Giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu tại việt nam trong quá trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH THỊ THU HÒA

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
VỀ ĐẤU THẦU TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH VAY QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH THỊ THU HÒA

GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
VỀ ĐẤU THẦU TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH
THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH VAY QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành:Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Hoàng Phƣớc Hiệp

Hà Nội – 2016


1.2.2. Khái niệm Hiệp định vay và việc thực hiện Hiệp định vay ở Việt Nam.........21
1.2.3. Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu ................................25
1.2.4. Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda và vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về
đấu thầu tại Việt Nam trong quá trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế .............29
CHƢƠNG 2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU
THẦU CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH
VAY QUỐC TẾ ..........................................................................................................35
2.1. Thực tiễn quy định của pháp luật về đấu thầu trong quá trình thực hiện các
Hiệp định vay quốc tế mà Việt Nam là thành viên ...................................................35
2.1.1. Quy định về đấu thầu tại Hiệp định vay liên quan đến mua sắm theo Hiệp
định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) ..........................................35


2.1.2. Quy định về đấu thầu tại Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và khối
Mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA) ..............................................................................37
2.1.3. Quy định về đấu thầu tại Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên
minh châu Âu EU (EVFTA)......................................................................................38
2.2. Thực tiễn việc thực hiện các Hiệp định vay quốc tế liên quan đến vấn đề đấu
thầu tại Việt Nam .........................................................................................................38
2.3. Thực tiễn giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu tại Việt Nam trong quá
trình thực hiện các Hiệp định vay quốc tế ................................................................41
2.3.1. Giải quyết xung đột về đấu thầu trong quá trình thực hiện các Hiệp định vay
có liên quan đến các cam kết quốc tế tại Hiệp định quốc tế .....................................41
2.3.2.Giải quyết xung đột pháp luật về đấuk thầu trong quá trình thực hiện các Hiệp
định vay từ nguồn vốn của tổ chức cho vay quốc tế. ................................................46
2.4. Hài hòa các quy định pháp luật về đấu thầu của Việt Nam với các quy định
pháp luật về đấu thầu trong Hiệp định vay quốc tế mà Việt Nam là thành viên ..59
CHƢƠNG 3. KHUYếN NGHị GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ ĐẤU THẦU TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH VAY
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM............................................................................................64

13

Ký hiệu viết tắt
ADB (Asian Development Bank)
APEC (Asia-Pacific Economic Co
operation)
FDI (Foreign Direct Investment)
FII (Foreign Indirect Investment)
EFTA (EU Free Trade Agreement)
FTA (Free Trade Agreement)
G8

Diễn giải
Ngân hàng Phát triển Châu Á
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái
Bình Dương
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Khối mậu dịch tự do Châu Âu
Hiệp định thương mại tự do
8 quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới,
gồm: Pháp, Đức, Italy, Nhật, Anh, Mỹ,
Canada và Nga
G4
4 cường quốc về thương mại của thế giới,
gồm: Hoa Kỳ, Châu Âu, Brazil và Ấn Độ
ICB (International Competition Hình thức đấu thầu cạnh tranh quốc tế
Bidding)
IMF (International Monetary Quỹ tiền tệ thế giới
Fund)

quyết xung đột pháp luật về đấu thầu trong quá trình thực hiện các Hiệp định vay quốc
tế là một trong những vấn đề nổi cộm của hoạt động đấu thầu tại Việt Nam nhằm thúc
đẩy sự phát, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong hội nhập phát triển kinh tế của
đất nước.
Xuất phát từ ý nghĩa và giá trị to lớn đó mà vấn đề giải quyết xung đột pháp
luật về đấu thầu quốc tế đã trở thành vấn đề quan trọng, là tấm gương phản chiếu ra
nước ngoài của Việt Nam trong việc bảo đảm vay vốn và sử dụng vốn vay từ các tổ
chức cho vay quốc tế một cách hiệu quả và thiết thực. Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh
2


thực tế, việc giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu tại Việt Nam trong quá trình
thực hiện vay vốn quốc tế chưa được thực hiện một cách thống nhất và còn nhiều bất
cập, chồng chéo nhau cần được giải đáp. Vì vậy, tôi chọn vấn đề giải quyết xung đột
pháp luật về đấu thầu trong quá trình thực hiện các Hiệp định vay quốc tế làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn đóng góp ý kiến trong quá trình tìm kiếm
giải pháp để giải quyết những xung đột này.
2. Tình hình nghiên cứu
Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu và tài liệu khác nhau về vấn đề
này nhưng vẫn chưa có công trình nào xử lý đầy đủ vấn đề Giải quyết xung đột pháp
luật về đấu thầu tại Việt Nam trong quá trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế. Liên
quan đến vấn đề đấu thầu, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu như sau:
1. Tác giả Hoàng Lê Mai Phương lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác đấu
thầu tư vấn tại các dự án ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo” (năm 2012) làm đề tài
nghiên cứu luận văn Thạc sỹ kinh tế. Với cách tiếp cận những vấn đề cơ bản về đấu
thầu tại các dự án ODA như khái niệm, vai trò và nguyên tắc của đấu thầu tư vấn tại
các dự án ODA, các loại gói thầu tư vấn, quy trình đấu thầu tư vấn, các nhân tố ảnh
hưởng… cũng như tìm hiểu về thực trạng để đánh giá công tác đấu thầu tư vấn tại các
dự án ODA thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp cho
việc thực hiện các gói thầu dịch vụ tư vấn được hoàn thiện hơn, chịu ảnh hưởng ít nhất

được, những bất cập, hạn chế cơ bản của công tác này. Trên cơ sở nhận định những
điểm chung và điểm riêng, điểm tiến bộ cũng như hạn chế của các văn bản pháp quy
về đấu thầu tại Việt Nam. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường ảnh hưởng của
các văn bản pháp quy nói trên, đồng thời góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư,
chuôngs thất thoát vốn nhà nước.
6. Tác giả Hoàng Thu Nga với đề tài “Công tác đấu thầu xây lắp tại Công ty cổ
phần xây lắp Bưu điện: Thực trạng và giải pháp” (năm 2008). Tại đề tài này, tác giả
đã đi sâu vào phân tích các hình thức đấu thầu cũng như quy trình tại Công ty cổ phần
xây lắp Bưu điện để từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị phù hợp.
7. Cục Quản lý Đấu thầu với đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện quy
trình kiểm tra về công tác đấu thầu” (2013). Đây là đề tài được Cục Quản lý Đấu thầu
thực hiện trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu thực tế việc triển khai quy trình kiểm tra về
công tác đấu thầu tại một số Bộ, ngành, địa phương để tiếp thu ý kiến của các bên có
liên quan, tổ chức hội nghị lấy ý kiến, tổng hợp thông tin để từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện quy trình kiểm tra nói chung để tạo.
Qua các công trình nghiên cứu trên đây có thể thấy những đề tài đã nghiên cứu
tập trung chủ yếu về thực trạng và chỉ ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao
chất lượng tổ chức đấu thầu đối với các gói thầu do đơn vị mình thực hiện. Một số đề
4


tài khác nghiên cứu việc tăng cường khả năng cạnh tranh, khả năng trúng thầu tại đơn
vị khi tham gia đấu thầu với vai trò là nhà thầu hay đưa ra thực trạng và các giải pháp
nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu tại đơn vị mình. Tuy
nhiên, chưa có hoặc có rất ít đề tài nghiên cứu sâu về giải quyết xung đột pháp luật đấu
thầu tại Việt Nam trong quá trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan tới lý luận và thực tiễn
vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu ở Việt Nam trong quá trình thực hiện
các Hiệp định vay quốc tế. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động đấu thầu quốc tế

6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, Luận văn được chia thành
ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đấu thầu và giải quyết xung đột pháp luật
về đấu thầu trong quá trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế
Chương 2: Thực tiễn giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu trong quá
trình thực hiện các hiệp định vay quốc tế ở Việt Nam
Chương 3: Khuyến nghị giải pháp giải quyết xung đột pháp luật về đấu thầu
trong quá trình thực hiện hiệp định vay quốc tế ở Việt Nam

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU THẦU VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT
PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC HIỆP
ĐỊNH VAY QUỐC TẾ
1.1. Tổng quan lý luận về đấu thầu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và hình thức đấu thầu
1.1.1.1. Khái niệm
Về mặt thuật ngữ, từ điển Bách khoa Việt Nam (năm 1995) đĩnh nghĩa:
“Đấu thầu là phương thức giao dịch đặc biệt, người muốn xây dựng công trình
(người gọi thầu) công bố trước các yêu cầu và điều kiện để xây dựng công trình
(người dự thầu) công bố giá mà mình muốn nhận. Người gọi thầu sẽ lựa chọn người
dự thầu nào phù hợp với điều kiện của mình với giá thấp hơn”. Trong từ điển tiếng
Việt (Năm 1998) định nghĩa “Đấu thầu là độ công khai ai nhận làm, nhận bán với
điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc bán” [3].
Về mặt lý luận, đấu thầu được hiểu là “phạm trù kinh tế tồn tại trong nền
kinh tế thị trường. Trong đó, người mua đóng vai trò tổ chức để các nhà thầu
(những người bán) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hoá

thầu”.[12, tr20]
Đi liền với phạm trù đấu thầu, cần hiểu thêm một số khái niệm có liên quan sau:


Về chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu

- Nhà thầu: Tất cả các tổ chức, cá nhân khi tham gia đấu thầu để giành quyền
ký kết và thực hiện hợp đồng đầu tư, cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho bên mời thầu
hoặc chủ đầu tư đều gọi là nhà thầu. Tuỳ theo tính chất của nguồn vốn, người ta có thể
quy định tư cách hợp lệ của nhà thầu theo các chỉ tiêu cụ thể khác nhau. Nhưng nhà
thầu đều phải đảm bảo đáp ứng các nguyên tắc tối thiểu có tính pháp lý. Nhà thầu có
thể tham gia dự thầu độc lập hoặc liên danh với một hoặc nhiều nhà thầu khác để liên
danh dự thầu. Như vậy, Nhà thầu được hiểu là các tổ chức kinh tế, cá nhân độc lập về
tài chính có năng lực pháp luật dân sự (nếu là tổ chức) hoặc năng lực hành vi dân sự
(nếu là cá nhân) để ký kết và thực hiện hợp đồng theo các quy định của pháp luật.
- Bên mời thầu: Theo nghĩa thông thường, bên mời thầu là bên đứng ra tổ
chức đấu thầu. Các chủ dự án, chủ đầu tư hoặc đại diện của họ tổ chức đấu thầu để lựa
chọn nhà thầu thực hiện một phần hoặc toàn bộ dự án. Bên mời thầu thường là chủ sở
hữu vốn (nguồn để chi trả cho nhà thầu theo giá trị hợp đồng) và là một bên đứng ra

8


ký kết hợp đồng với nhà thầu. Tuy nhiên, trong trường hợp đại diện của chủ dự án,
chủ đầu tư đứng ra tổ chức đấu thầu, thì họ có thể không phải là một bên đứng ra ký
kết hợp đồng với nhà thầu. Trong trường hợp đấu thầu để lựa chọn đối tác đầu tư, bên
mời thầu chỉ đóng vai trò chủ dự án, khi đó nhà thầu trúng thầu sẽ là chủ đầu tư. Như
vậy, Bên mời thầu là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của chủ dự án, chủ
đầu tư đứng ra tổ chức đấu thầu.
Bên cạnh 2 nhóm chủ thể chính tham gia trực tiếp này, trong hoạt động đấu

trình tổ chức ký kết, thực hiện các hợp đồng có liên quan. Vì vậy, cũng như các lĩnh
vực khác việc nghiên cứu đặc điểm pháp luật về đấu thầu nói một cách thấu đáo là
một công việc không thể thiếu. Hoạt động đấu thầu nói chung và đấu thầu quốc tế
nói riêng có một số đặc điểm sau đây:


Trên thị trường chỉ một người mua và nhiều người bán

Người mua trên thị trường phần lớn thường là những tổ chức, cơ quan, các
chủ đầu tư được Chính phủ cấp tài chính mua sắm hàng hoá, dịch vụ, xây dựng
công trình thường. Nhưng cũng có những trường hợp người mua thiếu vốn phải đi
vay mà điều kiện đòi hỏi phải mở thầu. do có khó khăn về mặt nghiệp vụ, kinh
nghiệm kinh doanh cho nên họ phải lợi dụng sự cạnh tranh giữa các nhà thầu để từ
đó lựa chon được người bán thích hợp nhất và có các điều kiện giao dịch tối ưu nhất.
Ngược lại, các nhà thầu cung cấp hàng hoá, dịch vụ… được tự do cạnh tranh với
nhau để giành quyền cung cấp và kết quả của sự cạnh tranh đó đã làm cho giá cả
tiến gần lại với giá thực trên thị trường, điều mà bất cứ người mua nào cũng mong
đợi.


Đấu thầu tiến hành theo những điều kiện quy định trước

Mặc dù được tự do cạnh tranh giành quyền cung cấp nhưng các nhà thầu
phải thực hiện theo những điều kiện mà Bên mở thầu đã quy định trước. Hay nói
một cách khác, người mua chỉ có một nhưng họ đã nêu ra những điều kiện ràng
buộc rất chặt chẽ, buộc các nhà thầu phải tuân theo. Trong đấu thầu, các điều kiện
tài chính, các điều kiện kỹ thuật… thường được thể hiện trong hồ sơ mời thầu. Các
nhà thầu một khi thoả mãn tốt nhất các điều kiện mà Bên mời thầu đưa ra mới mong
có hy vọng trúng thầu, cá biệt có những trường hợp các nhà thầu đã thoả mãn đầy
đủ các điều kiện kỹ thuật, tài chính và uy tín, nhưng vì không tìm được đối tác liên

- Các dịch vụ giám sát, quản lý dự án
- Giúp đỡ kỹ thuật (dịch vụ cố vấn, phát triển và lập kế hoạch, xây dựng, tổ
chức, đào tạo…).
1.1.1.3. Các hình thức đầu thầu
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau thì hình thức đấu thầu được phân loại
khác nhau, cụ thể như sau:
Căn cứ vào đặc thù về hàng hoá và dịch vụ cần mua, hoạt động đấu thầu
được chia thành 3 lĩnh vực. Mỗi lĩnh vực có quy trình tổ chức đấu thầu riêng phù hợp
với đối tượng hàng hoá hoặc dịch vụ cần mua đó.
 Đấu thầu tuyển chọn tư vấn (Tender for consulting services)
Đối với các nước đang phát triển, nhu cầu về đầu tư xây dựng mới các công
trình hạ tầng cơ sở hoặc nhà xưởng, máy móc phục vụ sản xuất thường rất lớn. Để
thực hiện tốt quá trình đầu tư từ bước xác định dự án, chuẩn bị báo cáo tiền khả thi,
báo cáo nghiên cứu khả thi đến tổ chức thực hiện, giám sát quá trình xây dựng... cần
có đội ngũ chuyên gia lành nghề, có kinh nghiệm và đã có điều kiện tiếp cận với công
nghệ tiên tiến và khoa học hiện đại trên thế giới để thực hiện các dịch vụ tư vấn phục

11


vụ cho quá trình này. Vì vậy, trong quá trình đầu tư nhà tài trợ thường yêu cầu chủ
đầu tư tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn để thực hiện các dịch vụ khảo sát, thiết kế,
lập hồ sơ mời thầu, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, giám
sát quá trình xây dựng đáp ứng các yêu cầu của dự án. Do đối tượng lựa chọn để mua
ở đây là các dịch vụ tư vấn của chuyên gia, nên quy trình đấu thầu không thể giống
với việc mua sắm hàng hoá hay dịch vụ xây lắp.
Trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, các nhà thầu (nhà tư vấn) cạnh tranh nhau
thông qua việc cung cấp các chuyên gia có nhiều kiến thức và kinh nghiệm chuyên
môn với một mục tiêu để thực hiện tốt nhất, chất lượng nhất các yêu cầu của bên mua.
Trách nhiệm đối với công việc gắn liền với uy tín của nhà tư vấn đã làm cho các nhà

Tuy tính chất cạnh tranh trong 3 lĩnh vực nêu trên khác nhau, song đều có
chung mục đích là thoả mãn các yêu cầu của bên mua với chi phí thấp nhất. Nhờ sự
cạnh tranh giữa các nhà thầu, bên mua luôn có cơ hội tìm được một dịch vụ theo ý
muốn với chi phí hợp lý. Mặt khác nhờ có sự cạnh tranh mà các nhà thầu phải luôn
luôn phải tự hoàn thiện mình để tồn tại và vươn lên. Như vậy, cạnh tranh chẳng những
đem lại lợi ích cho người mua, cho các nhà thầu, mà còn đem lại lợi ích cho toàn xã
hội. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với Nhà nước là phải tạo ra môi trường và thúc đẩy sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu.
Ngoài 3 loại lĩnh vực trên, nhiều nước trên thế giới còn có loại đấu thầu lựa
chọn đối tác thực hiện dự án (Tender for Project). Đây là hình thức phổ biến được
áp dụng khi một dự án có từ hai đối tác trở lên.
Căn cứ vào hình thức lựa chọn nhà thầu, có thể phân loại đấu thầu thành
các hình thức sau:


Đấu thầu mở rộng (open bidding hay international competitive)

Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không
hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự (Khoản 1, Điều 20 Luật Đấu thầu
2013). Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu
trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo trên tờ thông tin về đấu
thầu và trang web để đấu thầu của Nhà nước và của Bộ, ngành, địa phương tối thiểu
một thời gian xác định trước khi phát hành hồ sơ mời thầu. Đấu thầu rộng rãi là
hình thức chủ yếu áp dụng trong đấu thầu.
Hình thức này này có ưu điểm là khuyến khích tính cạnh tranh giữa các nhà
thầu. Các nhà thầu luôn đưa ra các giải pháp tiêu chuẩn đạt chất lượng cao với chi
phí tài chính thấp nhất. Tuy nhiên do số lượng nhà thầu không hạn chế nên có thể có
nhà thầu chưa đủ năng lực vẫn tham gia dự thầu. Đồng thời, do số lượng nhà thầu
lớn nên mất nhiều thời gian và chi phí cho việc tổ chức đấu thầu.


- Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả
gây ra do sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để bảo đảm bí mật nhà nước;
gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe
và tài sản của cộng đồng dân cư trên địa bàn hoặc để không ảnh hưởng nghiêm
trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế để
triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách;
- Gói thầu cấp bách cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc
gia, biên giới quốc gia, hải đảo;
- Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa
phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do phải bảo đảm tính tương thích về
công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; gói thầu có tính
chất nghiên cứu, thử nghiệm; mua bản quyền sở hữu trí tuệ;
- Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế

14


xây dựng được chỉ định cho tác giả của thiết kế kiến trúc công trình trúng tuyển
hoặc được tuyển chọn khi tác giả có đủ điều kiện năng lực theo quy định; gói thầu
thi công xây dựng tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật gắn
với quyền tác giả từ khâu sáng tác đến thi công công trình;
- Gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên
ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng; gói thầu rà phá
bom, mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công xây dựng công trình;
- Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong
hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.


Chào hàng cạnh tranh

15


kiến thống nhất của Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.
Căn cứ vào phƣơng thức áp dụng, hoạt động đấu thầu có thể được phân
loại thành 3 phương thức
 Đấu thầu 1 túi hồ sơ: Khi dự thầu theo phương thức này, nhà thầu cần
nộp các đề xuất về kỹ thuật, tài chính, giá bỏ thầu và những điều kiện khác trong
một túi hồ sơ chung. Phương thức này được áp dụng với đấu thầu mua sắm hàng
hoá và xây lắp.
 Đấu thầu 2 túi hồ sơ: Khi dự thầu theo phương thức này, nhà thầu cần
nộp những đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào
cùng một thời điểm. Túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh
giá, xếp hạng. Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi
hồ sơ đề xuất về giá để đánh giá. Phương thức này chỉ áp dụng đối với đấu thầu
tuyển chọn tư vấn.
 Đấu thầu 2 giai đoạn: Phương thức này áp dụng cho các gói thầu xây lắp
và mua sắm hàng hoá có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn bộ, phức tạp về
công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp hoặc đối với các dự
án thực hiện theo hợp đồng “chìa khoá trao tay”.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển lý luận về đấu thầu
Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hoá, dịch vụ được
ra đời và phát triển cùng với phương thức sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất. Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, sự cạnh tranh gay gắt và
các cuộc khủng hoảng đã dẫn đến sự ra đời của Chủ nghĩa tư bản độc quyền và Chủ
nghĩa tư bản Nhà nước vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Độc quyền ra đời từ tự
do cạnh tranh, sau đó đối lập với tự do cạnh tranh, nhưng không thủ tiêu tự do cạnh
tranh mà làm cho cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Nhà nước tư bản vừa là người
đại diện, người bảo vệ cho giai cấp tư sản và vừa là người điều tiết quá trình sản
xuất, đồng thời cũng là người cung cấp vốn để nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu

thực hiện, đơn vị được cho phép sử dụng nguồn vốn, ngân sách đã lựa chọn được
những nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu làm thay
đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội của đất nước. Hàng loạt các công trình
lớn đã được xây dựng, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước
phát triển. Thông qua đấu thầu, các nhà thầu trong nước từ khi chỉ làm thầu phụ cho
các nhà thầu nước ngoài đến nay đã lớn mạnh có thể tham gia đấu thầu cạnh tranh
bình đẳng với nhà thầu nước ngoài để dành được các hợp đồng lớn. Ngoài ra, các

17


chủ đầu tư, bên mời thầu đã được tăng cường rất nhiều về năng lực, từ chỗ hiểu đấu
thầu còn mơ hồ đến nay đã có thể thực hiện công tác đấu thầu thuần thục.
1.1.3. Nguyên tắc cơ bản trong đấu thầu
Dù thuộc hình thức hay lĩnh vực nào, hoạt động đấu thầu nói chung và đấu
thầu quốc tế nói riêng đều phải đảm đảo đúng và đầy đủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hiệu quả về tài chính và hiệu quả về thời gian.
- Nguyên tắc cạnh tranh: nguyên tắc cạnh tranh tạo điều kiện cho các nhà
thầu cạnh tranh với nhau ở phạm vi rộng nhất có thể.
- Nguyên tắc công bằng: nguyên tắc này đảm bảo đối xử như nhau đối với các
nhà thầu tham gia dự thầu.
- Nguyên tắc minh bạch: đây là nguyên tắc quan trọng nhất nhưng khó thực
hiện và khó kiểm tra nhất. Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình thực hiện đấu
thầu thì các hoạt động diễn ra không được gây nghi ngờ cho các nhà thầu, Bên mời
thầu và cơ quan quản lý.
1.1.4. Khung pháp lý về đấu thầu quốc tế ở Việt Nam
Với chủ trương tích cực và chủ động trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh
tế quốc tế, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã ban hành và sửa đổi nhiều chính
sách về quản lý kinh tế liên quan đến đầu tư nói chung và đấu thầu nói riêng. Bảng
thống kê hệ thống hóa các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý đấu thầu được thể

theo đuổi.
Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 ra đời và được
hoàn thiện tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 cùng các hướng dẫn về công tác đấu
thầu như Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ, các thông tư
hướng dẫn liên quan đã thể hiện rõ các quan điểm và giải pháp đảm bảo cho việc thực
thi quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường nêu trên. Các mục tiêu chính mà Luật
Đấu thầu hướng tới là:
- Đảm bảo tính hiệu quả tổng thể cao nhất của chi phí bỏ ra.
- Tạo dựng môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch để cơ chế vận hành
ổn định, phát triển bền vững.
- Ứng dụng ngày càng rộng rãi và hiệu quả công nghệ thông tin tiên tiến.
Với các mục tiêu và phương châm để đảm bảo cho quy luật cạnh tranh được
vận hành tốt như nêu trên, Luật Đấu thầu 2013 đã cụ thể hóa thông qua các mảng nội
dung sau:

19


(i) Áp dụng các quy trình lựa chọn nhà thầu khoa học, cập nhật tiên tiến nhất
và phù hợp với thực tiễn.
(ii) Kế hoạch lựa chọn nhà thầu với đầy đủ nội dung được luận chứng khoa
học lựa chọn phương án cho mỗi nội dung và là bước yêu cầu bắt buộc thông qua cấp
cao nhất phê duyệt, bao gồm: phân chia gói thầu, phương thức phân chia và quản lý
rủi ro trong hợp đồng và hình thức lựa chọn nhà thầu.
(iii) Công khai thông tin để đảm bảo tính minh bạch thông qua việc vận hành
trang thông tin điện tử quốc gia và báo giấy.
(iv) Thương mại tự do qua mô hình thương mại điện tử và đấu thầu qua
mạng.
(v) Chuyên nghiệp hóa cao trong đấu thầu thông qua việc xác lập, quy định
về các tổ chức tư vấn đấu thầu chuyên nghiệp và chứng chỉ chuyên môn trong đấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status