MỞ ĐẦU
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đó là việc
mở rộng dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân.Xuất phát từ bản chất tốt đẹp của nhà nước ta, đó là nhà
nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Chính vì thế hiến pháp năm 1992
đã dành cả một chương quy định về các quyền cơ bản của công dân, bao gồm
quyền chính trị, văn hóa xã hội, quyền nhân thân, về tài sản, quyền tự do kinh
doanh… và đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo.Khiếu nại, tố cáo là biểu hiện cụ thể
của nề dân chủ XHCN – một nền dân chủ đích thực mà ở đó công dân là chủ thể
tối cao của Nhà nước trong đó tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
đều cần phải được bảo đảm thực hiện, mội hành vi vi phạm pháp luật bất cứ cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng đều bị dư luận lên án mà cao hơn là sự phản ánh
của công dân, những người làm chủ thực sự của nền dân chủ đó. Sự phản ứng đó
được thể hiện thông qua hành vi khiếu nại, tố cáo mà Nhà nước trao cho họ.Để
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được phát huy hơn thì nhà nước cần có chính
sách để bảo vệ những người tố cáo.Chính vì vậy em chọn đề bài: “Phân tích các
quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố cáo và nêu ý nghĩa của
các quy định này”
NỘI DUNG
1. Quyền tố cáo cáo của công dân
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Tố cáo được quan niệm khác nhau tuỳ theo mức độ, phạm vi, đối tượng tố cáo.
Về phương diện xã hội thì tố cáo thể hiện sự bất bình của người này đối với hành
vi của người khác và báo cho cơ quan, tổ chức và người khác biết để có thái độ,
biện pháp giải quyết. Về phương diện chính trị - pháp lý, thì tố cáo là một quyền
của công dân, là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, là một chế
định của nền dân chủ, thông qua đó để công dân giám sát hoạt động của bộ máy
cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất
cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, giải
quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý kịp
thời nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và
phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng
quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta quy định: người nào có một
trong các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc
xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo thì
bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến
ba năm. Người nào trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị cải tạo không giam giữ
đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. Người phạm tội còn có thể bị
cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.
Luật tố cáo, lần đầu tiên được quốc hội thông qua ngày 11/11/2011, có hiệu lực
thi hành ngày 01/7/2012 đã dành hẳn 01 chương (Chương V: từ Điều 34 đến Điều
40) để quy định về bảo vệ người tố cáo. Trong đó, Điều 34 của Luật quy định việc
bảo vệ người tố cáo được thực hiện tại tất cả những nơi có thể ảnh hưởng đến
người tố cáo, bao gồm: nơi cư trú, công tác, làm việc, học tập, nơi có tài sản của
người cần được bảo vệ hoặc những nơi khác do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Cũng theo quy định của Điều này, đối tượng bảo vệ không chỉ có người tố cáo mà
còn cả những người thân thích của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, bố
mẹ, anh em ruột thịt ; thời hạn bảo vệ do cơ quan có thẩm quyền quyết định tuỳ
thuộc vào tình hình thực tế của từng vụ việc, mức độ, tính chất của hành vi xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng cần được bảo vệ. Luật xác định
trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về người giải quyết tố cáo;
đồng thời, cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ và
các nội dung cơ bản về bảo vệ người tố cáo như bảo vệ bí mật thông tin; bảo vệ tại
nơi công tác, nơi làm việc, nơi cư trú; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự,
dụng biện pháp bảo vệ. Trong quá trình giải quyết tố cáo nếu có căn cứ cho thấy có
nguy cơ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người tố cáo, người thân thích
của người tố cáo (gọi chung là người được bảo vệ) thì người giải quyết tố cáo có
trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an nơi người được bảo vệ cư
trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng
biện pháp bảo vệ và thông báo cho người được bảo vệ biết.
Bốn là, về bảo vệ tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo:
Khi có căn cứ cho rằng, việc tố cáo có thể xâm hại đến tài sản của mình hoặc
người thân thích của mình, người tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo,
cơ quan công an nơi có tài sản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền
áp dụng biện pháp bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết tố cáo nếu xét thấy có nguy cơ xâm hại đến tài sản của
người được bảo vệ, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng theo thẩm
quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ và thông báo
cho người được bảo vệ về tài sản biết.
Trường hợp xác định hành vi xâm hại tài sản đang xảy ra hoặc có thể xảy ra ngay
tức khắc, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, người có
thẩm quyền giải quyết tố cáo chỉ đạo, phối hợp với cơ quan công an nơi có tài sản
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền thực hiện biện pháp bảo vệ.
Năm là, về bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của
người tố cáo, người thân thích của người tố cáo:
Khi có căn cứ cho rằng, việc tố cáo có thể xâm hại đến uy tín, danh dự, nhân
phẩm hoặc các quyền nhân thân khác của mình, người thân thích của mình, người
tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an nơi người tố cáo,
người thân thích của người tố cáo cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Căn cứ vào tính chất, mức
độ của hành vi vi phạm, người có thẩm quyền bảo vệ áp dụng các biện pháp bảo vệ
sau đây:
- Yêu cầu người có hành vi xâm hại chấm dứt hành vi vi phạm và buộc xin lỗi, cải
chính công khai;
là 05 ngày làm việc. Trường hợp thấy yêu cầu của người tố cáo là chính đáng thì
chậm nhất trong thời gian 03 ngày làm việc, người có thẩm quyền bảo vệ phải áp
dụng các biện pháp theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền áp dụng
biện pháp để bảo vệ sau đây:
- Yêu cầu người sử dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm; khôi phục vị trí công
tác, việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người
được bảo vệ;
- Kiến nghị người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Ý nghĩa các quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo
KẾT LUẬN
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng công tác giải quyết tố cáo nói
chung, bảo vệ người tố cáo nói riêng, từ việc ban hành nhiều chủ trương, chính
sách pháp luật trong lĩnh vực này và xác định việc bảo vệ người tố cáo là trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề liên quan đến việc
triển khai thực hiện những quy định định này cần tiếp tục được cụ thể hóa một
cách rõ ràng, mạch lạc để đảm bảo tính khả thi trên thực tế. Trong khuôn khổ của
bài viết này, chúng tôi mới chỉ mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị để bạn đọc quan
tâm, cùng tham khảo và góp ý hoàn thiện hơn. Hy vọng rằng một số nội dung hiện
hành về bảo vệ người tố cáo và một số kiến nghị ban đầu đúc rút từ những kinh
nghiệm thực tế trong giải quyết tố cáo, bảo vệ người tố cáo sẽ là một trong những
nguồn tài liệu để bạn đọc và đồng nghiệp cùng trao đổi, tham khảo, kiến nghị vận
dụng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.