Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** Hoàng Nguyên Bình
Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà nội – 2006

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI
7
1. Lƣợc sử phát triển vấn đề con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài trong pháp
luật Việt Nam
7
1.1 Giai đoạn trước năm 1986
9
1.2 Giai đoạn sau năm 1986 – 2003
10
1.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
16
2. Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
17
2.1 Khái niệm chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
17
2.2 Vị trí, vai trò của chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
20
3. Pháp luật Việt Nam và điều ƣớc quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố
nƣớc ngoài
21
3.1 Pháp luật Việt Nam
21
3.1.1 Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
22
3.1.2. Điều kiện nhận nuôi con nuôi
24

62
1.1. Tình hình chung
62
1.2. Những kết quả đạt đƣợc trong thời gian vừa qua
65
1.3. Những tồn tại, vƣớng mắc cần phải tháo gỡ
68
1.3.1. Đối tượng trẻ em được làm con nuôi
68
1.3.2. Những vướng mắc về thủ tục, hồ sơ, giấy tờ
69
1.3.3. Tình trạng tồn đọng hồ sơ
72
1.3.4. Thẩm quyền của Cục con nuôi quốc tế Bộ Tư pháp
73
1.3.5. Tính minh bạch trong tài chính
73
1.3.6. Hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt
Nam
74
1.3.7. Sự phối hợp giữa các cơ quan chưa có hiệu quả cao
77
1.3.8. Hiện tượng môi giới vẫn còn tồn tại
77
1.3.9. Chưa có tổ chức con nuôi trong nước
78
1.4. Đánh giá việc thực thi các điều ƣớc quốc tế về nuôi con nuôi có yếu
nƣớc ngoài
78
1.4.1 Tình hình ký kết các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi giữa

89
1. KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG
TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG CHẾ ĐỊNH CON NUÔI CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI
89
1.1. Sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật về vấn đề con nuôi nƣớc ngoài
90
1.1.1 Soạn thảo và ban hành Luật nuôi con nuôi
90
1.1.2 Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan
93
1.1.3 Xây dựng cơ chế tài chính rõ ràng, minh bạch
95
1.2. Hoàn thiện về cơ cấu tổ choc
95
1.2.1 Tăng cường năng lực cho Cục con nuôi – Bộ Tư pháp trong
việc xử lý, giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi quốc tế.
95
1.2.2 Tăng cường năng lực cho Sở Tư pháp và các cơ sở nuôi dưỡng
trong lĩnh vực con nuôi có yếu tố nước ngoài
97
1.2.3 Tiêu chuẩn hóa các cơ sở nuôi dưỡng được phép cho trẻ em làm
con nuôi
97
1.2.4 Cho phép tổ chức trong nước hoạt động trong lĩnh vực con nuôi
có yếu tố nước ngoài
98 2. TIẾN HÀNH KÝ KẾT CÔNG ƢỚC LA HAY 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM

21
Hộp số 1.5: Vai trò và MQH theo quy định của pháp luật của các cơ quan
quản lý Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
41
Hộp số 2.1: Đứa con nuôi và cuộc gặp mặt của hai người Mỹ
64
Hộp số 2.2: Người Canada chúng tôi
66
Hộp số 2.3: Số lượng văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam
67
Hộp số 2.4: Bỏ con vì lỡ lầm, nghèo khó
71
Hộp số 2.5: Địa bàn hoạt động của các văn phòng con nuôi nước ngoài tại VN
76
Hộp số 2.6: Hiện tượng môi giới con nuôi nước ngoài
77
Hộp số 2.7: Đức và Việt Nam thống nhất về hiệp định cho và nhận con nuôi
80
Hộp số 3.1: Vấn đề Việt Nam gia nhập công ước La Hay 1993
101
CHỮ VIẾT TẮT CP Chính phủ
HNGĐ Hôn nhân gia đình
HĐTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp
HĐNN Hội Đồng Nhà nước

pháp và hiệp định về nuôi con nuôi cũng gia tăng về số lượng và đang hướng tới
việc gia nhập công ước đa phương về lĩnh vực này. 2
Thứ hai, số lượng trẻ em Việt Nam làm con nuôi nước ngoài có tăng, đồng
thời quy trình xin được quy định chặt chẽ hơn tránh được những hiện tượng trục lợi,
cò mồi, đảm bảo tính nhân đạo và nghiêm minh của pháp luật.

181
432
1233
1584
1695
1576
1860
1474
1229
1127
1392
807
0
500
1000
1500
2000
1991 1992 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
SL con nuôi

Qua biểu đồ trên cho thấy, số lượng trẻ em làm con nuôi cho người nước

và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống chế định nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài tại Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham
gia trong lĩnh vực này, cũng như xác định rõ cơ chế điều chỉnh mối quan hệ này trở
thành vấn đề cấp thiết.
Với những căn cứ thực tiễn và khoa học nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật quốc tế.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thực ra vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được khá nhiều nhà lý
luận và hoạt động thực tiễn nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Có những luận
án tiến sĩ luật học, chẳng hạn như luận án “Pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài” của tác giả Nguyễn Công Khanh hoặc luận án tiến sĩ “Pháp luật
điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài” của tác giả Nguyễn Hồng Bắc.
Luận văn thạc sĩ chẳng hạn như luận văn của tác giả Nguyễn Phương Lan nghiên 4
cứu về “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nuôi con nuôi theo quy định của
pháp luật Việt Nam”; luận văn “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài hướng tới gia nhập Công ước La Hay 1993” của tác giả Đào Thị
Thu Hường. Gần đây nhất, Bộ Tư pháp đã nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học
cấp bộ “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu
gia nhập công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế”. Ngoài ra, Bộ Tư pháp, Cục con nuôi quốc tế còn tổ chức
các cuộc hội thảo xoay quanh vấn đề này như Hội thảo hoàn thiện pháp luật Việt
Nam hướng tới gia nhập Công ước La Hay; Hội thảo Gia nhập Công ước La Hay
với việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi (tháng 9/2006). Một số bài báo
chuyên khảo của các tác giả đăng trên các tạp chí như Dân chủ và pháp luật, Luật
học, Nghiên cứu lập pháp… Mặc dù các công trình trên cũng đề cập tới vấn đề nuôi

- So sánh, đánh giá, phân tích pháp luật của một số nước trên thế giới
về con nuôi có yếu tố nước ngoài;
- Phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn và pháp luật hiện hành trong
vấn đề con nuôi có yếu tố nước ngoài;
- Đề xuất giải pháp, đóng góp ý kiến về việc hoàn thiện pháp luật con
nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở lý luận
- Đường lối, chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề
con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Các văn bản pháp luật về con nuôi có yếu tố nước ngoài: Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000, Nghị định 68/2002/NĐ-CP
- Các vụ việc thực tiễn về con nuôi có yếu tố nước ngoài
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 6
* Phương pháp luận: Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp so sánh: Đề tài tìm hiểu và so sánh các vấn đề liên quan
với pháp luật một số nước để khẳng định những điểm chung, những điểm khác biệt
và tìm kiếm những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam
- Phương pháp điều tra xã hội học (PRA): Để đánh giá được toàn diện,
khách quan và trung thực, đề tài cũng sẽ tiến hành phỏng vấn, thu thập số liệu tại
một số tỉnh có trẻ em làm con nuôi người nước ngoài
- Phân tích tổng hợp số liệu: trên cơ sở điều tra, khảo sát và nghiên cứu
các tài liệu có sẵn, tác giả sẽ phân tích, tổng hợp và phác thảo ra một bức tranh tổng
quát về vấn đề con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, để
có một bức tranh tổng thể và toàn diện về vấn đề này thì cần đầu tư thời gian và

điều 290, 380 và 381 Bộ luật Hồng Đức và các đoạn 92, 110, 254, 057, 70 và 271
Hồng Đức Thiện Chính Thư.
Khi xem xét bác chính sách cũng như các văn bản pháp luật của Việt Nam,
dường như chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mới được nói đến trong
thời gian gần đây. Cụ thể có thể chia thành các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: trước năm 1986, đây là giai đoạn trước khi ban hành
Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 1986
- Giai đoạn 2: từ năm 1986 đến năm 2003, đây là giai đoạn ban hành
Luật HNGĐ 2000, thay thế luật HNGĐ năm 1986 với những quy định chi tiết và rõ
ràng hơn về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Giai đoạn 3: từ năm 2003 đến nay. Việc lựa chọn thời điểm năm 2003
là thời điểm Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật HNGĐ về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài
chính thức có hiệu lực. Trong giai đoạn này, chính sách về vấn đề con nuôi có yếu
tố nước ngoài có những thay đổi so với giai đoạn trước (Hộp số 1.1).
8

Hộp số: 1.1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH NUÔI CON NUÔI
NHỮNG MỐC VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUAN TRỌNG


1940
1950
1960
1970
1980
1990
2000
Ban hành Luật HNGĐ (1959)
2005
Ban hành Luật hôn nhân và gia đình (1986)
Ban hành Quyết định số 145/HĐBT quy định tạm thời về việc cho
người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị bỏ rơi, mồ côi,
bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng (1992)
Ban hành pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài (1993)
Ban hành Nghị định số 184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con
ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và
người nước ngoài (1994)
Ban hành thông tư liên bộ số 503/TT-LB hướng dẫn chi tiết thi hành
Nghị định 184/CP của Chính phủ (1995)
Ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật HNGĐ năm 2000 về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước
ngoài (2002)
Ban hành Luật Hôn nhân và gia đình (2000)

kế, thờ tự, chăm sóc mà dần tiếp cận với quan điểm của pháp luật hiện đại là việc 10
nhận con nuôi hay chấm dứt con nuôi đều xuất phát từ lợi ích của người được nhận
làm con nuôi.
Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi (Điều 9)
Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con
nuôi, con riêng (Điều 18)
Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ.
Việc nhận nuôi con nuôi phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người
nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.
Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc
bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu, vì lợi ích của người con nuôi (Điều 24)
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng trong giai đoạn này, khi cả nước đang
dồn sức cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và ngay
sau đó toàn Đảng, toàn dân lại hướng tới một mục tiêu vô cùng to lớn đó là: “giai
đoạn cả nước độc lập thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ
nghĩa xã hội” (Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4 của Đảng) cho nên
vấn đề con nuôi, đặc biệt là con nuôi có yếu tố nước ngoài chưa được quan tâm
đúng mức, mặc dù lúc bấy giờ trong xã hội nhu cầu không phải là không có. Luật
HNGĐ năm 1959 nói riêng và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
cũng chưa đề cập một cách cụ thể, chi tiết tới vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài.
1.2. Giai đoạn sau năm 1986 – 2003
Do có sự tác động khách quan và chủ quan, trong giai đoạn này Việt Nam đã
có những bước tiến bộ vượt bậc trong công tác xây dựng khung pháp luật về vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Cụ thể là: Luật HNGĐ năm 1986, Luật bảo vệ,

hệ này mở rộng đối với người nước ngoài thuộc nhiều quốc gia với chế độ chính trị
khác nhau. Trong các quan hệ dân sự thì quan hệ hôn nhân với người nước ngoài và
quan hệ nuôi con nuôi với người nước ngoài ngày càng phát triển.
Như chúng ta đã biết, trong giai đoạn trước đó, pháp luật Việt Nam chưa quy
định cụ thể việc cho và nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, cho đến ngày
29/12/1986 Luật HNGĐ mới được Quốc hội thông qua thay thế Luật HNGĐ năm
1959. Lần đầu tiên có một chương riêng quy định về việc nuôi con nuôi và đưa ra
những nguyên tắc chung nhất về nuôi con nuôi như mục đích của việc nuôi con
nuôi, điều kiện nhận nuôi con
nuôi, thẩm quyền đăng ký
việc nuôi con nuôi Tuy
nhiên, Luật HNGĐ năm 1986
chưa có quy định cụ thể về
quan hệ hôn nhân gia đình có
yếu tố nước ngoài nói chung
và quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài nói riêng,
mà dành thẩm quyền quy
định những vấn đề này cho
Hội đồng Nhà nước (nay là
Chính phủ). Chính vì vậy, 12
mặc dù đã có những quy định chi tiết rõ ràng hơn so với trước đây nhưng việc giải
quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài gặp không ít khó khăn
và bất cập (xem hộp số: 1.2) ví dụ :
- sự áp dụng và đường hướng giải quyết của các địa phương về vấn đề cho trẻ
em làm con nuôi người nước ngoài là rất khác nhau;
- do không quản lý và không quản lý chặt chẽ được nên hiện tượng cò mồi,

tạm thời 145, ngày 2 tháng 12 năm 1993, HĐNN (nay là Chính phủ) đã ban hành
pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Pháp lệnh đã quy
định các điều kiện cụ thể đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con
nuôi, quy định nghĩa vụ của người) nuôi con nuôi phải cung cấp thông tin về tình
trạng phát triển của con nuôi; thẩm quyền quyết định cho con nuôi; thủ tục xin con
nuôi Tiếp sau đó, ngày 30/11/1994 Chính phủ (CP) ban hành Nghị định số
184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ
đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất
cho công tác giải quyết trẻ em làm con nuôi nước ngoài. Để hỗ trợ cho các địa
phương trong việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, Bộ Tư
pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội Vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành thông tư liên bộ
số 503/TT-LB ngày 25/5/1995 hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 184/CP của
Chính phủ. Bên cạnh đó, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành
Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 1 năm 1998 hướng dẫn áp dụng một số
quy định của Luật HNGĐ năm 1986, trong đó giải thích việc áp dụng đồng nhất chế
độ pháp lý của con nuôi như chế độ pháp lý của con đẻ, liên quan đến quyền thừa kế
của con nuôi.
Trong giai đoạn này việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Việt
Nam trong lĩnh vực HNGĐ nói chung và vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
nói riêng đã đạt được những bước tiến dài. Từ năm 1993 đến năm 1995 Việt Nam
liên tục ban hành những văn bản pháp lý quan trọng về vấn đề nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài. Có thể nói rằng, giai đoạn này đánh dấu sự hoàn thiện của chế định
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Sự hoàn thiện và phát triển này bởi các lý do
sau : 14
Biu s: 1.2
S tr em Vit Nam lm con nuụi cỏc nc t 1998-2003
Hoa Kỳ,

nc ngoi thỡ bt buc phi dn hon thin phỏp lut v nuụi con nuụi cú yu t
nc ngoi.
Thc t ó cho thy, cựng vi vic hon thin chớnh sỏch, phỏp lut v con
nuụi cú yu t nc ngoi thỡ s lng tr em c ngi nc ngoi nhn lm con
nuụi cng tng lờn theo cp s nhõn. C th l: t nm 1990 n ht nm 1992 ch
cú 673 tr em c ngi nc ngoi nhn lm con nuụi. Nhng n giai on
1993 n nm 2003 ó cú 14.615 tr em cho lm con nuụn ngi nc ngoi (xem
biu s 1.2).
Qua biu trờn cho thy, trong s cỏc nc nhn tr em Vit Nam lm con nuụi,
Hoa K v Phỏp l
nc dn u v s
lng tr em Vit Nam
c nhn lm con
nuụi, tip theo ú l
Thu in v c.
iu ny cho thy cỏc
nc phỏt trin rt quan
tõm ti v mong mun 15
nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
Việc tăng số lượng trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài trong giai
đoạn này phải kể đến những quy định được coi là hết sức “thông thoáng” của Nghị
định 184/CP. Theo quy định của Nghị định, việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam là
con nuôi người nước ngoài được thực hiện từ ba nguồn cơ bản: cơ sở nuôi dưỡng,
cơ sở y tế và gia đình đã tạo cơ hội cho người nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam,
liên hệ tìm kiếm trẻ em có đủ điều kiện và phù hợp với nguyện vọng của mình để
xin nhận con nuôi một cách nhanh chóng.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện Pháp lệnh, Nghị định 184/CP và các văn bản

nước ngoài và đặc biệt với những quy định hiện hành, chúng ta đã dần tiếp cận với
những quy định của thế giới về vấn đề này. Những điểm mới của Nghị định 68/CP
so với trước kia đó là:
Thứ nhất, đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi: Theo quy định của Nghị
định chỉ có hai đối tượng có thể cho làm con nuôi người nước ngoài đó là:
- trẻ em đang sống tại Cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại
các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, và
- trẻ em sống tâi gia đình thuộc diện mồ côi, tàn tật hoặc có quan hệ họ
hàng, thân thích với người xin con nuôi.
Thứ hai, về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi: tiếp tục tái khẳng định
việc gi6i quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài trên tinh thần
nhân đạo, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản
của trẻ em. Quan trọng hơn, Nghị định đã chỉ rõ rằng chỉ giải quyết cho trẻ em Việt
Nam làm con nuôi tại nước mà nước đó với Việt Nam đã ký kết hoặc cùng gia nhập
điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với Việt Nam. Trường hợp ngoại lệ chỉ
giải quyết nếu người nước ngoài đã có thời gian sinh sống tại Việt Nam ít nhất 6
tháng trở lên xin nhận đích danh con nuôi là trẻ em đang sinh sống tại gia đình
thuộc trường hợp mồ côi, tàn tật hoặc có quan hệ họ hàng, thân thích với người xin
nhận con nuôi. Đây là quy định hoàn toàn mới, thực sự giúp cho Nhà nước quản lý
tốt hơn hoạt động xin con nuôi của người nước ngoài, khắc phục những tồn tại, bất
cập của Nghị định 184/CP. Nhưng chính quy định này cũng gây không ít những trở 17
ngại, khó khăn cho việc giải quyết trẻ em làm con nuôi người nước ngoài sẽ được
phân tích trong phần sau.
Thứ Ba, cho phép tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam:
Quy định này thực chất là hợp pháp hoá cho những hoạt động được coi là “ngầm”,
“bất hợp pháp” của các văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài, các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài tại Việt Nam. Đặc biệt là đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội.

thẩm quyền của các quốc gia đó để đảm bảo việc bảo vệ trẻ
em và thực hiện các mục đích khác của Công ước.
(Điều 6,7 Công ước La Hay 1993) 18
2. Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
2.1 Khái niệm chế định nuôi con nuôi có yếu tố nƣớc ngoài
Theo quan điểm chung, “nuôi con nuôi” được hiểu là việc cho trẻ em đi làm
con nuôi ở gia đình khác trong cùng một nước hoặc ở nước ngoài, nhằm xác lập
mối quan hệ cha mẹ và con, giữa người nuôi với người nuôi với mục đích bảo đảm
cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo
dục phù hợp với đạo đức xã hội. Như vậy có thể thấy rằng, “nuôi con nuôi” là một
phạm trù mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.
Cùng với sự phát triển của xã hội, việc cho con nuôi không chỉ dừng lại ở
phạm vi trong nước mà đã mở rộng ra phạm vi “có yếu tố nước ngoài”. Nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài là loại hình nuôi con nuôi mà trẻ em có thể không còn ở
nước gốc và người nhận trẻ em làm con nuôi là người nước ngoài. Tuy nhiên, về
mặt nguyên tắc thì con nuôi trong nước hay con nuôi cho người nước ngoài đều
phải thực hiện trên tinh thần “nhân đạo, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em và
tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em” điều đó có nghĩa là tìm cho trẻ em một mái
ấm gia đình chứ không phải tìm “cho gia đình một đứa trẻ”.
Như chúng ta đã biết, vấn đề con nuôi là một vấn đề xã hội hết sức nhạy cảm
và mang tính nhân đạo sâu sắc. Việc nuôi con nuôi không chỉ là một biện pháp phúc
lợi cho trẻ em mà còn là một biện pháp xã hội và pháp lý để bảo vệ trẻ em. Vì vậy,
vấn đề nuôi con nuôi đã được hầu hết các nước trên thế giới điều chỉnh. Những
nước có truyền thống pháp luật thành văn điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi trong Bộ
luật dân sự như Đức, Pháp, Hà Lan, Hàn Quốc. Nhiều nước điều chỉnh vấn đề con
nuôi bằng những đạo luật riêng trong Đạo luật về tư cách cha mẹ như Thuỵ Điển,
Singapore, Trung Quốc. Cũng nhằm mục đích bảo vệ trẻ em và phòng chống lạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status