ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HƢƠNG
DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHÙNG TRUNG TẬP
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 3
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài 3
5. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 5
7. Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 6
1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế. 6
1.1.1. Thừa kế và quyền thừa kế 6
1.1.2. Di sản thừa kế 8
1.1.3. Người để lại di sản thừa kế 11
1.1.4. Người thừa kế 13
1.2. Diện và hàng thừa kế 17
1.2.1. Khái niệm diện thừa kế 17
1.2.2. Khái niệm hàng thừa kế 20
1.3. Diện và hàng thừa kế theo quy định của một số nƣớc trên
thế giới 22
1.3.1. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Nhật Bản 22
1.3.2. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Pháp 24
1.3.3. Diện và hàng thừa kế theo pháp luật Iran 27
Chương 2: DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 29
2.1. Diện thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành 29
2.1.1. Diện thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống 29
2.1.2. Diện thừa kế dựa trên quan hệ hôn nhân 36
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1. Biểu đồ 3.1 - Tỉ lệ phần trăm tình hình thụ lý phúc thẩm các tranh chấp dân
sự từ năm 2007 đến năm 2011 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa
Thiên Huế.
2. Biểu đồ 3.2 - Án phúc thẩm về dân sự và thừa kế đã thụ lý từ năm 2007 đến
năm 2011 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Biểu đồ 3.3 - Tỉ lệ phần trăm các vụ án được giải quyết theo trình tự phúc
thẩm từ năm 2007 đến năm 2011 tại Tòa án nhân dân tỉnh
Thừa Thiên Huế.
4. Biểu đồ 3.4 - Tỉ lệ phần trăm tình hình thụ lý phúc thẩm các tranh chấp dân
sự từ năm 2007 đến năm 2011 tại Tòa án nhân dân Thành
phố Đà Nẵng.
5. Biểu đồ 3.5 - Án phúc thẩm về dân sự và thừa kế đã thụ lý từ năm 2007 đến
năm 2011 tại Tòa án nhân dân Thành phố Đà Nẵng.
6. Biểu đồ 3.6 - Tỉ lệ phần trăm các vụ án được giải quyết theo trình tự phúc
thẩm từ năm 2007 đến năm 2011 tại Tòa án nhân dân Thành
phố Đà Nẵng. 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời kỳ đầu của xã hội công xã nguyên thủy con người buộc phải
sống co cụm lại theo kiểu bầy đàn để duy trì cuộc sống bởi vì công cụ sản
xuất còn lạc hậu, của cải họ làm ra chưa nhiều, chế độ tư hữu chưa xuất hiện.
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới, nhu
người dân chưa cao, việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các cấp Tòa
án đã khiến cho những tranh chấp về thừa kế kéo dài còn bỏ sót những người
trong diện và hàng thừa kế.
Từ những khó khăn, vướng mắc kể trên của tình hình thực tế. Tác giả
chọn đề tài “Diện và hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự năm
2005” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình. Từ việc nghiên cứu
những quy định trong pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế tác giả
sẽ phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam trong các thời kỳ để
thấy được những thay đổi của quy định trong pháp luật Việt Nam về diện
và hàng thừa kế. Đồng thời, tác giả so sánh những quy định về diện và
hàng thừa kế trong pháp luật Việt Nam với một số nước và đưa ra những
kiến nghị hoàn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, chế định thừa kế đã được quy định trong các bộ luật cổ
như: Bộ Luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long, Dân luật Bắc kỳ…Kế thừa
những quy định đó Bộ Luật Dân sự năm 2005, dành hẳn phần thứ tư gồm 4
chương, 56 Điều từ Điều 631 đến Điều 687 để quy định về vấn đề thừa kế. Là
một trong những chế định quan trọng của BLDS năm 2005, chế định thừa kế
đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu phải kể đến tác phẩm
“Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của Tiến sĩ
Nguyễn Ngọc Điện; Tác phẩm "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế" của Phó giáo
3
sư, Tiến sĩ Đinh Văn Thanh – Trần Hữu Biền; Tác phẩm “Luật thừa kế Việt
Nam – bản án và bình luận bản án” của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại; Tiến sĩ Phùng
Trung Tập có tác phẩm “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ
năm 1945 đến nay” và gần đây là sự ra đời của sách chuyên khảo “Luật thừa
kế Việt Nam”. Ngoài ra, liên quan đến chế định thừa kế cũng có rất nhiều sinh
viên, học viên chọn làm đề tài tốt nghiệp của mình. Tuy nhiên, những công
trình nghiên cứu trên của các tác giả có phạm vi rộng hơn, nghiên cứu hầu hết
văn thạc sỹ. Tuy nhiên, tác giả vẫn chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp
thạc sỹ của mình.
Thứ nhất, qua nghiên cứu đề tài “Diện và hàng thừa kế theo quy định
của Bộ luật dân sự năm 2005”, luận văn phân tích những quy định của pháp
luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế theo các giai đoạn. Luận văn chỉ ra
những ưu điểm và bất cập của pháp luận hiện hành về diện và hàng thừa kế
đồng thời so sánh những quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của
pháp luật một số nước về vấn đề này.
Thứ hai, luận văn sẽ phân tích một số tình huống cụ thể liên quan đến
những tranh chấp về thừa kế, về diện và hàng thừa kế và chỉ ra những bất cập
trên thực tế về vấn đề này.
Thứ ba, luận văn đưa ra những phương hướng và giải pháp khắc phục
những bất cập liên quan đến diện và hàng thừa kế nhằm hoàn thiện những quy
định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về thừa
kế mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về diện
và hàng thừa kế qua các thời kỳ đặc biệt tập trung phân tích các quy định về
diện và hàng thừa kế quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005. So sánh, đối
chiếu những quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 với các văn bản ra đời
trước như Pháp lệnh thừa kế, Bộ luật dân sự năm 1995. Luận văn nghiên cứu
5
pháp luật của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Pháp, Iran để chỉ ra
những đặc thù của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu
một số sách chuyên khảo của một số tác giả nổi tiếng như sách của Tiến sỹ
Phùng Trung Tập…và một số tài liệu liên quan khác.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Diện và hàng thừa kế theo quy định
của Bộ luật dân sự năm 2005”, tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau:
quyền thừa kế của mỗi cá nhân, mỗi con người cụ thể được nhà nước bảo hộ
về mặt pháp lý. Hiến pháp 1992 là văn bản có giá trị cao nhất của nhà nước
Việt Nam, từ những quy định trong Hiến pháp mà quyền thừa kế được cụ thể
hóa trong các văn bản pháp luật liên quan. Trước khi tìm hiểu khái niệm
quyền thừa kế chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm thừa kế. Vậy thừa kế là
gì? Theo Từ điển tiếng Việt: "Thừa kế là hưởng của người khác để lại cho"
[54]. Theo Giáo trình Luật dân sự - Trường Đại học Luật Hà Nội, thừa kế
được hiểu là: "Việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho những người
còn sống" [56].
Quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế là hai bộ phận không thể tách rời
nhau, nó thường đi liền với nhau trong các quan hệ xã hội, quan hệ thừa kế
phụ thuộc vào quan hệ sở hữu, có quan hệ sở hữu thì sẽ có quan hệ thừa kế,
và ngược lại có quan hệ thừa kế thì sẽ xuất hiện chế độ sở hữu. Như vậy, thừa
kế luôn gắn với quan hệ sở hữu xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự
phát triển của xã hội loài người. Trong thời kỳ Công xã nguyên thủy, đã xuất
hiện việc dịch chuyển tài sản của những người đã chết cho những người còn
sống có quan hệ huyết thống. Đây là giai đoạn chưa xuất hiện nhà nước nên
pháp luật chưa xuất hiện, đến cuối thời kỳ Công xã nguyên thủy mầm mống
của nhà nước xuất hiện và đến khi nhà nước xuất hiện thì pháp luật ra đời.
Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này chưa điều chỉnh hết các quan hệ xã hội, đối
7
với các quan hệ về sở hữu và thừa kế thì mỗi một nhà nước thường hướng sự
điều chỉnh của các quy phạm phạm luật theo hướng bảo vệ quyền lợi tuyệt đối
của giai cấp thống trị và quyền thừa kế được điều chỉnh bởi các quy phạm
pháp luật của mỗi nhà nước. Điều 674 BLDS năm 2005 quy định:
«Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và
trình tự thừa kế do pháp luật quy định».
Với những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì thừa kế theo
pháp luật là thừa kế theo các hàng thừa kế mà pháp luật đã quy định và thừa
Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế cùng tồn tại song song trong
một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, chúng có mối liên hệ biện chứng với
nhau, chỉ đạo, chi phối lẫn nhau, cùng phát triển theo sự phát triển của xã hội
loài người. Vì vậy, quyền sở hữu luôn gắn liền với mỗi con người, được nhà
nước bảo hộ về mặt pháp lý, cá nhân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp,
của cải để dành, nhà ở, tư liệu tiêu dùng…Khi người đó còn sống họ có quyền
mang những tài sản thuộc sở hữu của mình ra sử dụng cho các mục đích của
mình nghĩa là đưa những tài sản mình có ra lưu thông dân sự, kinh doanh thu
lợi nhuận hay phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hoặc họ có thể lập di chúc để
định đoạt những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của họ, để lại tài sản đó cho
người khác, cũng có những trường hợp người có tài sản không định đoạt khối
tài sản của mình bằng việc lập di chúc do đó khi họ chết đi khối tài sản mà họ
có sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc diện và hàng thừa kế của họ
theo quy định của pháp luật dân sự. Khi một người chết đi toàn bộ khối tài
sản thuộc sở hữu của người đó sẽ được gọi là di sản thừa kế.
Điều 634 BLDS 2005 quy định: Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng
của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với
người khác[6].
9
Với quy định này của BLDS 2005 tuy ngắn gọn nhưng đã đầy đủ và rất
chính xác. Bộ luật dân sự 2005 cũng đã có quy định cụ thể thế nào là tài sản.
Tại Điều 163 BLDS 2005 quy định:"Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản" [6].
Theo đó, những tài sản thuộc quyền sở hữu của một người, kể cả các
quyền tài sản sau khi chết sẽ trở thành di sản thừa kế. Những tài sản mà
người đó để lại có thể là những tài sản vật chất hữu hình có thể nhìn thấy
được, cầm nắm được như tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, tiền, vàng, bạc,
kim khí quý, đá quý, nhà cửa… hay là những quyền tài sản của người đó.
Theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 thì quyền tài sản là quyền trị
hay phần tài sản thuộc sở hữu chung theo phần của người chết do góp vốn
làm ăn với người khác.
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: "Tài sản chung của
vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung và những tài sản
khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung" [24].
Những tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng, mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này. Ông cha ta thường có
câu “của chồng, công vợ” do đó rất khó để xác định công sức đóng góp của
mỗi người trong việc tạo lập khối tài sản chung của vợ chồng nên khi một bên
chết trước về nguyên tắc được chia đôi, phần của người chết được xác định là
di sản thừa kế.
Đối với những trường hợp chung sống như vợ chồng hoặc hôn nhân bất
hợp pháp thì coi như họ góp vốn làm ăn chung với nhau, khi một bên chết
11
trước nếu không xác định được phần của ai đóng góp bao nhiêu thì về nguyên
tắc cũng được chia đôi, phần của người chết được xác định là di sản thừa kế.
Nếu xác định được phần đóng góp của từng bên thì chia theo tỷ lệ phần trăm
các bên đóng góp.
Đối với những tài sản mà góp vốn làm ăn vào các Doanh nghiệp,
Hợp tác xã đối với cá nhân thì sẽ căn cứ theo thoả thuận hoặc theo Điều lệ
Doanh nghiệp Có nhiều trường hợp chỉ một bên vợ hoặc một bên chồng
đứng tên tài sản góp vốn vì vậy khi giải quyết cần xem xét đây là tài sản
chung hay là tài sản riêng của vợ chồng. Khi đó tài sản có được thuộc
quyền sở hữu chung của nhiều người, nếu một trong số những người đó
chết thì di sản của người chết còn bao gồm cả phần tài sản thuộc sở hữu
của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung.
sản theo pháp luật.
Tuy vậy, quyền định đoạt tài sản thuộc ở hữu của mình không phải là
quyền tuyệt đối của người lập di chúc. BLDS 2005 tại Điều 669 quy định
trường hợp “những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.
Theo đó, nếu như những người được liệt kê tại Điều 669 không được người
lập di chúc cho hưởng tài sản của họ hoặc cho hưởng ít hơn hai phần ba một
suất thì pháp luật quy định họ vẫn được hưởng hai phần ba một suất nếu di
sản được chia theo pháp luật.
Pháp luật dân sự còn quy định vợ chồng có quyền lập di chúc chung để
định đoạt tài sản chung cho người thừa kế.
Ngoài những quyền trên pháp luật dân sự còn quy định người để lại di
sản có quyền lập di chúc để truất quyền hưởng di sản thừa kế của những
người thừa kế theo pháp luật tại Điều 648 BLDS năm 2005.
13
1.1.4. Người thừa kế
Người thừa kế là người được nhận di sản thừa kế mà nười chết để lại
theo di chúc hoặc theo pháp luật hay là người vừa nhận di sản thừa kế theo di
chúc, vừa nhận di sản thừa kế theo pháp luật.
Điều 635 BLDS năm 2005 quy định: “Người thừa kế phải là cá nhân
còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong
trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan tổ chức thì phải là cơ quan
tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” [6].
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức bất kỳ có quan hệ
thân thuộc hay chẳng có quan hệ gì với người để lại di sản. Còn người thừa kế
theo pháp luật lại chỉ có thể là cá nhân và phải thuộc diện thừa kế, hàng thừa
kế theo quy định của pháp luật.
Người thừa kế theo di chúc là cá nhân hoặc tổ chức được hưởng di sản
theo sự định đoạt trong di chúc mà người để lại di sản thừa kế đã lập. Người thừa
Vậy trường hợp nào thì được coi là đửa trẻ sinh ra còn sống? Pháp luật hiện
hành không có văn bản nào quy định rõ thế nào là đứa trẻ sinh ra còn sống.
Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ
tịch quy định: nếu thai nhi sinh ra chết sau một ngày vừa phải khai sinh và
vừa phải khai tử [13]. Đến nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về
đăng ký và quản lý hộ tịch ngày 27/12/2005 quy định tại Điều 23 như sau: Trẻ
em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai
sinh và đăng ký khai tử. Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì cán bộ
Tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và Sổ
đăng ký khai tử. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và Sổ đăng ký
khai tử phải ghi rõ "Trẻ chết sơ sinh" [17].
15
Với những quy định của Pháp luật hiện hành thì những đứa trẻ sinh ra
và chết trong thời gian một ngày thì không phải đăng ký khai sinh và đăng ký
khai tử. Như vậy, có thể hiểu trường hợp này nhà nước chưa quản lý về hộ
tịch của đứa trẻ dưới một ngày tuổi. Chúng ta có thể hiểu, đứa trẻ sinh ra sau
một ngày thì có coi như là còn sống được không? Thiết nghĩ để bảo đảm
quyềnlợi cho người thừa kế là trẻ sơ sinh nên chăng cần quy định cụ thể việc xác
định một đứa trẻ sinh ra bao lâu được coi là còn sống.
Ngoài ra, người thừa kế theo di chúc còn có thể là các cơ quan, tổ chức,
pháp luật thừa kế cũng quy định điều kiện để cơ quan, tổ chức được hưởng di
sản thừa kế. Theo đó, cơ quan tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế thì mới được hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc. Thời điểm mở
thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Với quy định này thì có thể xác
định được ngay trường hợp nếu cơ quan, tổ chức đã chấm dứt sự tồn tại của
mình vào thời điểm mở thừa kế thì không thể được hưởng di sản mà người
chết để lại theo di chúc và phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật cho
những người thừa kế thuộc hàng thừa kế của người chết.
Nếu như pháp luật quy định người thừa kế có quyền hưởng di sản thì
quyền từ chối nhận di sản. Tất cả những người được hưởng di sản thừa kế hay
chỉ một số người đủ điều kiện mới được từ chối? Vậy trường hợp người dưới
mười tám tuổi có quyền từ chối nhận di sản hay không? Nếu như pháp luật
quy định người từ đủ 18 tuổi trở lên là những người có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ thì tất nhiên việc những người này có quyền từ chối hưởng di sản
thừa kế là không thể bàn cãi nhưng đối với những người chưa đủ 18 tuổi thì
sao? Thiết nghĩ, trong trường hợp này pháp luật cần phải có quy định cụ thể
đối với người dưới 18 tuổi nên quy định nếu muốn từ chối hưởng di sản thì
phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
17
Một vấn đề cần quan tâm nữa đó là quy định của BLDS năm 2005 về
thời hạn có quyền từ chối nhận di sản của người thừa kế. Theo quy định của
BLDS năm 2005 thời hạn đó là 6 tháng. Nếu người thừa kế không từ chối
nhận di sản sau 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế thì không có quyền từ
chối nhận di sản thừa kế nữa. Với quy định này của BLDS năm 2005 còn có
điểm chưa thực sự thuyết phục. Thực tế có nhiều trường hợp người để lại di
sản chết mà người thừa kế không biết vì vậy không muốn nhận di sản nhưng
lại không được quyền từ chối nếu như thời hạn pháp luật ấn định đã hết.
1.2. Diện và hàng thừa kế
1.2.1. Khái niệm diện thừa kế
Diện thừa kế chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật mà
BLDS năm 2005 lại không có quy định nào quy định thế nào là diện thừa kế.
Để tìm hiểu khái niệm diện thừa kế chúng ta lại phải căn cứ vào những quy
định của pháp luật hiện hành về hàng thừa kế.
Theo giáo trình Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội khái niệm diện thừa
kế được hiểu là "phạm vi những người có quyền hưởng di sản của người chết
theo quy định của pháp luật" [56].
Theo Tiến sỹ Phạm Văn Tuyết trong cuốn “Thừa kế - quy định của
pháp luật và thực tiễn áp dụng” thì khái niệm diện thừa kế được hiểu như sau:
hơn giá trị di sản mà người chồng để lại. Nhưng nếu như người vợ chết trước
thì người chồng có quyền quản lý, sử dụng khối tài sản đó với tư cách của chủ
sở hữu. Sau năm 1945 với sự ra đời của Hiến pháp đầu tiên của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, Điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: "Đàn bà ngang
quyền với đàn ông về mọi phương diện" [20]. Chính quy định này của Hiến
pháp năm 1946 mà các quy định về thừa kế ở nước ta cũng đã có những bước
phát triển mới vì thế mà diện thừa kế cũng thay đổi theo. Theo đó, những
người có quan hệ thân thích, gần gũi với người để lại di sản đều lần lượt được
19
liệt kê vào hàng thừa kế của người chết, diện thừa kế vì thế cũng ngày càng
rộng ra. Diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản lúc này được xác
định trên ba mối quan hệ với người để lại di sản.
- Những người có quan hệ hôn nhân với người để lại di sản;
- Những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản;
- Những người có mối quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản.
Khi Sắc lệnh số 97 ra đời ngay tại Điều 10, Điều 11 của Sắc lệnh đã chỉ
rõ diện thừa kế theo pháp luật bao gồm con, cháu, vợ, chồng của người để lại
di sản. Quy định này của Sắc lệnh 97 đã khẳng định một cách chắc chắn rằng
người vợ, người chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau. Sắc lệnh
đã đặt đúng vị trí của quan hệ hôn nhân, gắn kết tình yêu thương, bổn phận,
trách nhiệm giữa vợ chồng với nhau. Đến BLDS năm 1995, BLDS năm 2005
đều ghi nhận vợ, chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau. Điều này
càng khẳng định sự bình đẳng giữa nam và nữ mà các bản Hiến pháp đã ghi
nhận. Khi xác lập quan hệ vợ chồng là đã góp phần tạo nên một gia đình, một
tế bào của xã hội, họ phải có bổn phận chăm sóc, yêu thương, giúp đỡ lẫn
nhau cùng tạo nên một gia đình hạnh phúc. Người vợ là người sống suốt cuộc
đời với người chồng, chia sẻ, thương yêu, chăm chút, động viên người chồng
thì không thể chỉ quy định một sự bất bình đẳng rằng chỉ người chồng là
người có quyền sở hữu khối tài sản của vợ chồng tạo lập ra mà người vợ lại