So sánh quy định giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn theo pháp luật
Việt Nam và theo các hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế mà Việt Nam kí
kết.
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1. Lý luận về xung đột pháp luật về ly hôn
1.1. Khái niệm ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.2. Các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn
có yếu tố nước ngoài
2. Căn cứ pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn
2.1. Cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có
yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
2.2. Các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết về vấn
đề giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn
3. So sánh các quy định hiện hành về giải quyết xung đột pháp
luật về ly hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định
tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết
3.1. Những điểm giống nhau của việc giải quyết xung đột pháp
luật về ly hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định
tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết
3.2. Những điểm khác nhau của việc giải quyết xung đột pháp
luật về ly hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định
tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết
4. Nhận xét
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Xuất phát từ các đặc điểm của các hệ thống pháp luật trên thế giới
do có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, phong
tục, tập quán, giữa các quốc gia. Trong những năm gần đây cùng với sự
Việc xác định dấu hiệu có yếu tố nước ngoài trong quan hệ ly hôn
theo Luật Hôn nhân và gia đình căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối
tượng của quan hệ là tài sản và nơi cư trú của các bên đương sự.
2
1.2. Các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu
tố nước ngoài
* Phương pháp thực chất: Là phương pháp giải quyết trực tiếp các vấn đề
pháp lý nảy sinh trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm
quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: Khoản 2 Điều 100 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định: Trong quan hệ hôn nhân và gia đình
với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các
quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật
Việt Nam có quy định khác.
* Phương pháp xung đột: Là phương pháp giải quyết gián tiếp quan hệ hôn
nhân có yếu tố nước ngoài. Trong phương pháp xung đột, quyền và nghĩa
vụ của các bên không được quy định cụ thể mà quy định gián tiếp thông
qua việc chọn hệ thống pháp luật áp dụng. Nếu quy phạm xung đột dẫn
chiếu đến luật của nước nào thì luật nước đó được áp dụng. Ví dụ, Khoản
3 Điều 104 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: Việc giải quyết tài
sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn phải tuân theo pháp luật của
nước nơi có bất động sản đó. Phương pháp xung đột được áp dụng phổ
biến để điều chính quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
2. Căn cứ pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu tố
nước ngoài
2.1. Cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn có yếu
tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện
hành (Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) việc giải quyết xung
đột pháp luật liên quan đến các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được
thể hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
2.2. Các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết về vấn đề
giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn
4
Mặc dù chưa ký kết hoặc tham gia một Điều ước quốc tế đa phương
về hôn nhân nhưng Việt Nam đã tích cực ký kết Điều ước quốc tế song
phương với một số nước trên thế giới, trong đó quy định một số vấn đề cơ
bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đó là các Hiệp
định tương trợ tư pháp và pháp lý (gọi tắt là Hiệp định tương trợ tư pháp).
Theo số liệu thống kê của Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao Việt Nam, tính
đến tháng 8 năm 2012, Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý song
phương giữa Việt Nam với các nước đã được ký kết gồm có 15 Hiệp định
tương trợ tư pháp với phạm vi điều chỉnh rộng trên tất cả các lĩnh vực dân
sự, thương mại, lao động, gia đình, hình sự trong đó điều chỉnh về vấn đề
hôn nhân có yếu tố nước ngoài gồm có các hiệp định sau: với Ba Lan
(22/3/1993), với Bê- la- rút (14/9/2000), với Bungary (3/10/1986), với Cu
Ba (30/11/1984), với Hungary (18/1/1985), với Mông Cổ (17/4/2000), với
Nga (25/8/1998). Hầu hết các HĐTTTP mà Việt Nam kí kết đều thiết lập
quy phạm xung đột thống nhất (trừ các HĐTTTP với Trung Quốc và Cộng
hòa Pháp). Nguyên tắc chọn luật áp dụng trong trường hợp có xung đột
pháp luật trong lĩnh vực ly hôn trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
ngoài, chủ yếu là nguyên tắc luật quốc tịch (lex patrae) và nguyên tắc luật
nơi cư trú (lex domicilii).
3. So sánh quy định hiện hành về giải quyết xung đột pháp luật về ly
hôn theo pháp luật Việt Nam và các hiệp định tương trợ tư pháp mà
Việt Nam ký kết
3.1. Những điểm giống nhau của việc giải quyết xung đột pháp luật về
ly hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định tương trợ tư
pháp mà Việt Nam ký kết
Thứ nhất, cả hai vợ chồng có nơi cư trú chung pháp luật nơi thường
trú chung của 2 vợ chồng sẽ được áp dụng. Thể hiện rõ trong các
Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 104 Luật hôn nhân và gia
đình 2000 có quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
6
2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo
pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có
nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.
3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo
pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Như vậy với quy định nêu trên thì việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
tại Việt Nam sẽ được giải quyết theo luật nơi cư trú chung của hai vợ
chồng, tuy nhiên nếu hai vợ chồng không có nơi thường trú chung thì theo
pháp luật Việt Nam. Nếu tài sản chung của vợ chồng là bất động sản thì
giải quyết theo luật nơi có bất động sản
Việc giải quyết xung đột pháp luật về ly hôn còn được đề cập trong
các HĐTTTP mà Việt Nam ký kết. Hầu hết các hiệp định đều quy định vấn
đề ly hôn giũa công dân các nước ký kết được xác định theo nguyên tắc:
- Nếu hai vợ chồng có cùng quốc tịch thì luật áp dụng để giải quyết ly hôn là luật
quốc tịch của cả hai vợ chồng. Cụ thể nếu vợ chồng là công dân của nước kí kết
này và cùng cư trú trên lãnh thổ của nước kí kết kia thì vụ việc ly hôn của họ được
điều chỉnh bởi pháp luật của nước kí kết mà họ là công dân. Hoặc nếu vợ chồng
cùng là công dân của một nước mà một bên cư trú trên lãnh thổ của nước kí kết
này, một bên cư trú trên lãnh thổ của nước kí kết kia thì pháp luật điều chỉnh vụ
việc ly hôn của họ cũng vẫn là pháp luật của nước kí kết mà họ là công dân (khoản
1 Điều 27 HĐTTTP giữa Việt Nam và CHDCND Lào; khoản 1 Điều 22 HĐTTTP
giữa Việt Nam và Bungari; khoản 1 Điều 26 HĐTTTP giữa Việt Nam và Balan;
khoản 1 Điều 33 HĐTTTP giữa Việt Nam và Hungari). Theo quy định này, nguyên
tắc luật quốc tịch được áp dụng, theo đó pháp luật của nước mà các bên mang quốc
tịch sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề ly hôn của họ .
- Nếu hai vợ chồng khác quốc tịch mà một bên cư trú trên lãnh thổ của nước kí kết
công dân của nước ký kết bên này một bên là công dân của nước ký kết bên kia thì
áp dụng pháp luật của bên ký kết có cơ quan nhận đơn.
Ngoài việc quy định áp dụng luật quốc tịch của cả hai vợ chồng thì trong
một số một số hiệp định còn quy định áp dụng luật thường trú chung của hai vợ
chồng
để giải quyết. Ví dụ: HĐTTTP của Việt Nam và Ba Lan có quy định như sau:
8
“1. Việc ly hôn phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà vợ chồng là công dân
vào thời điểm đưa đơn ly hôn.
2. Nếu vào thời điểm đưa đơn ly hôn, vợ chồng không phải là công dân của cùng
một nước ký kết thì pháp luật phải tuân theo là pháp luật của nước ký kết nơi họ
đang cùng thường trú hoặc đã cùng thường trú lần cuối cùng. Nếu họ không hề có
nơi thường trú chung trên lãnh thổ của một nước ký kết thì theo pháp luật của
nước ký kết có tòa án giải quyết vụ ly hôn.”
Theo quy định trên thì việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài vẫn tuân
theo Luật quốc tịch của cả vợ và chồng, trong trường hợp vợ chồng không phải là
công dân của một nước ký kết thì pháp luật phải tuân theo là pháp luật nước ký kết
nơi họ đang cùng thường trú hoặc đã cùng thường trú lần cuối cùng.
4. Việc thực thi các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về ly
hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định tương trợ tư pháp
mà Việt Nam ký kết và một số kiến nghị
4.1. Thực trạng thực thi các quy định về giải quyết xung đột pháp luật
về ly hôn theo pháp luật Việt Nam và theo các hiệp định tương trợ tư
pháp mà Việt Nam ký kết
Nghị quyết 01/2003/HĐTP do TANDTC ban hành có hướng dẫn: “Với
những trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài
nhưng người nước ngoài đã về nước mà không liên hệ với công dân Việt
Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết”. Trên
thực tế, Tòa án không phải sau khi thụ lý một vài tháng là có thể đưa ra xét
xử mà vẫn phải tiến hành điều tra, xác minh và ủy thác tư pháp, đến khi
quyết xung đột pháp luật về ly hôn theo pháp luật Việt Nam và các
hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết
Thứ nhất, khi chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài nói chung hay quan hệ dân sự về ly hôn nói riêng, chúng ta sẽ chọn hệ thống
pháp luật có quan hệ mật thiết với loại quan hệ cần giải quyết.
10
Thứ hai: Trong Tư pháp quốc tế các nước, khi chọn một hệ thống pháp luật
để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài, các luật gia thường đưa ra một
tiêu chí mà theo đó pháp luật của Tòa án là pháp luật sẽ thường xuyên được áp
dụng để giải quyết trong thực tế.
Thứ ba: Các nước đều đưa ra điều kiện để thừa nhận bản án nước ngoài, do
đó việc chọn pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước
ngoài nên tính đến việc làm thế nào để bản án của Tòa án có nhiều cơ hội được
thừa nhận ở nước ngoài nơi có một bên chủ thể ly hôn, tạo điều kiên để thực hiện
các vấn đề chia tài sản, trợ cấp cho con cái…
Thứ tư, tòa án sau khi thụ lí đơn xin ly hôn cần phải nhanh chóng tiến hành
các thủ tục cần thiết để giải quyết vụ việc, khi ủy thác tư pháp thì cần có các biện
pháp đốc thúc tòa án được ủy thác nhanh chóng xử lí vụ việc, nếu bên ủy htacs
không thực hiện thì dựa vào luật hôn nhân gia đình việt nam cũng như điều ước
quốc tế mà việt nam kí kết mà xử lí đơn ly hôn, không nên chỉ biết dựa vào kết quả
của tòa án được ủy thác tư pháp.
Thứ năm, pháp luật Việt Nam cần có thêm các quy định về vấn đề nuôi
dưỡng con chung sau khi ly hôn đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài để
giải quyết vấn đề này tỏng trường hợp các bên không thỏa thuận được.
KẾT LUẬN
Thực tế cho thấy các quan hệ hôn nhân nói chung và ly hôn có yếu
tố nước ngoài nói riêng đang dần trở thành một vấn đề phổ biến trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Việc ký kết điều ước quốc tế trong lĩnh vực
hôn nhân gia đình nói chung, ly hôn nói riêng được coi là biện pháp hữu
hiệu trong việc giải quyết xung đột pháp luật về vấn đề này. Do đó, để có
dân vào thời điểm đưa đơn.
2. Nếu vợ chồng, một người là công dân Bên ký kết này, một người là công dân
của Bên ký kết kia thì áp dụng pháp luật của Bên ký kết có cơ quan đã nhận đơn.
3. Đối với trường hợp nói tại khoản 1 Điều này, thẩm quyền giải quyết tranh chấp
thuộc cơ quan của Bên ký kết mà vợ chồng là công dân vào thời điểm đưa đơn.
Nếu vào thời điểm đưa đơn cả hai vợ chồng đều thường trú trên lãnh thổ Bên ký
kết kia, thì cơ quan của Bên ký kết kia cũng có thẩm quyền giải quyết,
4. Đối với trường hợp nói tại khoản 2 Điều này, thẩm quyền giải quyết thuộc cơ
quan của Bên ký kết nơi cả hai vợ chồng thường trú. Nếu một người thường trú
trên lãnh thổ Bên ký kết này, còn người thường trú trên lãnh thổ Bên ký kết kia, thì
cơ quan của cả hai Bên ký kết đều có thẩm quyền giải quyết.”
13