ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ DIỆU HẰNG NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG
THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phùng Trung Tập
HÀ NỘI - 2009 1
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước ngày Pháp lệnh
Thừa kế 1990 được ban hành
23
1.3.3.
Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 có hiệu lực đến năm 2005
27
1.3.4.
Từ năm 2005 đến nay
29
Chương 2: NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
33
2.1.
Những trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản
33
2.1.1.
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về
33 2
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó
2.1.2.
Người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản
42
2.1.3.
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng người thừa kế
khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế
có quyền được hưởng
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bộ luật Dân sự năm 2005 điều chỉnh các quan hệ tài sản của các cá
nhân và tổ chức trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, để tạo thuận
lợi cho các cá nhân và tổ chức thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của
mình một cách đầy đủ và toàn diện trong lĩnh vực dân sự. Bộ luật Dân sự năm
2005 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho các giao lưu dân sự được ổn định,
góp phần ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
Trong Bộ luật Dân sự, thừa kế là một trong những chế định pháp luật
có vai trò quan trọng trong việc dịch chuyển tài sản của người chết để lại cho
những người thừa kế của họ theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật.
Thừa kế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường, khi tài
sản của người dân tăng lên đáng kể về cả số lượng và chất lượng và cùng với
nhu cầu để lại tài sản của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, tài sản của cha mẹ
để lại cho con cái, ông bà để lại cho cháu cũng như để bảo vệ quyền và lợi
ích của công dân trong việc dịch chuyển tài sản này cần có các qui phạm pháp
luật tương ứng và phù hợp để điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của người để
lại di sản cũng như người thừa kế trong quan hệ này.
phải không ngừng được hoàn thiện và mở rộng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, cũng như là cơ sở để giải quyết các các tranh chấp về thừa
kế trên thực tế ngày càng có hiệu quả hơn.
Nhu cầu về việc sửa đổi, hoàn thiện các qui định của pháp luật về thừa
kế cũng như việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án đối với các tranh
chấp về thừa kế là một nhu cầu chính đáng. Để có thể đáp ứng được yêu cầu
và nguyện vọng của cá nhân có tài sản trong việc dịch chuyển tài sản của họ 5
cho những người thừa kế, trong chế định về thừa kế bên cạnh những qui định
của pháp luật cho phép công dân có quyền được hưởng di sản từ người để lại
di sản và quyền để lại tài sản của mình cho những người thừa kế, thì Điều 643
Bộ luật Dân sự năm 2005 về người không có quyền hưởng di sản là một chế
tài áp dụng đối với những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của người để lại
di sản và của những người thừa kế khác. Trong điều luật trên, ngoài việc thể
hiện sự lên án, cái nhìn nghiêm khắc của nhà nước và xã hội đối với người
thừa kế không có quyền được hưởng di sản, điều luật còn thể hiện tính nhân
văn, tính giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của công dân. Đi sâu vào phân
tích nội dung của điều luật còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận, chính vì những
lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài "Những người không được quyền hưởng di
sản theo qui định của pháp luật hiện hành" với mong muốn đóng góp một
phần nào đó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Dân sự nói chung
và chế định về thừa kế nói riêng trong đó có nội dung về người thừa kế không
có quyền hưởng di sản.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một phần nội dung rất quan trọng của Bộ luật Dân sự năm
2005, cho nên các đề tài nghiên cứu về thừa kế khá nhiều và được thực hiện ở
nhiều cấp độ khác nhau như khóa luận tốt nghiệp, luận văn cao học, luận án
tiến sĩ… như "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến
sản, sự khác nhau giữa người được hưởng với người không được hưởng di
sản để di đến cách hiểu cụ thể về những người không có quyền hưởng di sản
và phân biệt với các trường hợp không được hưởng di sản khác. Từ việc phân
tích điều luật nêu lên những vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đưa ra một
vài ý kiến đóng góp hoàn thiện đối với qui định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự
năm 2005. 7
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về người thừa kế và người không
được quyền hưởng di sản.
Chương 2: Người thừa kế không được quyền hưởng di sản.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện những qui định
về người không có quyền hưởng di sản. 8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI THỪA KẾ
VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
1.1. KHÁI NIỆM THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ
1.1.1. Khái niệm thừa kế
Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người
đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật.
Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội
loài người. Ngay từ thời sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở
Từ đó trong quan hệ gia đình xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia
đình phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ. Chế độ mẫu hệ đã dần mờ nhạt thay
bằng chế độ phụ hệ với vai trò gia trưởng đặc trưng của người đàn ông. Các
con trong gia đình có huyết thống với người cha sẽ mang họ cha và được thừa
kế tài sản của cha "thế là huyết thống theo họ mẹ và quyền thừa kế theo mẹ đã
bị xóa bỏ, huyết tộc theo họ cha và thừa kế cha được xác lập". Như vậy qua
mỗi một thời kỳ, qua mỗi một giai đoạn phát triển của xã hội loài người tương
ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình thì việc
điều chỉnh quan hệ sở hữu có thay đổi dẫn theo sự thay đổi của các quan hệ
thừa kế đó là do các nguyên nhân về kinh tế, về quan hệ huyết thống, và về
quan hệ hôn nhân trong xã hội quyết định.
Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và
thừa kế đã xuất hiện như một yếu tố khách quan. Thừa kế xuất hiện nó phụ
thuộc vào chế độ sở hữu. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để xuất hiện quan hệ
sở hữu thì thừa kế là phương tiện duy trì củng cố quan hệ sở hữu.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành,
giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất và truyền lại cho con
cháu nên địa vị thống trị được củng cố từ đời này sang đời khác. Việc thừa kế 10
tài sản là sự chuyển dịch công cụ, phương tiện bóc lột của giai cấp thống trị
cho con cháu nhằm tiếp tục xác lập quyền lực về chính trị, kinh tế đối với
những người lao động.
Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người quan hệ thừa kế có
tính kế thừa các giá trị vật chất và tinh thần của gia đình và dòng tộc. những
thành quả lao động của gia đình như nhà ở và những của cải để dành khác,
đây là những thành quả lao động mà thế hệ trước để lại cho thế hệ sau bởi nhà
ở và các tài sản khác không những là tài sản có giá trị lớn mà nó còn thể hiện
giá trị văn hoá đã tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử.
trong gia đình người Chăm con gái lớn khi lập gia đình thường tách ra ở
riêng, con trai thì về nhà vợ nên ở lại với cha mẹ phần lớn lúc cao tuổi chỉ còn
con gái út. Con gái út vì thế có công trong việc giữ gìn và phát triển khối tài
sản của gia đình và cũng chính người con gái út là người có trách nhiệm cúng
tế trong gia đình và phải chăng vì lẽ đó tài sản của cha mẹ thuộc về con gái út.
"Thừa kế" theo Từ điển Tiếng Việt là "hưởng của người đã chết để lại
cho" [37, tr. 938] hưởng ở đây chính là sự dịch chuyển quyền sở hữu những
tài sản cũng chính là những của cải mà người chết để lại cho người còn sống.
Nội dung của sự dịch chuyển này có thể theo phong tục tập quán hoặc theo
qui định của pháp luật phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể.
Như vậy, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho
người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc.
Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển những giá trị vật chất, tinh
thần và những truyền thống, tập quán do thế hệ trước để lại.
1.1.2. Quyền thừa kế
Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội
chưa phân chia thành giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật thì quyền thừa
kế chỉ có thể sinh ra và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp, trong
xã hội đã có nhà nước và pháp luật. Bằng việc ban hành các văn bản pháp
luật, nhà nước qui định quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, 12
qui định trình tự và các điều kiện dịch chuyển tài sản cũng như qui định các
phương thức dịch chuyển tài sản từ người chết sang những người còn sống
khác. Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong
qui định về quyền thừa kế. Thậm chí ngay trong một chế độ xã hội nhưng ở
từng giai đoạn khác nhau sẽ có sự khác nhau trong qui định về quyền thừa kế.
Điều đó có nghĩa là chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển
kinh tế, xã hội của một nhà nước và đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định.
1.2.1. Khái niệm người thừa kế
Người thừa kế là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo qui
định của pháp luật mà người chết để lại. Có hai loại người thừa kế đó là người
thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật. Trong đó người được
thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người để lại di sản
nên họ có thể là cá nhân bất kỳ miễn là người để lại di sản thể hiện ý chí của
mình thông qua việc lập di chúc để lại tài sản cho họ, ngoài ra người được
hưởng thừa kế theo di chúc có thể là cơ quan, tổ chức hoặc chủ thể khác.
Người được hưởng thừa kế theo qui định của pháp luật bao giờ cũng là cá
nhân những người được xác định dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và
nuôi dưỡng với người để lại di sản.
Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 qui định:
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời
điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường
hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ
chức phải còn tồn tại cho đến thời điểm di chúc được mở [27].
Theo qui định của điều luật trên, cá nhân chỉ được coi là người thừa kế
khi cá nhân đó:
Thứ nhất: Phải là người còn sống cho đến thời điểm mở thừa kế thì
mới có quyền hưởng di sản. Với đặc trưng cơ bản của thừa kế là sự tiếp nối về 14
sở hữu tài sản giữa người còn sống với người đã chết nên người tiếp nhận di
sản phải là người còn sống. Sẽ không có ý nghĩa nếu tài sản được dịch chuyển
từ một người chết này sang một người chết khác, việc xác định một người còn
sống vào thời điểm mở thừa kế phải được xét trong một diện rộng, bởi vẫn có
những trường hợp một người đã chết trên thực tế nhưng vẫn được coi là còn
sống vào thời điểm mở thừa kế. Chẳng hạn như một người vẫn còn sống vào
Với những qui định trên thì một đứa trẻ sinh ra và còn sống sau từ
24 giờ trở lên thì sẽ được hưởng di sản mà người chết để lại. Trường hợp sinh
ra nhưng bị chết ngay hoặc chết trước 24 giờ thì đứa trẻ đó không được nhận
di sản mà người chết để lại.
Theo qui định trong luật La Mã cổ đại, người thừa kế phải là những
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, nếu người thừa kế là thai nhi thì
phải được sinh ra sau khi người để lại di sản chết 300 ngày (10 tháng). Luật XII
bảng qui định: "Tôi được biết rằng khi người đàn bà sinh đẻ vào tháng thứ 11
sau khi chồng chết thì có việc dường như người đàn bà có thai sau khi chồng
chết, bởi ủy ban mười người đã ghi rằng con người sinh ra vào tháng thứ
mười chứ không phải vào tháng thứ mười một (bảng IV)". Về cơ bản căn cứ
xác định người thừa kế trong luật La Mã cổ và qui định của Bộ luật Dân sự
năm 2005, là người thừa kế phải là người thừa kế còn sống vào thời điểm mở
thừa kế và với thai nhi tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế,
nếu trong khoảng thời gian này mà thai nhi được sinh ra thì mặc nhiên được
coi là đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và người được sinh ra sau thời
điểm mở thừa kế được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoặc theo
qui định của pháp luật.
Với người thừa kế theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật là cá
nhân thì không phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự họ đều có quyền nhận
di sản và phải thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản được 16
nhận. Đối với trường hợp người thừa kế là người chưa thành niên hoặc mất
năng lực hành vi dân sự vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của họ trong phạm vi di
sản được nhận, tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ của họ do những người
giám hộ thực hiện. Ngoài ra người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản hoặc
chuyển quyền nhận di sản của mình cho những người thừa kế khác, từ chối
nhận di sản là hành vi pháp lý của người thừa kế khước từ hưởng di sản theo
toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản
của họ để lại cho những người thừa kế. Phần di sản mà mỗi một người thừa kế
được hưởng theo di chúc được hưởng có thể bằng nhau, nhiều hơn hoặc ít hơn
nhau, điều này tùy thuộc vào việc phân định di sản của người lập di chúc định
đoạt. Người được chỉ định thừa kế theo di chúc có thể là người được hưởng
toàn bộ khối di sản của người chết để lại nếu không có sự hạn chế liên quan
đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc qui định tại
Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 bao gồm cha mẹ, vợ chồng, con chưa
thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người
để lại di sản. Đây là những người thừa kế không thể bị người để lại di sản
truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ cho họ hưởng phần di sản ít hơn 2/3 của
một suất theo luật, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản tại Điều 642 hoặc họ
là người không có quyền hưởng di sản theo qui định tại khoản 1 Điều 643 Bộ
luật Dân sự năm 2005 thì những người đó vẫn được hưởng phần di sản bằng
2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản của người chết được
chia theo qui định của pháp luật.
1.2.1.2. Người thừa kế theo qui định của pháp luật
Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ ai là người thuộc
diện hay không không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản kể
cả cơ quan, tổ chức được hưởng di sản do ý chí của người để lại di sản quyết
định. Thì người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có 18
quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những
người thuộc diện thừa kế theo luật được quyền hưởng di sản một cách bình
đẳng, ngang nhau giữa những người thừa kế cùng hàng. Điều 676 Bộ luật Dân
sự năm 2005 qui định người thừa kế theo luật được qui định theo thứ tự sau:
- Hàng thừa kế thừa nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết
được chỉ định thừa kế theo di chúc có quyền hưởng phần di sản đã được định
đoạt cho họ trong bản di chúc đó. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm
đảm bảo quyền và lợi ích của những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống
với người lập di chúc. Quyền của người lập di chúc bị hạn chế trong trường
hợp nếu họ không cho những người thân thích như cha mẹ, vợ chồng, con
chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động
của họ được hưởng di sản hoặc cho hưởng nhưng ít hơn 2/3 một suất thừa kế
theo luật thì theo qui định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005:
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3
suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia
theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc
cho hưởng di sản hoặc cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó, trừ
khi họ là những người từ chối nhận di sản theo qui định tại điều 642
hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo qui định
tại khoản 1 Điều 643 của bộ luật này [27].
1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động
Như vậy, quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc của những người thừa kế trong trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp với
phong tục tập quán cũng như phù hợp với các qui tắc đạo đức trong đời sống 20
của người Việt Nam, bởi người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc bao gồm cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản và con
dưới 18 tuổi của những người đó, bao gồm con đẻ, con nuôi, con trong giá thú
và con ngoài giá thú. Ngoài ra người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
của di chúc là con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không
có khả năng để tự nuôi sống bản thân là những người có quan hệ thân thích
gần gũi nhất đối với người để lại di sản.
nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa
kế di sản theo qui định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này" [27]. Con
riêng của vợ hay chồng người chết không được nhận di sản thừa kế của người
chết theo luật bởi giữa họ không có quan hệ huyết thống và không có nghĩa vụ
phải nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con nhưng nếu họ có quan hệ chăm sóc,
nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con và yêu thương, có trách nhiệm với nhau
như ruột thịt thì họ có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của nhau. Đây cũng
là căn cứ để xác định quyền nhận thừa kế thế vị cho những người con của con
riêng của những người để lại di sản là cha kế, mẹ kế chết sau những người đó.
Người được hưởng di sản là Nhà nước. Dựa trên qui định tại Điều 644
Bộ luật Dân sự năm 2005 "Trong trường hợp không có người thừa kế theo di
chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng những người thừa kế đó không được
quyền hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã
thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thì tài sản
thuộc về Nhà nước" [27].
Đối với trường hợp di sản không có người thừa kế, Điều 768 Bộ luật
Dân sự Cộng hòa Pháp qui định khi mở thừa kế mà không có người thừa kế
thì di sản thuộc về Nhà nước, cơ quan quản lý công sản phải yêu cầu Tòa án
cho phép nhận di sản. Sau khi Tòa án chấp nhận cho cơ quan công sản hưởng
di sản có nghĩa Tòa án đã xác định người để lại di sản không có người thừa kế
theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Ngoài ra qui định của Bộ luật
Dân sự một số nước như Nhật Bản, Thái Lan… qui định về di sản không có 22
người thừa kế thì trình tự thủ tục chuyển cho Nhà nước đều theo quyết định
của Tòa án là hợp lý và đảm bảo được sự khách quan.
Như vậy người có quyền hưởng di sản là những người thừa kế theo
pháp luật, theo di chúc, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc, người được thừa kế thế vị và Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt
di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản
theo di chúc". Vì thế nên họ bị tước quyền hưởng di sản và không được quyền
hưởng di sản của người chết để lại.
1.3. TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1945
ĐẾN NAY
1.3.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 nước ta là một nước thuộc địa
nửa phong kiến. Thực dân Pháp đã cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến
Việt Nam để duy trì hệ thống pháp luật do chúng ban hành. Hệ thống pháp
luật đó là công cụ để thực dân Pháp đàn áp và thực hiện chính sách khai thác
thuộc địa tàn bạo của chúng. Pháp luật về thừa kế ở Việt Nam giai đoạn này
chủ yếu được qui định trong hai Bộ dân luật. Đó là Dân luật Bắc Kỳ năm
1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936. Trong thời kỳ này tư tưởng trọng nam
khinh nữ vẫn được giai cấp thống trị duy trì trong các quan hệ xã hội, trong
quan hệ gia đình và trong cả các qui định của pháp luật.
Về người không có quyền hưởng di sản, pháp luật của chế độ thực dân
phong kiến cũng có những qui định về người thừa kế không có quyền hưởng
di sản của người quá cố (Người thừa kế bất xứng). Cả hai bộ Dân luật Bắc Kỳ
và Trung Kỳ đều có qui định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản
qui định tại Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ.
- Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng được
hưởng di sản của người lập di chúc