Bình luận các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài - Pdf 33

X

uất phát từ quyền dân tộc tự quyết cũng như các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã
hội khác nhau mà mỗi quốc gia đều có một hệ thống nội luật riêng. Việc xung
đột pháp luật trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là một hiện tượng phổ
biến trong tư pháp quốc tế. Thừa kế theo luật cũng là một quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài, theo đó sự xung đột trong quan hệ thừa kế này cũng không phải là ngoại lệ. Từ nhu
cầu tìm hiểu về pháp luật về thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài, nhóm chúng tôi sẽ tập
trung khai thác đề tài: “Bình luận các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết
xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài”. Hi vọng bài viết
sẽ là chìa khóa mở ra cánh của của vấn đề trên.
1.
Khái quát chung
1.1. Thừa kế, thừa kế theo luật và thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài
heo quan niệm của các nhà lập pháp Việt Nam thời phong kiến, thừa kế xuất phát
từ cụm từ “Kế tự thừa diêu”, tức là kế truyền dòng dõi để tiếp nối sự thờ cúng.
Quan niệm về thừa kế này mang đậm chất Nho giáo về đạo hiếu gia đình. Thừa kế
được hiểu như là việc tiếp nhận tài sản cũng như công việc thờ cúng tổ tiên ông bà (1). Còn
theo quan điểm của Ăng- ghen, “Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho
người còn sống”(2).
Pháp luật thừa kế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều quy định hai hình
thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Theo tinh thần của Điều 674
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, thì thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa
kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Thừa kế theo luật chỉ đặt ra khi
người chết có di sản thừa kế hợp pháp và phải thuộc một trong các trường hợp nhất định(3).
Trong điều kiện giao lưu và hợp tác quốc tế, một số quan hệ thừa kế vượt ra khỏi
phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật một quốc gia đó là những quan hệ thừa kế có
yếu tố nước ngoài. Được coi là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài khi thỏa mãn có ít
nhất một trong ba yếu tố của Điều 758 Bộ luật Dân sự năm 2005: yếu tố chủ thể, yếu tố
khách thể và yếu tố sự kiện pháp lý.
1.2. Xung đột pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài

được hiểu là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều
chỉnh một quan hệ thừa kế theo theo luật có yếu tố nước ngoài. Sự khác nhau giữa các hệ
thống pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên thế giới trong quan hệ dân sự theo
nghĩa rộng nói chung và trong quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài nói riêng là
điều không thể tránh khỏi. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể là do sự khác
biệt về thể chế chính trị- kinh tế- văn hóa- xã hội hay nhận thức, phong tục, đạo đức khác
nhau. Để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật trong quan thừa kế theo luật có yếu tố nước
ngoài này, ngoài việc các quốc gia đã cùng thỏa thuận kí kết với nhau thông qua các điều
ước quốc tế, hệ thống nội luật của các quốc gia cũng phải tạo dựng một hành lang pháp lý
để điều chỉnh vấn đề này một cách thống nhất, phù hợp với tinh thần quốc tế.
2. Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế theo luật có yếu tố nước
ngoài theo pháp luật Việt Nam
2.1. Xác định di sản thừa kế
i sản thừa kế là phần tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản trước khi chết,
bao gồm tài sản riêng của người để lại di sản và phần tài sản nằm trong khối tài
sản chung của người để lại di sản với người khác, có thể là tài sản chung của vợ
chồng, tài sản chung trong kinh doanh (4). Như vậy, di sản thừa kế là tất cả tài sản thuộc sở
hữu hợp pháp của người chết. Tài sản này sẽ được xác định theo Điều 163 và các điều luật
có liên quan trong Bộ luật Dân sự năm 2005(5).

D

Điều 12 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ hướng
dẫn Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là Nghị định số
138/2006/NĐ-CP) quy định:“Việc xác định một tài sản thuộc di sản thừa kế là bất động
sản hoặc động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có di sản thừa kế đó. Theo
thực tiễn pháp luật trên thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng, việc phân loại
di sản được dựa theo cách thức phân loại tài sản. Cách thức phân loại tài sản được sử dụng
thống nhất và thông dụng đó là phân loại tài sản dựa trên đặc tính di dời tư nhiên của tài
sản. Do đó, tài sản được phân chia thành động sản và bất động sản. Pháp luật mỗi quốc gia

mang quốc tịch tại thời điểm người đó chết, nếu người để lại di sản không cư trú tại nước
mà mình mang quốc tịch thì sẽ áp dụng theo pháp luật nước mà người đó là công dân và có
mối quan hệ gắn bó nhất (Điều 760 Bộ luật Dân sự năm 2005)(8).
Di sản là động sản không có người thừa kế sẽ thuộc về Nhà nước mà người để lại di
sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết (khoản 4 Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005).

K

Thứ hai, đối với bất động sản

6()

Ở đây, nhà làm luật định nghĩa tài sản theo phương pháp logic liệt kê; Tuy nhiên cách liệt kê này còn rất đỗi mơ hồ: Các tài
sản khác ở đây là tài sản gì? Pháp luật quy định những thứ gì là tài sản nữa? Nhà làm luật cũng không dự tính hết được những
tài sản nào khác là bất động sản bởi theo định hướng, tài sản luôn tuân theo quy luật vận động khách quan. Song cũng không
thể phủ nhận rằng cách phân loại này mang lại ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định hệ thuộc để giải quyết vấn đề
thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài.
7()

Điều 12 Nghị định số 138/2006/NĐ- quy định về Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài có chỉ rõ:
“1. Việc áp dụng pháp luật về thừa kế theo pháp luật tuân theo quy định tại Điều 767 của Bộ luật dân sự.
2. Việc xác định một tài sản thuộc di sản thừa kế là bất động sản hoặc động sản được xác định theo pháp luật của
nước nơi có di sản thừa kế đó.
3. Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài, thì
việc xác định pháp luật áp dụng về thừa kế theo pháp luật tuân theo quy định tại Điều 760 của Bộ luật dân sự, Điều 5 và khoản
1, khoản 2 Điều 12 Nghị định này”;
8()

Trong trường hợp không xác định được quốc tịch thì pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế về động sản là pháp luật của nước
mà người để lại thừa kế có nơi cư trú cuối cùng. Trong trường hợp không xác định được quốc tịch cũng như nơi cư trú cuối

này. Tuy nhiên, khoản này thường được áp dụng đối với di sản thừa kế là động sản. Do đó,
sẽ dẫn tới tình trạng lầm tưởng rằng nhà làm luật quy định phương pháp chọn luật để giải
quyết xung đột trong khoản 1, nhưng thực chất lại đưa ra căn cứ xác lập quyền thừa kế đối
với động sản. Ở khoản 2 Điều 767 quy định: “Quyền thừa kế đối với bất động sản phải
tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó”. Theo ý đồ của nhà làm luật thì
khoản 1 sẽ quy định phương pháp chọn luật để giải quyết xung đột, sau đó khoản 2 sẽ quy
định trường hợp ngoại lệ của phương pháp này, tức là sử dụng phương pháp loại trừ. Chính
việc quy định như vậy, nhiều người khi đọc điều luật này sẽ hiểu rằng: đối với bất động sản
thì áp dụng khoản 1 hay khoản 2 đều được. Đây chính là điểm không thống nhất trong cách
quy định pháp luật. Một điểm không thống nhất nữa trong việc sử dụng thuật ngữ pháp lý
đó là bất đồng trong cách hiểu giữa khoản 2 và khoản 3, khoản 4 Điều 767 này. Khoản 2 sử
9()

Ví dụ: Ông A là công dân Việt Nam, sinh sống và làm ăn tại Pháp trong một thời gian. Tại Pháp, ông A có số tài sản bao
gồm 01 mảnh đất, 01 chiếc ô tô. Năm 2008, ông về sinh sống và cư trú tại Việt Nam. Năm 2012, ông chết tại Việt Nam và
không để lại di chúc. Ông có một người hai người con trai cùng sinh sống tại Việt Nam. Hai người con yêu cầu tòa án tại Việt
Nam phân chia di sản. ( Việt Nam và Pháp chưa có hiệp định tương trợ điều chỉnh vấn đề này).
Trước hết, trong ví dụ này ta xác định tòa án Việt Nam có quyền thụ lý và giải quyết vụ việc (theo Luật tố tụng dân sự
Việt Nam). Áp dụng khoản 2 Điều 12 Nghị định 138/2006/NĐ-CP thì việcđịnh danh tài sản tại Pháp của ông A sẽ theo pháp
luật của Pháp. Theo Luật dân sự Pháp thì đất đai là bất động sản (Điều 518 Bộ luật dân sự Pháp), chiếc ô tô là động sản (theo
Điều 528 Bô luật Dân sự pháp). Căn cứ theo Điều 767 Bộ luật dân sự thì quyền thừa kế đối với mảnh đất trên lãnh thổ Pháp sẽ
phải tuân theo pháp luật Pháp, với tài sản là chiếc ô tô sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam.

4


dụng thuật ngữ “Quyền thừa kế đối với bất động sản”, tức là đề cập tới một quyền năng
của chủ thể (quyền năng này không phải là tài sản mà chỉ là cách thức lựa chọn thừa kế:
nhận hoặc không nhận). Trong khi đó, khoản 3 và khoản 4 Điều luật này lại sử dụng thuật
ngữ: “Di sản không có người thừa kế” với ngữ nghĩa là một tài sản chứ không phải nghĩa

xung đột pháp luật về xác định, định danh, xung đột khái niệm pháp lý hay còn được gọi là
xung đột kín. Điều này gây khó khăn cho việc giải quyết xung đột về thừa kế theo pháp
luật có yếu tố nước ngoài và có thể gây thiệt hại cho công dân Việt Nam có bất động sản ở
10()

Khoản 1: quy định phương pháp chọn luật để giải quyết xung đột (đưa ra căn cứ xác lập quyền thừa kế đối với động sản);
Khoản 2: đưa ra ngoại lệ của khoản 1, xác lập căn cứ xác lập quyền thừa kế đối với bất động sản;
Khoản 3: quyền đối với bất động sản không người thừa kế;
Khoản 4: quyền đối với bất động sản không người thừa kế.
11()

Giáo trình tư pháp quốc tế, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2011, trang 123.

5


nước ngoài. Tuy nhiên, hiện tượng xung đột này không gây cản trở lớn vì loại xung đột này
đã có giải pháp: “Việc xác định một tài sản thuộc di sản thừa kế là bất động sản hoặc động
sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có di sản thừa kế đó” (khoản 2 Điều 12
Nghị định số 138/2006/NĐ- CP). Điều này cho phép pháp luật Việt Nam có nhiều cơ hội
được áp dụng trong thực tế.
Về vấn đề giải quyết xung đột về thừa kế có yếu tố nước ngoài, Việt Nam có vài
điểm tương đồng và khác biệt với các nước trên thế giới. Cũng giống với các nước Anh,
Mĩ, Pháp, việc phân định di sản thành động sản và bất động sản và đối với bất động sản thì
căn cứ xác định quyền thừa kế là luật nơi có tài sản. Tuy nhiên, ở Pháp và Việt Nam khác
nhau về giải quyết xung đột pháp luật về định danh, cụ thể nội dung của bất động sản ở
Pháp được xem xét vào căn cứ trên cơ sở luật tòa án còn Việt Nam căn cứ vào nguyên tắc
luật nơi có vật. Hay so với Bồ Đào Nha, Italia và Nhật Bản, những nước không phân chia
di sản thành các loại khác nhau để giải quyết mà thống nhất giải quyết theo luật quốc tịch
của người để lại di sản thừa kế thì hoàn toàn khác với các quy định của Việt Nam về vấn

xca, Ca-lê-đô-ni, Xu-đăng, U-ru-goay,… Và trong trường hợp không xác định được quốc
tịch cũng như nơi cư trú cuối cùng, pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật về
động sản là pháp luật của Tòa án, tức là pháp luật Việt Nam. Giải pháp luân phiên này
cũng cho phép pháp luật nước ta có cơ hội được áp dụng thường xuyên.
Trong thực tiễn, khi áp dụng pháp luật của một nước do quy phạm xung đột dẫn
chiếu đến để điều chỉnh quan hệ thừa kế thì có thể xảy ra trường hợp tài sản của một công
dân, sau khi chết, không có người thừa hưởng và cũng không để lại di chúc định đoạt tài
sản. Di sản này gọi là di sản không có người thừa kế. Mỗi nước quy định khác nhau về vấn
đề này. Theo pháp luật Việt Nam, Khoản 3 và khoản 4 Điều 767 quy định khá chặt chẽ về
vấn đề này. Theo đó, di sản thừa kế nếu là bất động sản sẽ thuộc về Nhà nước có bất động
sản(13). Còn đối với di sản là động sản sẽ thuộc về Nhà nước mà trước khi chết công dân
mang quốc tịch(14).
3.3. Sửa đổi Điều 767 Bộ luật Dân sự năm 2005
Xem Phụ lục 1 bài viết trang 8.

X

ét theo hoàn cảnh nước ta hiện nay, vấn đề đầu tiên chính là phân biệt rõ di sản
gồm hai loại: động sản và bất động sản để từ đó quy định pháp luật cho từng loại
di sản. Giải quyết những vấn đề này chúng ta mới có thể ngày một hoàn thiện,
xây dựng được hệ thống hành lang pháp lý vững chắc cho pháp luật nước nhà về quan hệ
thừa kế theo luật có yếu tố nước ngoài. Cần đẩy mạnh việc giao lưu giữa các quốc gia và
xúc tiến hoạt động tương trợ tư pháp để việc áp dụng pháp luật không chỉ trong khuôn khổ
các điều ước mà còn cả trên thực tiễn.
PHỤ LỤC 1.
SỬA ĐỔI ĐIỀU 767 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Điều 767*. Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
1. Một tài sản thuộc di sản thừa kế là bất động sản hoặc động sản được xác định theo

pháp luật của nước nơi có di sản thừa kế đó(15).

có bất động sản đó.

PHỤ LỤC 2.
CÁC THỨC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ THỪA
KẾ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO CÁC HIỆP ĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP
KÍ KẾT GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC

N

guyên tắc chủ đạo trong vấn đề thừa kế được ghi nhận trong các Hiệp định này là
nguyên tắc bình đẳng giữa công dân các bên trong quan hệ thừa kế, ghi nhận các
quy phạm xung đột và quy phạm thực chất để điều chỉnh quan hệ thừa kế phát
sinh giữa công dân hai nước kí kết. Cách thức giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế
theo luật có yếu tố nước ngoài phổ biến chủ yếu dựa vào các hiệp định tương trợ tư pháp
giữa Việt Nam và các nước.
Các hiệp định điều chỉnh đến 3 vấn đề liên quan đến quan hệ thừa kế đó là:
8


Thứ nhất, xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong thừa kế
Theo các hiệp định này, dấu hiệu quốc tịch của người để lại di sản và dấu hiệu nơi
có tài sản thừa kế được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Các dấu hiệu này
được ghi nhận tại Điều 47 Hiệp định với Đức; Điều 38 Hiệp định với Liên xô cũ; Điều 38
Hiệp định với Tiệp Khắc; Điều 37 Hiệp định với Cu Ba; Điều 46 Hiệp định với Hungari;
Điều 36 Hiệp định với Bungari; Điều 43 HIệp định với Ba Lan, cụ thể như sau:
1) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản thuộc cơ quan tư pháp của
nước kí kết mà người để lại tài sản thừa kế là công dân vào thời điểm chết;
2) Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế bất động sản thuộc cơ quan tư
pháp của nước kí kết nơi có bất động sản thừa kế.
Ngoài ra trong các hiệp định tương trợ tư pháp còn quy định quy tắc thẩm quyền giải

Chọn luật để điều chỉnh thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài;
Tác giả: TS. Đỗ Văn Đại- GV Khoa luật Trường đại học AixMarseille III (Trung
tâm Aixen Provence) Cộng hoà Pháp;
Website: thongtinphapluatdansu.edu.vn;

2.

Thế nào là di sản thừa kế?;
Khuyết danh;
Website: www.luatsaithanh.com;

3.

Di sản thừa kế bao gồm những tài sản gì?;
Phạm Thị Thảo;
Website: congchunghoguom.vn;

4.

Bộ luật Dân sự năm 2005;

10


5.

Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2006 quy định chi tiết thi
hành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

6.


11.

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong tư pháp quốc; Tạp chí
Khoa học Pháp lý số 2/2003tế Việt Nam;
Đỗ Văn Đại;.

12.

Bàn về những xung đột pháp luật về thừa kế;
Bá Sơn;
Website: vietnamese-law-consultancy.com;

13.

Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp;

14.

Bàn thêm về động sản hay bất động sản;
Website: thongtinphapluat.vn;

11


15.

Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt
Nam;
Đỗ Văn Đại;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status