cần Thơ
Tháng 4/2011
-.......................-X Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẰN THƠ
KHỎA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NĨÊN KHÓA 2007- 2011
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VÈ QUAN HỆ DÂN sự CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Giáo viên hướng dẫn:
Th.s BUI THỊ MỸ HƯƠNG
Khóa 33
Sinh viên thưc hiên:
NGUYỄN PHÚ HOÀI
MSSV: 5075266
Lớp Luật Thương Mại 3 -
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG
VIÊN
....................----------------
GVHD:Th.s
Th.sBùi
BùiThị
ThịMf,
7
1.3.1 Nguyên tắc luật nhân thân...............................................................................7
1.3.1.1 Nguyên tắc luật quốc tịch....................................................................7
1.3.1.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú..................................................................8
1.3.2 Nguyên tắc luật quốc tịch của pháp nhân.......................................................8
1.3.3 Nguyên tắc luật nơi có vật..............................................................................9
1.3.4 Nguyên tắc nơi thực hiện hành vi...................................................................9
1.3.4.1 Nguyên tắc luật nơi ký kết hợp đồng..................................................9
1.3.4.2...............................................................................................................
Nguyên
tắc
luật
nơi
thực
hiện
hợp
đồng
..........................................................................................................................
10
1.3.4.3...............................................................................................................
Nguyên
tắc
17
PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ DÂN sự CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI............................17
2.1 Thừa kế có yếu tố nước ngoài...........................................................................17
2.1.1 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài...................................................17
2.1.1.1 Năng lực lập di chúc..........................................................................17
2.1.1.2.............................................................................................................. Hì
nh thức di chúc................................................................................................19
2.1.1.3.............................................................................................................. N
ội dung di chúc................................................................................................22
2.1.1.4.............................................................................................................. Hi
ệu lực của di chúc............................................................................................22
2.1.2 Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài...............................................24
2.1.2.1.............................................................................................................. Di
ện thừa kế.........................................................................................................25
2.1.2.2 Hàng thừa kế......................................................................................26
2.1.3 Năng lực nhận di sản, thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc và di
sản không người thừa kế...........................................................................................27
2.1.3.1 Năng lực nhận di sản.........................................................................27
2.3.1.2 Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc...............................28
2.3.1.3 Di sản không người thừa kế..............................................................28
2.2 Họp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài............................................................29
2.2.1 Hình thức hcrp đồng dân sự..........................................................................30
2.2.1.1 Áp dụng luật thực chất Việt Nam trong hình thức hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài.............................................................................................31
2.2.1.2 Áp dụng pháp luật nước ngoài trong hình thức hợp đồng dân sự có
yếu tố nước ngoài.............................................................................................32
2.2.2 Nội dung hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ........................................33
GVHD: Th.s
Bùi Thị
ực trạng quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài................................52
3.2.2 Hướng hoàn thiện quan hệ thừa kế và hợp đồng dân sự có yếu tố nước
ngoài.................................................................................................................................54
3.2.2.1 Hướng hoàn thiện quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.................54
3.2.2.2 Hướng hoàn thiện quan hệ hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài...57
KẾT LUẬN.....................................................................................................................59
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
5
SVTH: Nguyễn Phú Hoài
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước
ngoài
LỜI NÓI ĐẰU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay cả thế giới đang xích lại gần nhau, khoảng cách giữa các nước ngày
càng thu hẹp lại do sự phát triển của công nghệ thông tin và quá trình hội nhập với nền
kinh tế thế giới. Người nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với nhiều lý
do khác nhau như hợp tác kinh doanh, xuất khẩu lao động, du lịch và cả kết hôn với
người nước ngoài,... Trong bối cảnh đó, đã làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài, tất nhiên sẽ kéo theo những hậu quả làm phát sinh các vụ
tranh chấp về dân sự có yếu tố nước ngoài. Trong khi đó chúng đòi hỏi phải được giải
quyết kịp thời và thỏa đáng, nếu không một mặt sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các
chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, mặt khác còn liên quan đến
vấn đề lãnh sự, ngoại giao và nền chính trị của quốc gia có thể phá vỡ quan hệ của hai
nước. Tuy nhiên, việc giải quyết các vấn đề trên không hề đơn giản do liên quan ít nhất
đến hai quốc gia trong một quan hệ, đó là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về xung đột
hai nội dung là thừa kế có yếu tố nước ngoài và hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài,
về phần thừa kế tác giả nghiên cứu về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật và
di sản không người thừa kế. về phàn hợp đồng tác giả nghiên cứu các vấn đề hình
thức, nội dung và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong hợp đồng dân sự có yếu tố
nước ngoài. Trong đề tài tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định có liên
quan về thừa kế và hợp đồng dân sự trong nước và có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật
dân sự năm 2005, bên cạnh đó là một số quy định trong các hiệp định tương trợ tư
pháp mà Việt nam ký kết.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong xã hội Việt Nam quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng lên
đáng kể. Tòa án nhân dân phải nhận giải quyết ngày càng nhiều những vụ việc có liên
quan đến yếu tố nước ngoài, thêm vào đó việc giải quyết những vấn đề này lại hết sức
khó khăn do có liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác. Đến với đề tài tác giả có
một số mục đích sau đây: Trước tiên là nhằm nâng cao sự hiểu biết của bản thân về
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, để sau này nếu có cơ hội phục vụ trong lĩnh vực
Tòa án có đủ khả năng để giải quyết các vụ việc dân sự có liên quan đến yếu tố nước
ngoài. Đặc biệt là trong các lĩnh vực thừa kế và hợp đồng dân sự. Sau đó, tác giả mong
rằng với công trình nghiên cứu mình sẽ đóng góp được một phần nhỏ nào đó cho nền
khoa học luật nước nhà nói chung và cho việc xét xử của Tòa án nhân dân nói riêng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn người viết sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, như phương pháp logic, phương pháp phân
tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,...để làm sáng tỏ và giải quyết các
vấn đề đặt ra trong luận văn.
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
7
SVTH: Nguyễn Phú Hoài
138/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật dân sự có yếu tố nước
ngoài thì quan hệ dân sự bao gồm các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động. Trong quan hệ dân sự lại bao gồm các quan hệ thừa kế, quan hệ
hợp đồng dân sự, quyền tài sản,...Ta thấy rằng đây là hai cụm từ đồng âm nhưng nghĩa
lại khác nhau, “quan hệ dân sự bao gồm quan hệ dân sự và quan hệ dân sự chứa trong
quan hệ dân sự”, rất phức tạp và khó hiểu. Khi tác giả sử dụng cụm từ quan hệ dân sự
trong đề tài thì việc người đọc hiểu đó là quan hệ dân sự nào là rất khó khăn, có khi bị
lẫn lộn từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của đề tài nghiên cứu. Tác giả xin quy ước,
cụm từ quan hệ dân sự được sử dụng trong đề tài này bao gồm các quan hệ thừa kế,
hợp đồng dân sự, quyền tài sản,...không phải bao gồm quan hệ hôn nhân gia đình, lao
1.1.1 Khái niệm về quan hệ dân sự
Trong đòi sống xã hội, con người luôn tham gia vào những quan hệ rất đa dạng
và phong phú. Những quan hệ xuất hiện trong quá trình hoạt động xã hội của con
người, từ việc sản xuất đến phân phối, lưu thông tài sản nhằm thỏa mãn các nhu cầu về
vật chất, tinh thần của từng chủ thể thì được gọi là quan hệ xã hội. Các quan hệ xã hội
được điều chỉnh bởi một tổng thể phức tạp các quy phạm xã hội. Đó có thể là quy
phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, quy phạm của các tổ chức, phong tục tập quán,
các tín điều tôn giáo,... Trong các quy phạm trên quy phạm pháp luật có hiệu quả nhất,
vì quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và bảo
đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được
những mục đích nhất định, nhằm hướng các quan hệ xã hội phát sinh, phát triển phù
hợp với ý chí nhà nước. Khi quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh
thì quan hệ xã hội đó được gọi là quan hệ pháp luật. Đối tượng điều chỉnh của ngành
luật dân sự nói chung và quan hệ thừa kế, hợp đồng dân sự nói riêng là các quan hệ tài
sinh, các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân không mất đi mà nó tồn tại dưới hình
thức quan hệ pháp luật dân sự. Các quy phạm pháp luật dân sự quy định cho các chủ
thể tham gia quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phải thực hiện hoặc kiềm chế không
thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích của mình nhưng phải phù hợp
với lợi ích nhà nước, được hưởng những quyền nhất định và gánh chịu trách nhiệm khi
9
cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, về Sự
kiện pháp lý, căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài, về Khách thể, tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài. Chỉ cần có mặt một trong ba yếu tố trên trong một quan hệ dân sự thì quan hệ
dân sự đó là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
1.2 Nguồn luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Nguồn luật được hiểu là phương thức tạo ra quy tắc pháp lý, đồng thời là hình
thức chứa đựng quy tắc đó. Quy tắc được tạo ra, muốn được gọi là luật, phải mang đầy
đủ tính chất của chuẩn mực ứng xử được người nắm quyền luật công thừa nhận và bảo
2 Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ - Sách chuyên khảo Tư pháp quốc tế - Nxb
chính trị quốc gia năm 2010 trang 21.
3Nguyễn
Ngọc Điện - Giáo trình các nguồn của luật - Tủ sách đại học cần Thơ trang 3.
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
10
SVTH: Nguyễn Phú Hoài
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
1.2.1 Pháp luật quốc gia
Đây là loại nguồn được sử dụng phổ biến nhất trong quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài với tư cách là một nguồn luật quốc nội. Ta biết rằng, về nguyên tắc khi một
chủ thể được phép tham gia vào một quan hệ pháp luật dân sự trong nước thì được
tham gia vào một quan hệ pháp luật cùng loại nhưng có yếu tố nước ngoài, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. Theo trên ta thấy được tầm quan trọng của pháp luật
quốc gia trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Ở Việt Nam
có rất nhiều văn bản luật và dưới luật là nguồn của quan hệ này chẳng hạn như Hiến
pháp, Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định 138 năm 2006,...Ngành luật Hiến pháp là
một ngành luật cơ bản và là luật gốc, từ ngành luật này mà sản sinh ra nhiều ngành
luật khác như dân sự, hình sự, thương mại,...nên luật hiến pháp là nguồn không thể
Bùicác
Thịnước
Mỹ ký
Hương
SVTH: Nguyễn Phú Hoài
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
1.3 Các nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài
1.3.1 Nguyên tắc Luật nhân thân
Nguyên tắc Luật nhân thân gồm 2 dạng: Nguyên tắc Luật quốc tịch và nguyên
tắc Luật nơi cư trú. Ngành luật Tư pháp quốc tế Việt Nam sử dụng cả 2 nguyên tắc và
có sự phối hợp giữa 2 nguyên tắc này.
1.3.1.1 Nguyên tắc Luật quốc tịch
Nguyên tắc Luật quốc tịch là nguyên tắc áp dụng pháp luật của nước mà đương
sự là công dân. Theo nguyên tắc này thì khi một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
phát sinh thì sẽ chọn pháp luật của nước mà đương sự là công dân để xem xét, nhưng
nguyên tắc này chỉ được sử dụng để xác định các vấn đề về năng lực pháp luật, năng
lực hành vi của các bên đương sự, thừa kế tài sản là động sản, vấn đề quyền nhân thân,
các vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Đây là nguyên tắc được sử dụng phổ biến
trong ngành luật Tư pháp quốc tế Việt Nam nói chung và quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài nói riêng. Theo khoản 1 Điều 761 Bộ luật dân sự năm 2005 “Năng lực
pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của
nước mà người đó có quốc tịch", khoản 1 Điều 767 Bộ luật dân sự năm 2005 "Thừa kế
theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có
quốc tịch trước khi chết", khoản 1 Điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt - Lào
năm 1998 "Việc thừa kế động sản được thực hiện theo pháp luật của nước ký kết mà
người để lại di sản là công dân khi qua đời", khoản 1 Điều 34 hiệp định tương trợ tư
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân.” Như vậy cần đến
nguyên tắc thứ 2 trong nguyên tắc luật nhân thân đó là nguyên tắc luật nơi cư trú.
1.3.1.2 Nguyên tắc Luật noi cư trú
Nguyên tắc Luật nơi cư trú là nguyên tắc áp dụng pháp luật của nước mà đương
sự có nơi cư trú. Với nguyên tắc này thì khi một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
phát sinh thì sẽ chọn pháp luật của nước mà đương sự cư trú để xem xét, như vậy có
nghĩa là buộc quy chế nhân thân của người nước ngoài khi cư trú trên lãnh thổ nước
mình thì phải tuân theo pháp luật của nước mình. Cũng giống như nguyên tắc Luật
quốc tịch nguyên tắc này chỉ được sử dụng để xác định các vấn đề về năng lực pháp
luật, năng lực hành vi của các bên đương sự, thừa kế tài sản là động sản, vấn đề quyền
nhân thân, các vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Theo Điều 760 Bộ luật dân sự
năm 2005 thì nguyên tắc này được áp dụng thay cho nguyên tắc luật quốc tịch trong
trường hợp đương sự là người không quốc tịch, có hai hay nhiều quốc tịch. Theo pháp
luật Việt Nam trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nếu không xác định được
quốc tịch của người để lại di sản là động sản thì ta áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú
để giải quyết. Trường hợp người để lại di sản là động sản có hai hay nhiều quốc tịch
thì ta áp dụng cả 2 nguyên tắc để giải quyết như theo khoản 2 điều 760 Bộ luật dân sự
năm 2005.
1.3.2
Nguyên tắc Luật quốc tịch của pháp nhân
Nguyên tắc Luật quốc tịch của pháp nhân là nguyên tắc áp dụng pháp luật của
nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch. Như vậy, đối vói nguyên tắc này thì khi một
quan hệ dân sự có sự tham gia của pháp nhân nước ngoài, khi đó chúng ta sẽ chọn
pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch để xem xét. Nhưng nguyên tắc này
chỉ được áp dụng để xác định năng lực pháp luật của pháp nhân, tư cách chủ thể của
pháp nhân, điều kiện ra đời, chấm dứt hoạt động của pháp nhân, giải quyết các vấn đề
luật áp dụng.
1.3.4.3 Nguyên tắc Luật noi vi phạm pháp luật
Với nguyên tắc này thì vi phạm pháp luật xảy ra ở nước nào thì áp dụng luật
nước đó để giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo trên ta thấy rằng phạm vi
áp dụng nguyên tắc chỉ trong vấn đề bồi thường thiệt hại còn các vấn đề khác thì
không thuộc phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này. Nhưng việc xác định vi phạm
pháp luật xảy ra ở nước nào là không hề đơn giản. Một số nước thì cho rằng nơi vi
phạm pháp luật là nơi xảy ra chính hành vi gây thiệt hại, một số nước khác lại cho rằng
nơi vi phạm pháp luật là nơi hiện diện hậu quả thực tế. Ở Anh thì chỉ áp dụng luật
nước mình để giải quyết. Ở Việt Nam, theo Điều 773 Bộ luật dân sự năm 2005 “việc
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra
hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”. Bên
bị hại có quyền lựa chọn một trong hai nơi để áp dụng có lợi cho mình nhất5. Điều 30
Hiệp định tương trợ tư pháp với Hunggari thì quy định "về trách nhiệm do gây thiệt
hại, sẽ áp dụng pháp luật của nước kí kết nơi đã xảy ra hành vi gây thiệt hại. Tuy
5Diệp Ngọc Dũng, Cao Nhất Linh - Giáo trình Tư pháp quốc tể - Khoa Luật - ĐHCT
- 2002, trang 24.
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
]5
SVTH: Nguyễn Phú Hoài
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
nhiên, nếu các đương sự thường trú trên lãnh thổ nước kí kết kia thì áp dụng pháp luật
của ước ký kết kia”.
1.3.5 Nguyên tắc Luật của người ký kết hợp đồng tự chọn
Nguyên tắc này được hiểu là các bên được tự chọn lấy hệ thống pháp luật mà họ
muốn áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mà trong đó có họ
Phương pháp thực chất còn được gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp là
phương pháp sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất để tác động trực tiếp lên quan
hệ dân sự dân sự có yếu tố nước ngoài. Sự tác động của nhà nước lên quan hệ quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài được thực hiện thông qua quy phạm thực chất. Quy phạm
thực chất là quy phạm quy định sẵn các quyền, nghĩa vụ, biện pháp chế tài đối với các
bên đương sự khi vi phạm pháp luật. Khi phải giải quyết một tranh chấp phát sinh từ
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có sẵn quy phạm thực chất để áp dụng thì các
bên chủ thể cũng như cơ quan có thẩm quyền (toà án, trọng tài...) căn cứ ngay vào đó
6 Lê minh Tâm - Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật - Nxb.Tư pháp - Hà Nội 7Lê minh Tâm - Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam - Nxb. Công an nhân dân - Hà
8Điều 1 Bộ luật lao động năm 2005
9 Lê minh Tâm - Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật - Nxb.Tư pháp - Hà Nội 2005 - trang 541._______________________________________________________
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
17
SVTH: Nguyễn Phú
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
của chủ thể quan hệ, trách nhiệm pháp lý...), không cần phải giải quyết vấn đề chọn
pháp luật nước này hoặc nước kia để áp dụng. Quy phạm thực chất được phân ra làm
hai loại: Quy phạm thực chất do từng quốc gia xây dựng và Quy phạm thực chất thống
nhất.
Tính ưu việt của việc áp dụng phương pháp điều chỉnh này: làm cho quan hệ
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh nhanh chóng, các vấn đề cần
quan tâm được xác định ngay, các chủ thể của quan hệ đó và các cơ quan có thẩm
quyền khi giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm được thời gian, tránh được việc phải tìm
hiểu pháp luật nước ngoài là vấn đề rất phức tạp và không phải thẩm phán nào cũng có
thể làm được điều này vì khi áp dụng pháp luật nước ngoài thì phải áp dụng một cách
đầy đủ, bảo đảm pháp luật nước ngoài được giải thích và áp dụng như nó vẫn được
quan hệ
dânđiều
sự
có yếu tố nước ngoài nói riêng mà không được áp dụng trong các ngành luật và hệ
thống pháp luật khác. Qua việc nghiên cứu các ngành luật khác cho thấy, không ngành
luật nào áp dụng phương pháp điều chỉnh này. Vơi tư cách là một bộ phận của tư pháp
quốc tế nên quan hệ dân sự có yếu tố có một phương pháp điều chỉnh mà các bộ phận
của các ngành luật khác không có. Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội của các ngành
luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam và ngay cả Luật quốc tế thực hiện bằng cách sử
dụng quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật là nguồn của chúng, mà không
cần phải thông qua khâu trung gian là “chọn luật”
Trong thực tiễn quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, do các quy phạm thực chất
thống nhất có số lượng ít, không đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ thừa
kế, hợp đồng dân sự phát sinh ngày càng đa dạng; trong khi đó quy phạm xung đột
được xây dựng một cách đơn giản hơn, nhanh hơn nên có số lượng nhiều hơn. Do đó
18
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ Hương
SVTH: Nguyên Phú Hoài
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
quy phạm xung đột đã điều chỉnh hầu hết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì
vậy phương pháp điều chỉnh gián tiếp được coi là phương pháp cơ bản trong giai đoạn
hiện nay và được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, để tránh sự
phức tạp, các quốc gia trên thế giới nên cố gắng ký kết ngày càng nhiều Điều ước quốc
tế để từ đó xây dựng nên càng nhiều quy phạm thực chất thống nhất, nếu không thì ít
nhất là xây dựng nên các quy phạm xung đột thống nhất. Đây chính là xu hướng phát
triển tất yếu của Tư pháp quốc tế nói chung và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
nói riêng trong tương lai.
1.5 Ý nghĩa của việc xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
hiện tại nước X (đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và luật nước X được áp
dụng để giải quết quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng). Nước X có một tiêu chuẩn đối
với nước mắm cao hơn Việt Nam và theo luật của họ thì đạt được tiêu chuẩn đó mới
được tiêu thụ trên thị trường nước X. Như vậy, nước mắm của ta không đủ tiêu chuẩn
để tiêu thụ ở nước X và bên A không đồng ý mua hàng theo như trong hợp đồng đã
giao kết nữa, ông B kiện ra Tòa án Việt Nam, Tòa án Việt Nam cho đây không phải là
trường hợp có yếu tố nước ngoài nên luật Việt Nam được áp dụng như vậy là nước
mắm đủ tiêu chuẩn và bên A phải mua hàng như trong hợp đồng giao kết. Trong lĩnh
vực thừa kế cũng vậy nếu không xác định được đó là quan hệ có yếu tố nước ngoài thì
luật Việt Việt được áp dụng, không cần biết người để lại di sản là công dân nước nào,
cư trú ở đâu, tài sản ở nước nào là động sản hay bất động sản.
1.5.3 Tạo ra những Ctf sở pháp lý quan trọng cho các Ctf quan nhà nước giải
quyết các vấn đề phát sinh
Khi chúng ta xác định được quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì chúng ta
không thể lấy luật của nước mình ra giải quyết trong mọi trường hợp được vì lúc này
quan hệ đó có liên quan đến các quốc gia khác, những quốc gia này cũng có luật riêng
của họ và muốn luật nước mình được áp dụng. Hai nước khác nhau luật không thể
giống hệt nhau được do hoàn cảnh xã hội ở từng nước khác nhau, như vậy sẽ dẫn đến
vấn đề luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh
một quan hệ, đây là xung đột pháp luật. Để giải quyết vấn đề này cần: Xây dựng và áp
dụng các quy phạm thực chất thống nhất, tiêu chuẩn hóa luật thực định trong nước,
xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột, áp dụng nguyên tắc “luật điều chỉnh các
quan hệ xã hội tương tự”. Từ việc giải quyết vấn đề xung đột pháp luật đã tạo ra n hiều
cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan nhà nước giải quyết các vấn đề phát sinh mà
nguyên nhân chính chính là xác định được các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
1.5.4 Thúc đẩy quá trình hội nhập vói nền kinh tế thế giói
Để hòa nhập với nền kinh tế thế giói đòi hỏi quốc gia đó phải có nền kinh tế thị
trường và một nền pháp luật tiến bộ phù hợp với xu hướng pháp triển chung của nhân
loại. Một quốc gia có nền pháp luật khác biệt, cô lập thì không thể tạo ra được tâm lý
an tâm khi các đối tác nước ngoài đến hợp tác làm ăn vì điều gì sẽ xảy đến với họ khi
Pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ DÂN sự CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
2.1 Thừa kế có yếu tố nước ngoài
Khái niệm thừa kế đã tồn tại trong xã hội Việt Nam từ rất lâu, từ thời nhà nước
phong kiến đến giai đoạn hiện tại đã có rất nhiều khái niệm nói về chế định này. Theo
Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005 “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản
của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo
di chúc hoặc theo pháp luật”. Theo trên ta có thể hiểu thừa kế di sản chính là sự
chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ
chức có quyền hưởng thừa kế. Người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được
hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vậy thì, thừa kế có yếu tố nước ngoài là sự
chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ
chức có quyền hưởng thừa kế. Người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được
hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật khi có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ
quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các
quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước
ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
2.1.1 Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là sự nhận di sản của cá nhân người
đã chết theo sự thể hiện ý chí của chủ thể lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình
cho người khác sau khi chết, có yếu tố nước ngoài.
2.1.1.1 Năng lực lập di chúc
Theo khoản 1 Điều 768 Bộ luật dân sự Việt Nam “Năng lực lập di chúc, thay đổi
và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công
dân”. Đây là một quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam hướng dẫn cách
chọn luật, theo tinh thần của quy phạm này thì việc xác định năng lực lập vi chúc, thay
đổi và hủy bỏ vi chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công
dân cho dù người lập di chúc đang cư trú ở bất kỳ quốc gia nào. Quy phạm này được
hiểu rõ Điều 760 tác giả sẽ chia ra làm ba nội dung:
Thứ nhất, trường hợp người nước ngoài không có quốc tịch nhưng có nơi cư trú
thì áp dụng pháp luật của nước nơi người đó cư trú, nếu không có nơi cư trú thì áp
dụng pháp luật Việt Nam.
Thủ hai, trường hợp người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch thì người này
cư trú ở nước nào trong các nước có quốc tịch vào thòi điểm phát sinh quan hệ dân sự
thì áp dụng pháp luật nước đó.
Thứ ba, trường hợp người nước ngoài không cư trú ở các nước mà mình có quốc
tịch thì áp dụng pháp luật mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về
quyền và nghĩa vụ công dân.
Quy định về năng lực lập di chúc trên là quy định trong Tư pháp quốc, trong
trường hợp quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Vậy trong trường hợp thừa kế không
có yếu tố nước ngoài thì sao. Theo Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 “Người đã
thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người từ đủ
mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể làm di chúc, nếu cha, mẹ hoặc người giám
hộ đồng ý”. Bên cạnh quy định trên thì theo điểm a khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự
năm 2005 “người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép”. Khi đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì người để
lại di sản có đủ năng lực lập di chúc theo pháp luật Việt Nam trong trường hợp không
có yếu tố nước ngoài.
Ở Việt Nam hiện nay, có người cho rằng, những vấn đề về Tư pháp quốc tế trên
thế giới là giống nhau nên không có Tư pháp quốc tế Việt Nam nói riêng10. Theo tác
giả để hội nhập với nền kinh tế thế giới thì pháp luật mỗi nước cần phải điều chỉnh sao
cho phù hợp với xu hướng phát triển chung của pháp luật thế giới, nhưng để Tư pháp
luật các nước giống nhau là không thể. Trong vấn đề xác định năng lực lập di chúc,
theo Khoản 3 Điều 38 Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Việt Nam
10 Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ - Sách chuyên khảo Tư pháp quốc tể - Nxb chính
trị
quốc
nhân
dân
ý
chí
của
người
lập
di
chúc,
được
xác
định
theo
pháp
luật
của
bên
ký
kết
mà
người
để
- Hà Nội năm 2005 - tr.3
lại thừa kế là công dân vào thời điểm lập hoặc hủy bỏ di chúc”. Quy định trong hai
31.
hiệp định trên không trái so với quy định tại Điều 768 Bộ luật dân sự năm 2005, nhưng
có khác một đôi chút là không nhắc đến vấn đề thay đổi nội dung di chúc.
2.1.1.2 Hình thức di chúc
Hình thức di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc, là căn
cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi
người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải
ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm
chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc
lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này”. Người
làm chứng cho việc lập di chúc “Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc,
trừ những người sau đây: Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người
lập di chúc. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc. Người
chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự”12. Từ Điều 654 và
656 Bộ luật dân sự ta thấy rằng quy định về di chúc bằng văn bản có người làm chứng
là không khả thi, vì yêu cầu về người làm chứng quá rộng đa số những chủ thể này
sống cùng với người để lại di sản trước khi chết nên việc để người lập di chúc tìm một
người làm chứng hợp pháp rất khó khăn, hơn thế nữa người Việt Nam chúng ta rất kín
đáo những vấn đề tế nhị như vậy hiếm khi để người ngoài biết nên rất khó tìm người
GVHD: Th.s Bùi Thị Mỹ
Hương
25
SVTH: Nguyễn Phú Hoài