳ 1990 -
1993) trên 11,06% là mức điều chỉnh tỷ giá thời kỳ 90 - 93, cao hơn mức lạm
phát (0,14%) (bảng xx).
Bảng xx: Biến động tỉ giá danh nghĩa USD/NDT đầu những năm 1990.
Chỉ tiêu 1990 1991 1992 1993
Tỷ giá cuối năm
(USD/NDT)
5.222 5.434 5.752 5.800
Tỷ giá trung bình năm
(USD/NDT)
4.783 5.323 5.515 5.762
Lạm phát Trung Quốc
(%/năm)
3.06 3.52 6.34 14.58
1.1.3. Giai đoạn 1994 – 1997
Trên đà lạm phát bắt đầu tăng nhanh từ giai đoạn trước, dự đoán được tỉ lệ lạm phát
sẽ còn tiếp tục dâng cao nếu không có sự điều chỉnh kịp thời. Hơn nữa, nhận thấy
trong tình hình lạm phát này nếu vẫn duy trì tỷ giá hối đoái theo hướng cố định
tương đối thì sẽ có những tác động xấu đến mục tiêu tăng cường mở cửa và thúc
đẩy xuất khẩu của nền kinh tế do đồng Nhân dân tệ có khả năng trở lại tình trạng bị
đánh giá cao so với sức mua thực tế. Chính phủ Trung Quốc đã ra một quyết định
có ý nghĩa bước ngoặt cho nền kinh tế Trung Quốc.
Ngày 1.1.1994, đồng Nhân dân tệ chính thức bị tuyên bố phá giá mạnh từ 5.8
NDT/USD xuống 8.7 NDT/USD, tương ứng với tỷ lệ phá giá 50% (2.9/5.8). Kết
hợp với tỷ lệ đồng Nhân dân tệ bị đánh giá thấp 0.14% giai đoạn 1990 – 1993 thì tỷ
lệ phá giá thực tế là 50.14%. Như vậy, có thể thấy hành động trên của chính phủ
Trung Quốc không đơn thuần là nhằm điều chỉnh để đồng Nhân dân tệ phản ánh
đúng sức mua của nó, mà đây rõ ràng là một chủ ý trong chính sách tỷ giá hối đoái
của Trung Quốc đã đánh tụt rất mạnh đồng nội tệ nhằm thúc đẩy cao độ xuất khẩu
hàng hoá ra nước ngoài và tạo thặng dư trong cán cân thương mại.
trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích cực nhanh
chóng khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh tế Trung
Quốc
1.1.4. Giai đoạn trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (cuối 1997
– 2005)
Nếu trước thời điểm khủng hoảng Trung Quốc vẫn duy trì ổn định tỉ giá đồng Nhân
dân tệ thì ảnh hưởng của khủng hoảng đối với nền kinh tế sẽ ít nghiêm trọng hơn.
Trên thực tế là đồng Nhân dân tệ đã bị lao đao, đặc biệt là trong thời gian diễn ra
cuộc khủng hoảng năm 1997, một lý do lớn là do sự thả nổi đồng nội tệ trong giai
đoạn 1993 – 1996 như đã nghiên cứu ở trên.
Năm 1998, để bảo vệ đồng Nhân dân tệ trước làn sóng tấn công của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực, một lần nữa Trung Quốc laị quay lại kiểm soát chặt
chẽ thị trường ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và những dự kiến về phá giá đồng
Nhân dân tệ. Đồng thời, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng
của nền kinh tế, chính phủ Trung Quốc đã phối hợp với các chính sách tiền tệ nới
lỏng và kích cầu. Trong năm 1998, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền
cho vay và tiền gửi đồng Nhân dân tệ, đồng thời giảm cả lãi suất tiền gửi ngoại tệ.
Thêm vào đó là các chính sách: hạ thấp tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hỗ trợ vốn doanh
nghiệp, kích thích tiêu dùng các tầng lớp dân cư.
Bảng xxx Tình hình lãi suất trên thị trường tiền tệ trong năm 1998
Chỉ tiêu 20.03.1998 01.07.1998 06.12.1998
Lãi suất tiền cho vay NDT giảm(%) 1.6 0.49 0.27
Lãi suất tiền gửi NDT giảm (%) 0.6 1.12 0.55
Lãi suất tiền gửi USD giảm (%) 4.875 4.250 3.755
Ngày 11/12/2001, Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO).Với những thách thức đặt ra đối với nền kinh tế sau khi gia
nhập WTO, Trung Quốc vẫn tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là chính sách tỷ giá của Trung Quốc cần được thực
thi sao cho đảm bảo hài hoà được với mục tiêu hạ nhiệt nền kinh tế của quốc gia
khổng lồ này trong giai đoạn này.Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung
khẩu, xiết chặt hơn những quy định về việc cho các nhà đầu tư bất động sản vay
tiền và hạn chế hạn ngạch đầu tư của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường trái
phiếu cũng như các thị trường chứng khoán Trung Quốc.
Tháng 10 năm 2004, trong cuộc họp cấp cao của nhóm 7 nước công nghiệp hàng
đầu thế giới (G7) tại Washington, Trung Quốc đã xác nhận sẽ tiến tới linh hoạt tỷ
giá đồng Nhân dân tệ. Mặc dù không đưa ra một lịch trình cụ thể nào cho cam kết
về linh hoạt tỷ giá, nhưng Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số biện pháp nhằm
cải cách chính sách tiền tệ.
Nhờ các nỗ lực điều chỉnh trên của chính phủ, đồng Nhân dân tệ đã đứng vững
trong thời gian này và cả một khoảng thời gian dài về sau. Tính cho đến năm 2005,
tỉ giá ngoại tệ của Trung Quốc được ấn định với đô la Mỹ tại mức 8.28 NDT đổi
lấy 1 USD, với biên độ dao động khá rộng +/- 0.3% mỗi ngày.
1.1.5. Giai đoạn từ 07.2005 đến nay
Vào ngày 22.07.2005, Trung Quốc chính thức thông báo hàng loạt những biện pháp
như sau:
• Đồng Nhân dân tệ được điều chỉnh ở mức độ vừa phải: tăng giá 2.1% tức là
đạt mức 8.11 NDT/USD
• Một sự thay đổi quan trọng hơn: đồng Nhân dân tệ sẽ không tiếp tục, bị ấn
định với USD nữa, mà thay vào đó sẽ được xác định dựa trên một số các
đồng tiền mạnh nhất định như US$, €, ¥, K. Won, etc.(quyết định này đã
được Uỷ ban nhà nước thông qua vào 21.07.2005)
• Mặc dù biên độ dao động tỉ giá trong ngày khá lớn (+/- 3% đối với USD +/-
5% đối với Euro, etc.), thì về mặt lý thuyết, sự biến động hằng ngày này vẫn
được tính đến. Vì thế, ví dụ như USD có thể bị định giá cao khoảng 6% một
tháng, thì cơ quan chức năng sẽ dùng biên độ tối đa 3% áp dụng cho USD.
Những biện pháp trên thể hiện một bước chuyển lớn về tiền tệ của Trung Quốc, từ
chính sách tỉ giá hầu như là cố định sang một cơ chế tỉ giá thả nổi theo cung cầu thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Theo Trung Quốc, điều này phù hợp với bối
cảnh thực tế của sự phát triển khu vực ngoài nước của Trung Quốc.
Từ thời điểm chuyển đổi chính sách trên cho tới hiện nay, Trung Quốc không có
4
Tuy vậy, nó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ mua bán ngoại thương như
trong việc duy trì các hợp đồng cũ trên cở sở tỷ giá cũ là khó, từ đó dẫn đến việc tổ chức
mở rộng sản xuất bị thu hẹp trong ngắn hạn.
Xét trên khía cạnh tiêu cực thì Trung Quốc cũng đã phải chấp nhận trả giá bằng
một mức lạm phát cao không mong muốn năm 1994 là 24,24%, cao hơn năm 1993
24,24/ 14,58 = 66,25%, lớn hơn mức ảnh hưởng thông thường của tỷ giá hối đoái đến
mức giá cả hàng hoá - dịch vụ của một nước (Theo thống kê của các nhà kinh tế là
<50%). Thực tế này có thể được giải thích do sự cộng hưởng của các tác động của chính
sách tiền tệ trước đó (xem bảng 3.2).
Bảng 3.2 : Tình hình diễn biến của chính sách tiền tệ giai đoạn 1990 - 1997.
Chỉ tiêu 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Lãi suất ngân
hàng (%năm)
7,92 7,20 7,20 10,08 10,98 10,44 9,00 8,55
Mức cung tiền
(M1)
701,0 898,8 1171,4 1676,1 2154,0 2597,0 3066,3 3834
Tỷ lệ tăng
trưởng của
M1 (%)
20,15 28,22 30,33 43,08 28,51 20,57 18,07 25,00
Tốc độ tăng
trưởng (%
năm)
3,80 9,20 14,20 13,50 12,70 10,50 9,50 8,80
Bảng 3.3 : Tình hình lạm phát của Mỹ và Trung Quốc 1994 - 1997
Tỷ lệ lạm phát 1994 1995 1996 1997
Mỹ (%) 2,60 3,00 2,70 2,30
Trung Quốc (% năm) 24,24 16,90 8,32 2,80
các công ty nước ngoài chuyển về nước.
Nhìn lại việc duy trì một tỷ giá ổn định NDT/USD của Trung Quốc trong cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Đông Nam Á từ năm 1997, thì phần nào nhận
thấy Trung Quốc đã giảm bớt tác động của nó tới chính nền kinh tế nước mình và cũng
như nền kinh tế thế giới bằng cách duy trì một cách ổn định giá trị của đồng NDT so với
việc để mặc cho đồng NDT bị phá giá trước làn sóng tấn công của cộc khủng hoảng, kết
hợp với việc giảm thuế đối với các công ty xuất khẩu làm cho hàng hoá giảm xuống theo
giá trị đồng USD. Việc này phần nào làm các đồng tiền châu Á tiếp tục ổn định, đồng
USD giảm chậm chạp so với các đồng tiền Châu Á khác cũng như với đồng tiền mới
xuất hiện là đồng Euro.
Việc tăng giá đồng NDT được coi như sự kiện phục hồi đồng tiền của khu vực
Châu Á. Nếu xét trên góc độ này thì ASEAN là khu vực được hưởng thụ từ động thái
chuyển dịch đồng nội tế của nền kinh tế lớn này. Các đồng Châu Á mạnh lên làm giảm
áp lực tăng lãi suất đối với các quốc gia đồng thời giúp giảm chi phí nhập khẩu cho
những nước này. Những nước có tiềm năng được lợi lớn nhất trong trật tự mới này là
Indonesia, Singapore, Thái Lan và Malaysia. Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ tương quan lợi
thế thương mại thì áp lực tăng giá đối với các đồng tiền ASEAN trở nên mạnh hơn cũng
đồng nghĩa với việc các nước ASEAN sẽ bị thua thiệt trong cạnh tranh xuất khẩu.
Bên cạnh đó việc Trung Quốc nâng giá đồng bản tệ và cải tiến chế độ tỷ giá linh
hoạt hơn cũng là một tín hiệu mừng đối với Mỹ và các nước phương Tây. Nhật Bản thì
đánh giá đây là bước khởi đầu của Trung Quốc trong việc quốc tế hoá đồng NDT và làm
cho hoạt động thương mại bình đẳng hơn.Theo Mỹ và các nước phương Tây việc Trung
Quốc liên tục neo giữ tỷ giá đồng NDT ở mức cố định 1USD = 8,28 NDT trong hơn 10
năm trở lại đây đã khiến cho đồng tiền này được định giá thấp hơn giá trị thực của nó tới
40%, do đó mang lại lợi thế bất bình đẳng to lớn về giá cho hàng xuất khẩu của Trung
Quốc. Điều đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp và thâm hụt cán
cân thương mại ở mức khổng lồ của Mỹ, trong đó thâm hụt với Trung Quốc
chiếm tỷ trọng lớn nhất.
II_ Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam
2.1. Chính sách hối đoái của Việt Nam
năm 1990 – 1992. Chính sự điều chỉnh này giúp cho khả năng xuất khẩu và thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam gia tăng mạnh.
Như vậy từ 3/1989 Việt Nam đã áp dụng chế độ 1 tỷ giá, tỷ giá này do Ngân hàng
Nhà nước công bố trên cơ sở đã tổng hợp các yếu tố như lạm phát, cán cân thanh
toán quốc tế, lãi suất…Hay nói một cách khác là Ngân hàng Nhà nước đã dựa vào
quan hệ cung cầu trên thị trường để xác lập tỷ giá. Đây là động thái đánh dấu bước
ngoặt khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước.
Thời gian Tỷ giá chính
thức
Tỷ giá tự do Chênh lệch
Giá trị Tỷ lệ %
1988 3000 5000 2000 66.6
1989 3900 4100 200 5.1
6/1990 5000 5500 500 10
12/1990 6500 700 500 7.69
6/1991 8100 8780 680 8.39
11/1991 14194 14420 226 8.39
6/1992 11138 11380 242 2.42
12/1992 10407 10520 50 0.47
(Báo cáo thống kê, tổng kết từ 1989 – 1999 của Ngân hàng Ngoại Thương Việt
Nam)
16/8/1991 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định 107/ NĐ – QĐ thành lập 2
trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Việc thành lập
2 trung tâm này đã giúp linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo thị