Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam - Pdf 22

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện báo cáo thực tập tốt nghiệp, em đã được sự giúp
đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và động viên từ gia đình, từ quý thầy cô, quý công ty, cùng
các bạn. Xin cho phép em được gửi lời cám ơn sâu sắc và chân thành đến:
Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại
học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và trang bị cho em
những kiến thức bổ ích trong suốt 4 năm học vừa qua. Đặc biệt là các thầy cô
giáo khoa Kinh tế và Luật của Trường đã trang bị cho em những kiến thức
chuyên môn quý báu về ngành Luật kinh tế, làm hành trang cho em bước vào
đời. Em xin chân thành cảm ơn Thầy, người đã tận tâm hướng dẫn em qua từng
phần của bài báo cáo thực tập. Nếu không có những lời hướng dẫn, nhận xét, dạy
bảo của thầy thì em nghĩ bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này của em khó có thể
hoàn thiện được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy.
Ban lãnh đạo Công ty Luật TNHH MTV Không Gian Luật đã tạo điều
kiện cho em thực tập, học hỏi tại công ty. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn LS.
Nguyễn Hồng Sơn và LS. Phan Thị Xuân Uyên cùng toàn thể các anh chị, bạn
thực tập trong công ty đã quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiệt tình trong
suốt hơn hai tháng thực tập vừa qua, tạo điều kiện thuận lợi để cho em không chỉ
được học hỏi về rất nhiều điều bổ ích từ kiến thức chuyên nghành đến kỹ năng
mềm trong cuộc sống mà còn hướng dẫn, cung cấp số liệu giúp em hoàn thành
bài báo cáo thực tập này đúng thời gian quy định.
Do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức và điều kiện làm bài nên chắc chắn
bài viết của em sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô giáo và các bạn đọc để em được tốt hơn.
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô của Trường sức khỏe, chúc Ban
lãnh đạo công ty cùng toàn thể các anh chị của Công ty Luật TNHH MTV Không
Gian Luật ngày càng thành đạt và phát triển hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 1
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 3
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
MỤC LỤC

các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam tham gia kí kết điều chỉnh về quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài để khi gặp một tình huống cụ thế có thể trả lời
được các câu hỏi: Tòa án quốc gia nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và
nên khởi kiện ở đâu để bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất? Luật nào sẽ
được tòa áp dụng? Quyết định của tòa án có thể thi hành ở nước ngoài hay
không?
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về thừa
kế có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Đăc biệt là phân tích những bất cập giữa
thực tiễn và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp trong việc hoàn thiện những quy định pháp
luật nhằm giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nên thuộc phạm vi điều
chỉnh của tư pháp quốc tế. Phạm vi nghiên cứu là các quy định trong hệ thống
pháp luật Việt Nam hiện hành (luật và các văn bản dưới luật) cũng như các điều
ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam tham gia kí kết điều chỉnh
về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Thực tiễn áp dụng của các quy phạm
pháp luật đề giải quyết các vụ việc về thừa kế có yếu tố nước ngoài tại nơi thực
tập.
Trang 5
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, báo cáo sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, khái
quát, tổng hợp các quy phạm pháp luật liên quan để làm rõ một số khái niệm
cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam và các nước về quan hệ thừa kế
có yếu tố nước ngoài.

quy định của pháp luật
2
.
Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng, thừa kế là một chế định pháp lý
dân sự bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản
của người đã chết cho những người khác theo di chúc hoặc theo quy định của
pháp luật.
Để xác định là các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài các quan hệ này
phải thỏa mãn các điều kiện để trở thành các quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài được quy định tại điều 758 Bộ luật dân sự 2005 theo đó “ quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là
cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
hoặc quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng
căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát
sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như
1 Lê Đức Thọ -Từ điển thuật ngữ pháp lý, Tr. 99
2 Đỗ Văn Đại & Mai Hồng Quỳ (2010), Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB chính trị quốc gia,
tr.618.
Trang 7
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
vậy có thể thấy rằng các quan hệ thừa kế có ít nhất một trong ba yếu tố nước
ngoài sau:
- Thứ nhất, về chủ thể: ít nhất một trong các bên tham gia vào quan hệ thừa kế này
là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước
ngoài. Ví dụ: công dân Việt Nam lập di chúc để lại một phần tài sản cho một tổ
chức, cá nhân nước ngoài…
- Thứ hai, tài sản liên quan đến quan hệ nằm ở nước ngoài. Đây là quan hệ thừa kế
phát sịnh giữa công dân, tổ chức Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ
này nằm ở nước ngoài. Ví dụ: Công dân A (Việt Nam) lập di chúc để lại toàn bộ
tài sản cho công dân B (Việt Nam) nhưng một phần tài sản của công dân A đang

2.2Nguyên nhân và cách thức giải quyết những xung đột pháp
luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài
2.2.1 Nguyên nhân xuất hiện xung đột pháp luật.
Hiện tượng xung đột pháp luật phát sinh từ hai nguyên nhân chủ yếu:
Pháp luật nội dung (hay còn gọi là pháp luật thực chất) về thừa kế của các quốc
gia hữu quan khác nhau; Có sự phát triển các quan hệ mang tính chất dân sự có
yếu tố nước ngoài
6
.
- Xuất phát từ tính chất đặc thù của các quan hệ xã hội do tư pháp quốc tế điều
chỉnh là các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ về thừa kế.
Trong nhiều trường hợp khi một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài phát sinh
sẽ làm phát sinh tình trạng pháp luật của các nước liên quan đều có thể được áp
dụng và làm nảy sinh vấn đề chọn pháp luật của một nước cụ thể để áp dụng từ
đó làm phát sinh hiện tượng xung đột
7
.
- Có sự khác nhau trong trong pháp luật các nước khi điều chỉnh một quan hệ thừa
kế cụ thể. Xuất phát từ điều kiện phát triển kinh tế xã hội, từ quan điểm chính trị,
phong tục tập quán, từ đặc điểm của các hệ thống pháp luật nên pháp luật các
nước không thể hoàn toàn giống nhau.
2.2.2 Phương pháp giải quyết những xung đột pháp luật về thừa kế.
Hiện tượng xung đột pháp luật đã và đang được giải quyết theo hướng tìm
ra hệ thống pháp luật phù hợp với sự phát triển các quan hệ và bảo vệ lợi ích
chính đáng của các bên.
Đó là việc áp dụng cách thức sau:
(i) Áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất (Phương pháp thực chất):
5 Lê Thị Nam Giang (2011), Tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Tr.108.
6 Phạm Thành Tài, Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài theo quy định
của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới,

Hai cách thức giải quyết xung đột pháp luật trên đều có những ưu và
nhược điểm riêng, nên quy phạm pháp luật xung đột và quy phạm pháp luật thực
chất vẫn tồn tại song song trong hệ thống pháp luật các nước.
- Quy phạm pháp luật xung đột có ưu điểm là linh hoạt và mền dẻo vì xây dụng
quy phạm xung đột không quá phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội,
phong tục tập quán của các quốc gia do đó nó chiếm số lượng lớn trong các quy
phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài các nước. Nhưng
8 Lê Thị Nam Giang (2011), “chương 4: Xung đột pháp luật”,Tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia
TP. Hồ Chí Minh.
Trang 10
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
nhược điểm của quy phạm này là phức tạp, khó khăn cho cơ quan áp dụng pháp
luật và cho các đương sự khi tham gia quân hệ
- Quy phạm pháp luật thực chất có ưu điểm là đơn giản, dễ áp dụng vì trực tiếp
giải quyết được nội dung các quan hệ nhưng nhược điểm là khó xây dựng, phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước. Quy phạm thực
chất chủ yếu được xây dựng trong lĩnh vực thương mại và di sản không người
thừa kế.
Cũng có thể chia làm ba cách thức áp dụng để giải quyết xung đột pháp
luật
9
:
- Áp dụng phương pháp gián tiếp giải quyết xung đột pháp luật bằng các quy phạm
xung đột;
- Áp dụng phương pháp trực tiếp giải quyết xung đột pháp luật bằng các quy phạm
thực chất từ nguồn gốc quốc tế, quốc nội;
- Quy phạm áp dụng bắt buộc: thực tế là những quy phạm quốc nội điều chỉnh các
quan hệ trong nước nhưng chúng được áp dung bắt buộc để điều chỉnh một vài
chi tiết của quan hệ có yếu tố nước ngoài, làm vô hiệu hóa các quy phạm xung
đột đáng kể được áp dụng.

° Năng lực hành vi lập và hủy bỏ di chúc được xác định theo luật nơi cư trú cuối
cùng của người lập di chúc hoặc theo luật của nước nơi lập di chúc;
° Hình thức di chúc được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng được yêu cầu của một
trong các hệ thống pháp luật sau đây: luật quốc tịch của người lập di chúc, luật
nơi cư trú của người lập di chúc; đối với di sản thừa kế là bất động sản có thể áp
dụng luật nơi có bất động sản đó.
Ngoài ra, tư pháp quốc tế một số nước còn quy định nếu người lập di chúc
không tuân thủ quy định về hình thức di chúc của các hệ thống pháp luật trên mà
lại thỏa mãn yêu cầu đối với luật nơi lập di chúc thì di chúc đó cũng không bị coi
là bất hợp pháp. Ví dụ như pháp luật Nhật Bản quy định: “ Hình thức của di chúc
sẽ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng yêu cầu của một trong các hệ thống pháp
luật sau: luật nơi lập di chúc; luật của nước mà người để lại di sản là công dân
vào thời điểm lập di chúc hoặc thời điểm người đó chết, luật của nước mà người
để lại di sản cư trú vào thời điểm lập di chúc hoặc thời điểm người đó chết, luật
của nước mà người để lại di sản có nơi cư trú thường xuyên vào thời điểm lập di
10 Lê Thị Nam Giang (2011), “ chương 12: Thừa kế” Tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia
TP. Hồ Chí Minh.
11 Bành Quốc Tuấn (26/10/2012), “Pháp luật áp dụng cho quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
theo Bộ luật Dân sự 2005”, Trường đại học kiểm sát Hà Nội, download tại địa chỉ:
http://www.tks.edu.vn/portal/detailtks/5985_64_0_Phap-luat-ap-dung-cho- quan-he-thua-ke-co-
yeu-to-nuoc-ngoai-theo-Bo-luat-Dan-su-2005.html ngày 15/11/201
Trang 12
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
chúc hoặc thời điểm người đó chết; đối với bất động sản: pháp luật của nước có
tài sản đó”.
12
2.3.2 Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo luật được đặt ra trong trường hợp không có di chúc hoặc di
chúc không hợp pháp. Thừa kế theo luật là thừa kế không phải do ý chí của
người để lại di sản thừa kế mà trên cơ sở can thiệp của Nhà nước thông qua

Trang 13
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Việc định danh tài sản, tất cả các nước đều áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản.
Riêng tại Pháp, trong thực tiễn xét xử, áp dụng việc định danh tài sản theo hệ
thuộc luật tòa án
15
.
PHẦN 3. THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP
LUẬT VỀ THỪA KẾ
3.1. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung
đột pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Trong pháp luật về thừa kế theo di chúc thì năng lực hành vi lập và hủy bỏ
di chúc, hình thức di chúc là những nội dung cơ bản. Vậy pháp luật nước nào sẽ
được áp dụng nhằm giải quyết 2 vấn đề này.
3.1.1 Xung đột pháp luật về năng lực lập, thay đổi và hủy bỏ di chúc.
(i) Theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Trong Bộ luật Dân sự năm 1995 không hề có quy định về năng lực lập,
thay đổi và hủy bỏ di chúc có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, ta phải dựa vào các quy
phạm khác để suy ra nguyên tắc áp dụng. Về năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc
của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là
công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Trong trường
hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch về thừa kế tại Việt Nam
thì năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc của người nước ngoài được xác định theo
15 Lê Thị Nam Giang (2011), “chương 4: Xung đột pháp luật”,Tư pháp quốc tế, NXB Đại học
quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Trang 14
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
pháp luật Việt Nam (theo tinh thần điều 831 Bộ luật dân sự 1995)
16

pháp luật của Bên ký kết mà người để lại thừa kế là công dân vào thời điểm lập
16 Lê Thị Nam Giang (2011), “chương 12: Thừa kế ”,Tư pháp quốc tế, NXB Đại học quốc gia
TP. Hồ Chí Minh.
17 Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ
luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trang 15
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
hoặc hủy bỏ di chúc”
18
, điều 36 khoản 1 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý
về các vấn đề dân sự và hình sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ucaina
cũng quy định “ Năng lực lập hoặc hủy bỏ di chúc cũng như hậu quả pháp lý của
những khiếm khuyết về thể hiện ý chí của một người, việc tuyên bố người đã lập
hoặc hủy bỏ di chúc mất năng lực hành vi được xác định theo pháp luật của bên
ký kết mà người để lại thừa kế là công dân”
19
,…
3.1.2 Xung đột pháp luật về hình thức di chúc
(i) Theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Tại Bộ luật Dân sự 1995 không có quy định nào về vấn đề thừa kế có yếu
tố nước ngoài, vì vậy ta chỉ có thể rút ra nguyên tắc xác định hình thức di chúc
dựa trên những quy phạm sẵn có. Đối với di chúc của công dân Việt Nam được
lập ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài thì vẫn được coi là hợp pháp nếu việc
áp dụng pháp luật nước ngoài đó không trái với quy định của pháp luật Việt
Nam
20
.
Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành đã có điều khoản cụ thể quy định về
vấn đề hình thức di chúc. Điều 768 khoản 1 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Hình
thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc”. Như vậy,

chúc. Tuy nhiên, việc tuân theo pháp luật của Bên ký kết nơi lập hoặc hủy bỏ di
chúc cũng được coi là hợp thức”
22
, khoản 2 điều 36 Hiệp định tương trợ tư pháp
và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Ucaina “ hình thức di chúc do pháp luật của bên ký kết mà người lập di chúc
là công dân vào thời điểm lập di chúc quy định. Tuy nhiên, việc tuân theo pháp
luật của bên ký kết nơi lập di chúc cũng được coi là hợp thức. Quy định này cũng
được áp dụng đối với việc hủy bỏ hoặc thay đổi di chúc”
23

Ví dụ: ông Trần Văn A (công dân Việt Nam) cư trú và làm việc lâu dài tại
Liên Bang Nga, lập di chúc để lại tài sản của mình ở Liên Bang Nga cho vợ và
các con mang quốc tịch Việt Nam, cư trú tại Việt Nam. Như vậy, từ những phân
tích ở trên ta có thể khẳng định việc xác định năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di
chúc của ông A sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam, còn về hình thức của di chúc
ông A có thể chọn tuân theo pháp luật của Liên Bang Nga hay Việt Nam đều
được.
22 Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga về tương trợ tư pháp
và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự, ký tại Mát-xcơ-va ngày 25 tháng 8 năm 1998, có
hiệu lực kể từ ngày 27 tháng 8 năm 2012.
23 Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Ucaina về tương trợ tư pháp và
pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự
Trang 17
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
3.2. Thực trạng của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung
đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật.
3.2. 1 Theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam áp dụng nguyên tắc phân chia di sản thừa kế để giải
quyết xung đột pháp luật trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài. Theo Điều

nước kí kết mà người để lại di sản thừa kế là công dân trước khi chết.
- Quyền thừa kế đối với tài sản là động sản được xác định theo pháp luật của nước
kí kết có bất động sản đó.
- Việc phân biệt tài sản là động sản hay bất động sản được xác định theo pháp luật
của nước kí kết nơi có tài sản.
Các quy phạm thực xung đột được xây dựng trong các hiệp định này đã
tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vấn đề thừa kế một cách thuận lợi và
nhanh chóng.
Sau đây là một vụ án cụ thể trong giải quyết tranh chấp thừa kế theo pháp
luật có yếu tố nước ngoài
25
: Tranh chấp tài sản thừa kế có yếu tố nước ngoài giữa
Ông Sy Tac Hin ( Sy Tac Him) và ông Ông Sỳ Tắc Phú do tòa án nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh giải quyết ( Bản án số 1805/2012/DSST ngày 26/12/2012 của
Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh về việc tranh chấp thừa kế).
Nội dụng vụ án:
Nguyên đơn là Ông Sy Tac Hin ( Sy Tac Him) sinh năm 1945, quốc tịch
Đức.
Bị đơn là Ông Sỳ Tắc Phú sinh năm 1945. Địa chỉ: 15D Lạc Long Quân,
phường 05, quận 11, Tp. Hồ Chí Minh.
Người có quyền và lợi ích liên quan khác.
Ông bà Sỳ Màu Xướng ( chết năm 1995) và Lìu Sỳ ( chết 2001) có 11
người con là Sy Tac Hin, Sỳ Tắc Coóng, Sỳ Tắc Phú, Sỳ A Muối, Sỳ Nguyệt
Anh, Sỳ A Lan, Sỳ Ngọc Anh, Sỳ Lỉ Kius, Sỳ Tắc Phùng, Sỳ Nhịp Cú, Sỳ Tắc
Trân.
Khi còn sống ông Xướng và bà Sỳ có tạo dựng được 03 căn nhà gồm:
- Nhà đất số 15D lạc long Quân, phường 5, quận 11, TP. Hồ Chí Minh do ông Sỳ
Tắc Phú đứng tên đại diện thừa kế, đang quản lý và sử dụng.
- Nhà đất số 16D Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh do ông
Phú quản lý và cho thuê.

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu chia thừa kế của ông Sỳ Tắc Hin ( Him).
- Xác định di sản thừa kế của ông bà Sỳ Màu Xướng ( chết năm 1995) và Lìu Sỳ
( chết năm 2001) là 03 căn nhà số 15D, 16D, 18D Lạc Long Quân, phường 5,
quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ( sau khi trừ đi phần chi phí sửa chữa 02 căn
nhà 15D và 16D) trị giá 3.956.251.600 đồng.
- Xác định những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông Xướng bà Sỳ
gồm 11 người: Sy Tac Hin, Sỳ Tắc Coóng, Sỳ Tắc Phú, Sỳ A Muối, Sỳ Nguyệt
Anh, Sỳ A Lan, Sỳ Ngọc Anh, Sỳ Lỉ Kius, Sỳ Tắc Phùng, Sỳ Nhịp Cú, Sỳ Tắc
Trân.
2/ Di sản thừa kế của ông xướng bà Sỳ được phân chia theo pháp luật. Mỗi
người được hưởng một xuất thừa kế trị giá 359.668.327 đồng. Ông Phú sở hữu
Trang 20
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
nhà 15D, bà Trân sở hữu nhà 16D, bà Lan sở hữu nhà 18D và có trách nhiệm
thanh toán tiền cho các đồng thừa kế.
3/ Buộc gia đình ông Sỳ Tắc Phú, ông Trần Sỹ Tín, bà Nguyễn Thùy Liên
có trách nhiệm giao trả nguyên hiện trạng nhà 16D Lạc Long Quân, phường 5,
quận 11, thành phố Hồ Chí Minh cho bà Sỳ Tắc Trân.
4/ Việc giao trả nhà và thanh toán các khoản tiền được thực hiện cùng lúc
sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5/ Buộc các thừa kế thanh toán cho ông bà Sỳ Tắc Phú và bà trềnh Thị Mùi
số tiền chi phí sửa chữa 02 căn nhà 15D và 16D Lạc Long Quân là 199.684.000
đồng.
6/ Chi phí định giá 03 căn nhà do nguyên đơn nguyện chịu, đã nộp trong
quá trình giải quyết vụ án.
7/ Chi phí kiểm định 5.656.000 đồng do ông Sỳ Tắc Phú tự nguyện chịu,
đã thanh toán trong quá trình giải quyết vụ án.
8/ Các đương sự phải thanh toán án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Nhận xét của người viết:
Người viết hoàn toàn đồng ý với quyết định của hội đồng thẩm phán tòa án

Trong trường hợp di sản của người chết để lại không có người thừa kế theo
di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối
nhận di sản thì di sản đó được gọi là di sản không người thừa kế.
Theo pháp luật Việt Nam để giải quyết vấn đề di sản không người thừa kế
có yếu tố nước ngoài quy định dựa trên sự kết hợp hệ thuộc luật nơi có bất động
sản và hệ thuộc luật quốc tịch của người để lại di sản. Điều 767 khoản 3, 4 Bộ
luật dân sự 2005 đã quy định về việc giải quyết này như sau:
“ 3. Di sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi
có bất động sản đó.
4. Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người
để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết.”
Việc giải quyết vấn đề di sản không người thừa kế cũng được quy định cụ
thể trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước theo
nguyên tắc
26
:
26 Điều 40 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên Bang Nga, Điều 44 Hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Hungary, Điều 37 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam và CHDCND Lào.
Trang 22
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Nếu di sản là động sản thì được giao lại cho nước kí kết mà người để lại di sản là
công dân khi chết.
- Nếu di sản là bất động sản thì thuộc về nước kí kết nơi có bất động sản
- Việc phân chia di sản là động sản hay bất động sản được xác định theo pháp luật
của nước nơi có di sản.
Như vậy Bộ luật dân sự 2005 và các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam và các nước đều quy định thống nhất thể hiện được ý chí của nhà nước Việt
Nam trong việc giải quyết di sản không người thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Theo đó, nhà nước Việt Nam được nhận số động sản do công dân Việt Nam để

quốc tịch sẽ được áp dụng theo nội dung của các hiệp định này, những trường
hợp khác sẽ phải áp dụng tư pháp quốc tế của nước mà quan hệ thừa kế diễn ra
hoặc nước có Tòa án giải quyết vụ việc. Với một số lượng lớn các nước áp dụng
nguyên tắc Luật nơi cư trú thì pháp luật Việt Nam sẽ ít có cơ hội áp dụng đối với
các quan hệ thừa kế do người Việt Nam cư trú ở nước ngoài tham gia hoặc do
Tòa án nước ngoài giải quyết.
- Trong trường hợp người để lại thừa kế có nhiều quốc tịch thì áp dụng nguyên tắc
Luật quốc tịch sẽ khó khăn trong việc xác định luật nước nào sẽ được áp dụng.
Có quan điểm cho rằng, trong trường hợp này có thể vận dụng nguyên tắc quy
định tại khoản 2 Điều 760 Bộ luật dân sự 2005: "Pháp luật áp dụng đối với người
nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà
người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự; nếu
người đó không cư trú tại một trong các nước mà người đó có quốc tịch thì áp
dụng pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất về
quyền và nghĩa vụ công dân”. Tuy nhiên, đây cũng là một quy phạm xung đột
của tư pháp quốc tế Việt Nam và cũng chỉ áp dụng được khi trong số các quốc
tịch của người để lại di sản thừa kế có một quốc tịch là Việt Nam. Như vậy, trong
trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc tịch nhưng không có quốc tịch Việt
Nam, cư trú và có di sản thừa kế là động sản tại Việt Nam thì pháp luật Việt Nam
cũng khó có cơ hội được áp dụng.
Những phân tích trên cho thấy, việc áp dụng nguyên tắc Luật quốc tịch như
quy định của Bộ luật dân sự 2005 để xác định luật áp dụng cho quan hệ thừa kế
28 Đỗ Văn Đại & Mai Hồng Quỳ (2010), Tư pháp quốc tế Việt Nam, NXB chính trị quốc gia.
Trang 24
Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
theo luật có di sản thừa kế là động sản sẽ dẫn đến khả năng loại bỏ việc áp dụng
pháp luật Việt Nam trong nhiều trường hợp, kể cả khi Tòa án Việt Nam giải
quyết vụ việc hoặc di sản đang hiện diện ở Việt Nam. Khoản 1 Điều 767 Bộ luật
dân sự 2005 quy định "phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản
thừa kế có quốc tịch trước khi chết” nghĩa là không có trường hợp ngoại lệ. Điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status