Bài làm:
I. Đặt vấn đề.
Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp mới xuất hiện tại Việt Nam và
chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp trong cả nước. Tuy
nhiên, tại nhiều quốc gia phát triển, công ty hợp danh là một mô hình kinh doanh đã
xuất hiện từ lâu và có một vị thế không nhỏ trong nền kinh tế. Để đảm bảo cho sự
cạnh tranh và phát triển lành mạnh của loại hình doanh nghiệp mới này, Luật Doanh
nghiệp Việt Nam 2005 đã dành toàn bộ chương V để quy định những vấn đề pháp lý
liên quan đến công ty hợp danh. Do tính chất mới mẻ của đối tượng tác động, những
quy định của Luật Doanh nghiệp chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập.
bài viết này xin được làm rõ một vài ý kiến của người viết về những ưu điểm, những
hạn chế và hướng hoàn thiện đối với các quy định về công ty hợp danh của Luật
Doanh nghiệp Việt Nam.
II. Giải quyết vấn đề.
1. Khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh.
Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến
hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng chịu trách nhiệm vô hạn về
mọi khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh hay còn gọi là công ty góp danh là loại
hình đặc trưng của công ty đối nhân, trong đó có ít nhất hai thành viên (đều là cá nhân
hoặc thương nhân) cùng tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và
cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty.
Theo Luật Doanh nghiệp 2005 quan niệm về Công ty hợp danh ở nước ta hiện
nay có một số điểm khác với cách hiểu truyền thống về công ty hợp danh. Theo đó,
công ty hợp danh được định nghĩa là một doanh nghiệp với những đặc điểm pháp lý
cơ bản sau:
- Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty cùng nhau kinh
doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp
danh, có thể có thành viên góp vốn.
1
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty.
về công ty hợp danh tại Luật Doanh nghiệp 2005.
Bổ sung hình thức công ty hợp danh vào trong hệ thống công ty tại Việt Nam
hiện nay xuất phát từ một số lý do sau:
a. sự có mặt của hai loại công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần là kịp
thời và cần thiết nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Luật Doanh nghiệp Việt
Nam phải tạo ra được thêm những mô hình doanh nghiệp phong phú, thông dụng và
phổ biến cho nhà kinh doanh được lựa chọn.
b. Công ty hợp danh có những lợi thế hơn hẳn nhiều loại hình kinh doanh khác
khiến cho nó trở nên hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh. Những lợi thế đó là:
- Về phía các đối tác, so với các công ty có chế độ trách nhiệm hữu hạn thì các
đối tác thường thích làm ăn với các công ty trách nhiệm vô hạn hơn do ở chỗ, trong
các công ty vô hạn, các thành viên chịu mọi trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
không chỉ bằng tài sản công ty mà còn bằng tài sản của cá nhân mình.
- Về phía mình, các chủ của công ty hợp danh cũng tìm thấy khá nhiều lợi thế
của loại công ty này, đó là: do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn, chủ công ty có nhiều
khả năng được ngân hàng cho vay vốn hoặc hoãn nợ.
- Công ty hợp danh có cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, ít chịu sự ràng buộc
của pháp luật. Pháp luật dành quyền rộng rãi cho cho các thành viên thảo thuận với
nhau về việc tổ chức, điều hành, đại diện của công ty.
c. Trong thực tiễn cuộc sống, dù có được pháp luật nhìn nhận hay không thì
dưới dạng này hay dạng khác, công ty hợp danh vẫn tồn tại. Vì vậy, nếu không đưa
công ty hợp danh vào hệ thống doanh nghiệp tại Việt Nam là khoác cho nó một “cái
áo” pháp lý thì khi có tranh chấp, rất khó giải quyết hậu quả. Các chủ nợ sẽ không biết
phải kiện tới đâu nếu chẳng may con nợ trốn tránh nghĩa vụ, những người làm công
tác thừa hành pháp luật sẽ rất lúng túng không biết giải quyết tranh chấp theo hướng
nào, xử lý tranh chấp ra sao, áp dụng mô hình doanh nghiệp nào. Điều đó tất yếu sẽ
3
dẫn đến hiện tượng công dân mất long tin ở pháp luật của nhà nước và tạo môi trường
cho “luật rừng” phát triển, không đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
d. Trong điều kiện hiện này, khi các doanh nghiệp vừa thiếu vốn, ít kinh nghiệm
+ Một trong những quyền không kém phần quan trọng của các công ty hợp
danh là quyền được bình đẳng trước pháp luật.
Đặc điểm của cơ chế thị trường là tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh trong
khuôn khổ pháp luật. Tuy nhiên, sẽ không có được trên thực tế các quyền tự do đó nếu
như thiếu các tiền đề đảm bảo cho chúng được thực hiện. Một trong số những tiền đề
đó là quyền của các chủ thể kinh doanh được đối xử bình đẳng với nhau trước pháp
luật. Rõ ràng, sẽ không có sự cạnh tranh thực sự - động lực của sự phát triển kinh tế
nếu có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp với nhau trước pháp luật.
Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là trong những điều kiện và hoàn cảnh như nhau,
các doanh nghiệp đều có những cơ hội và khả năng hành động như nhau.
- Ưu điểm thứ ba của các quy định Luật Doanh nghiệp về công ty hợp danh là ở
chỗ, tập hợp các quy định này không chỉ tạo ra động lực cho sự hoạt động có hiệu quả
của công ty hợp danh mà còn thiết kế được nhiều cơ chế được nhiều cơ chế nhằm tăng
cường trách nhiệm của các thành viên hợp danh với công ty hợp danh. một trong
những cơ chế hữu hiệu là quy định về chấm dứt tư cách thành viên hợp danh.
b. Những điểm hạn chế và hướng hoàn thiện các quy định của Luật Doanh
nghiệp về công ty hợp danh.
b.1. Về quy định thành lập công ty hợp danh.
Luật Doanh nghiệp đã cho phép các nhà đầu tư có thể thành lập công ty hợp
danh nhưng lại quy định phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên
hợp danh có thể có các thành viên góp vốn.
Trong khi đó, luật cũng quy định thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình
độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của công ty, còn thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. Như vậy, từ những phân
tích trên, trong công ty hợp danh có cả thành viên góp vốn chỉ cần có một thành viên
5
hợp danh và một thành viên góp vốn là đủ đọ tin cậy đối với các đối tác khác của công
ty.
b.2. Tư cách pháp nhân của thành viên hợp danh.
diện. Số lượng thành viên hợp danh trong công ty hợp danh rất ít. Đặc biệt, theo quy
định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, mô hình công ty hợp danh ở Việt Nam là mô
hình đóng kín giữa những thân hữu có thể tin tưởng lẫn nhau. Một thành viên có
quyền đại diện cho các thành viên còn lại trong việc ký kết giao dịch với bên thứ ba
mà không gặp trở ngại nào.
Đối chiếu với lợi ích thứ hai, khác với các loại hình công ty cổ phần hay công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh trong trường hợp gặp sự cố đối với thành viên
hợp danh thì có thể chấm dứt sự tồn tại của nó. Chẳng hạn, nếu công ty hợp danh chỉ
có hai thành viên hợp danh mà một người đột ngột qua đời thì công ty hợp danh đứng
trước nguy cơ giải thế rất cao nếu thành viên còn lại không tìm được người để tiếp tục
hợp danh.
* Dưới góc độ lợi ích của thành viên hợp danh.
Xét từ góc độ lợi ích của thành viên hợp danh, thì sự tồn tại của tư cách pháp
nhân của công ty hợp danh và chế độ chịu trách nhiệm vô hạn không mang lại lợi ích
lớn. ở một chừng mực nào đó, nó còn là sự cản trở.
Ở hầu hết các nước, do việc xác định hợp danh là sự liên kết của hai hay nhiều
người cùng hùn vốn, tạo tài sản chung, chia sẻ quyền điều hành, cùng chịu lỗ hưởng
lãi nên pháp luật đề cao sự thỏa thuận, không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh. Với
điều kiện như vậy, pháp luật nhiều nước không đánh thuế thu nhập đối với công ty
hợp danh, từng thành viên chịu thuế với phần thu nhập cá nhân của riêng mình. Lợi
ích của những cá nhân tham gia vào hợp danh thông thường là những cá nhân này sẽ
không phải chịu thuế hai lần. Khác với loại hình hợp danh ở các nước khác, công ty
hợp danh ở Việt Nam do có tư cách pháp nhân nên đương nhiên phải chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp. Khoản lợi nhuận sau thuế chia cho thành viên hợp danh có thể sẽ
bị đánh thuế một lần nữa. Lợi ích của các thành viên rõ ràng là bị ảnh hưởng lớn,
7
trong khi họ đồng thời phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công
ty.
Trong một nỗ lực giải quyết tính kém hấp dẫn của mô hình công ty hợp danh,
Dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định thành viên hợp danh không phải nộp
như vậy quyền lợi của các bên liên đới mới có thể được đảm bảo đầy đủ.
b.5. Vấn đề trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của thành viên hợp danh.
Pháp luật nên có quy định thành viên hợp danh trong một số lĩnh vực nhất định
phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp như: tư vấn pháp lý, khám
chữa bệnh, công ty kiểm toán…
Trong công ty hợp danh, trách nhiệm cá nhân của thành viên hợp danh đòi hỏi
rất cao, buộc họ phải ý thức trách nhiệm và tính cẩn trọng cao nhất trong việc đảm bảo
chất lượng dịch vụ.
Thực tế cho thấy mấy năm vừa qua, trong cơ chế thị trường, một số loại hình tư
vấn pháp lý, khám chữa bệnh, công ty kiểm toán…đã và đang phát triển dưới nhiều
hình thức khác nhau. Đây là những loại hình dịch vụ mà người tiêu dung khó có thể
kiẻm tra chất lượng cung cấp dịch vụ, nhưng nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của
người sử dụng dịch vụ. kinh nghiệm cho thấy ở các nước, họ quy định những ngành
nghề bắt buộc phải thành lập công ty hợp danh như: luật sư, kiểm toán, bác sĩ…và quy
định 2 điều kiện cơ bản để được kinh doanh dịch vụ này nhằm đảm bảo chất lượng
cho người sử dụng dịch vụ, bao gồm:
- cá nhân cung cấp dịch vụ phải có trình độ chuyên môn.
- Hình thức kinh doanh phải là công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.
Chính vì vậy, việc quy định những ngành nghề trên nếu muốn hoạt động kinh
doanh dịch vụ phải thành lập công ty hợp danh là rất cần thiết. bởi tính chịu trách
nhiệm của loại hình công ty này là điều kiện để cung cấp dịch vụ sẽ đảm bảo chất
lượng cho người tiêu dùng, đồng thời còn góp phần cho cơ quan quản lý nhà nước và
cơ quan chuyên ngành dễ dàng theo dõi và giám sát các hoạt động của công ty cung
ứng các loại hình dịch vụ này, hạn chế những thiệt hại nghiêm trọng có thể xảy ra,
đảm bảo lợi ích cho mọi công dân.
9
b.6. Vấn đề quản lý và thực hiện hoạt động của công ty hợp danh.
Điểm a, khoản 2, Điều 134 quy định:
“2. Thành viên hợp danh có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tiến hành quản lý và thực hiện công việc kinh doanh một cách trung thực,
phát hành trái phiếu. Luật Doanh nghiệp nên củng cố thêm cơ sở pháp lí cho hoạt
động này, vừa đảm bảo cho người mua chứng khoán của công ty, vừa giúp công ty có
thêm được vốn để hoạt động kinh doanh và đồng thời đem lại nguồn thu cho nhà
nước.
b.8. về vấn đề tổ chức lại công ty hợp danh.
tổ chức lại doanh nghiệp nói chung và tổ chức lại công ty hợp danh nói riêng là
vấn đề đã được thực tiễn đặt ra từ lâu nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 chưa có điều
nào quy định về việc giải quyết vấn đề này. Điều đó đã gây khó khăn cho việc cơ cấu
lại nền kinh tế, cơ cấu lại, cải tổ, đổi mới hoặc loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém,
trì trệ, thua lỗ kéo dài để làm lành mạnh nền kinh tế. Khắc phục tình trạng này, Luật
Doanh nghiệp đã có quy định về việc chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn sang
công ty cổ phần hoặc ngược lại và chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, song không có một điều khoản nào quy định việc chuyển đổi công ty dành cho
công ty hợp danh, mặc dù Luật Doanh nghiệp thừa nhận công ty hợp danh là một loại
hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, nhà đầu tư cũng có thể có nhu cầu chuyển
đổi trong trường hợp sau đây:
- Công ty hợp danh sang công ty trách nhiệm hữu hạn.
Trong trường hợp này, các thành viên hợp danh chỉ việc chuyển đổi trách nhiệm
của mình từ trách nhiệm vô hạn sang hữu hạn.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty hợp danh.
(Ở đây thì nghĩa vụ ngược lại trường hợp ở trên)
- Công ty hợp danh sang doanh nghiệp tư nhân.
thiết nghĩ đây là một trong những trường hợp mà cần dự liệu và quy định cụ
thể. VD: Nếu một công ty hợp danh được thành lập từ hai thành viên hợp danh A và
B. Trong khi công ty đang làm ăn phát đạt chẳng may B chết, nếu trong thời gian quy
11
định mà A không tìm được một thành viên khác thay thế B, như vậy công ty buộc phái
giải thể.
- Doanh nghiệp tư nhân sang công ty hợp danh.
Bởi vậy, Luật Doanh nghiệp cần có những quy định đầy đủ và rõ ràng hơn về