Áp dụng pháp luật chia tài sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn tại tòa án nhân dân thành phố sơn la - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CẦM VIỆT HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN LÀ
NHÀ Ở CỦA VỢ CHỒNG KHI LI HÔN TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CẦM VIỆT HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN LÀ
NHÀ Ở CỦA VỢ CHỒNG KHI LI HÔN TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự



DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Bộ Luật Dân Sự
Bộ Luật Tố tụng dân sự
Bộ Tư pháp
Chính Phủ
Hội đồng thẩm phán
Luật Hôn nhân và gia đình
Nghị Định
Quyền sử dụng đất
Văn bản quy phạm pháp luật

: BLDS
: BLTTDS
: BTP
: CP
: HĐTP
: Luật HN&GĐ
: NĐ
: QSDĐ
: VBQPPL


DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1. Công tác giải quyết các vụ việc HN&GĐ tại Sơn La (2013 –
2017)…………………………………………………………………………36
Bảng 2.2. Báo cáo số liệu án HN&GĐ năm 2016 của thành phố Sơn La
(2013


ly hôn………………………………………………………………………...38
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật xác định nhà ở là tài sản chung, tài sản
riêng của vợ, chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn
La…………………………………………………………………………….39


2.2.1 Thuận lợi………………………………………………………..39
2.2.2 Khó khăn, vướng mắc…………………………………………...41
2.2.3 Nguyên nhân………………………………………………….....52
2.2.4 Một số ví dụ ……………………………………………………53
Kết luận Chương 2……………………………………………………58
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA
TÀI SẢN LÀ NHÀ Ở CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
3.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về xác định tài sản liên quan đến nhà
ở và chia tài sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn…………………………..59
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật chia tài
sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn…………………………………….….64
Kết luận Chương 3……………………………………………………68
KẾT LUẬN………………………………………………………......69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia

lợi ích thiết thực của bản thân mỗi thành viên trong gia đình, vợ chồng có nhu
cầu tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và có quyền,
nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các quan hệ đó. Lúc gia đình hạnh phúc ranh giới
giữa tài sản chung và tài sản riêng ít người để ý và quan tâm. Khi tình cảm vợ
chồng rạn nứt, đổ vỡ, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận việc chia tài sản chung
của họ, nhưng khi họ không thỏa thuận được thì việc vận dụng những quy
định của pháp luật hôn nhân và gia đình để giải quyết tranh chấp tài sản của
vợ chồng là điều cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên.
Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu gia đình và giới, cả nước trung bình
có trên 60.000 vụ ly hôn/năm, tỉ lệ 30%, tức là cứ 10 cặp vợ chồng kết hôn thì
có 3 cặp ly hôn. Xu hướng này tiếp tục tăng ở cả thành phố và nông thôn.
Điều đáng nói, 70% số vụ ly hôn thuộc về các gia đình trẻ, vợ hoặc chồng
trong độ tuổi từ 18-30; trong đó có 60% ly hôn sau khi kết hôn từ 1-5 năm,
nhiều trường hợp chỉ mới cưới nhau được vài tháng.... tỉ lệ ly hôn hiện ngày
càng nhiều và vấn đề chia tài sản khi li hôn nói chung và chia tài sản khi li
hôn là nhà ở cũng là vấn đề rất phức tạp. Thực tiễn trong việc giải quyết tranh
chấp về nhà ở khi li hôn cũng bộc lộ nhiều vướng mắc do hệ thống văn bản
hướng dẫn còn thiếu đồng bộ, chậm được ban hành và chưa phù hợp, chưa
thống nhất dẫn đến cách hiểu không thống nhất và việc vận dụng không đạt
được tính thuyết phục. Điều này làm cho hoạt động xét cử của Tòa án còn gặp
nhiều khó khắn, vướng mắc dẫn đến án bị sửa, bị hủy. Do đó, trong điều kiện
hiện nay, nghiên cứu về giải quyết tranh chấp về tài sản là nhà ở của vợ chồng
khi ly hôn từ thực tiễn xét xử ở Tòa án rất có ý nghĩa về lí luận cũng như thực
tiễn
Xuất phát từ những yêu cầu trên, học viên xin lựa chọn và thực hiện đề
tài: “Áp dụng pháp luật chia tài sản là nhà ở của vợ chồng khi li hôn tại Tòa
án nhân dân thành phố Sơn La” để làm rõ các vấn đề lý luận về chia tài sản là
nhà ở của vợ chồng khi li hôn tại TAND thành phố Sơn La và đánh giá thực
tiễn thi hành tại TAND thành phố Sơn La; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm


chia tài sản chung vợ chồng, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu,
các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan
đến việc chia tài sản chung của vợ chồng mà không thể phân tích toàn diện


4

các khía cạnh của chế định này. Pháp luật cần phải có những điều chỉnh phù
hợp với bối cảnh và quan hệ quốc tế. Bởi vậy các đề tài nghiên cứu trên chưa
đánh giá sâu sắc, toàn diện thực trạng giải quyết việc chia tài sản là nhà ở của
vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cơ hội để
luận văn này có thể góp phần đóng góp cho khoa học pháp lý hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chia tài sản
là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn; luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng
pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong
quá trình áp dụng pháp luật về chia tài sản là nhà ở sau khi ly hôn trên cơ sở
đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của
quá trình áp dụng luật vào thực tiễn. Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị,
giải pháp có tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về
chia tài sản là nhà ở khi ly hôn đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang
ngày càng phát triển đa dạng, phong phú. Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận
văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp
luật về chia tài sản của vợ chồng là nhà ở khi ly hôn.
Thứ hai, rà soát, tổng hợp một cách sơ lược lịch sử phát triển chế định
chia tài sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn trong suốt chiều dài lịch sử tiến
triển của chế định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam;
Thứ ba, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về chia tài
sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.

chồng khi li hôn.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp
luật giải quyết chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại TAND thành phố Sơn
La; không nghiên cứu áp dụng pháp luật chia tài sản là nhà ở của vợ chồng
khi ly hôn có yếu tố nước ngoài.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được viết dựa trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của triết
học Mác - Lênin để phân tích mối quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc và hạ
tầng cơ sở, mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật, của Lí luận Nhà nước và
Pháp luật trong điều kiện kinh tế hiện nay.


6

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát
triển kinh tế giải quyết tranh chấp để các quy định đó có thể đáp ứng yêu cầu
giải quyết tranh chấp tài sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn hiện nay. Bên
cạnh đó, luận văn còn sử dụng những phương pháp như phân tích, so sánh,
đối chiếu, tổng hợp, khảo sát thực tiễn … để giải quyết vấn đề đặt ra. Trong
quá trình khảo sát thực tiễn, luận văn đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu
một số người có liên quan để thu thập những tài liệu mà các tài liệu lưu trữ
chính thống còn khuyết thiếu, đồng thời nhằm có thêm tư liệu sinh động từ
thực tiễn của người trực tiếp áp dụng pháp luật.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Tác giả luận văn với một mong muốn là công trình nghiên cứu có ít
nhiều giá trị về mặt lí luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cho
các hoạt động giảng dạy pháp lý cũng như tạo những gợi ý có giá trị tham
khảo cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật giải quyết việc
chia tài sản là nhà ở khi ly hôn của vợ chồng. Cụ thể đề tài sẽ có một số kết


8

Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHIA TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG VÀ CHIA TÀI SẢN
LÀ NHÀ Ở CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1 Khái niệm chia tài sản của vợ chồng và chia tài sản là nhà ở của
vợ chồng khi ly hôn
1.1.1 Khái niệm chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn không được định nghĩa trong
các văn bản pháp luật, có lẽ nhà làm luật cho rằng cụm từ chia tài sản của vợ
chồng khi ly hôn đã đủ để phản ánh khái niệm đó. Theo tác giả luận văn, có
thể định nghĩa: “chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là việc chuyển một phần
hoặc toàn bộ các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thành các tài sản
thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, hay sở hữu chung theo phần của vợ
chồng theo pháp luật hoặc theo thỏa thuận của vợ chồng”.
Chế định chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn chỉ có thể tồn tại khi
pháp luật ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng vì
nếu không ghi nhận quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thì
vợ chồng sẽ không được bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài
sản, mà mục đích của vợ chồng khi chia tài sản khi ly hôn là để cho vợ hoặc
chồng hoặc cả hai có thể tự do định đoạt với những tài sản được chia.
Vợ chồng thực hiện thủ tục ly hôn đương nhiên phải gắn với việc thỏa
thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung; bởi sau khi Tòa án giải quyết
cho ly hôn thì quyền về tài sản và nhân thân của hai người là độc lập. Đối với
trường hợp vẫn đang trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng thỏa thuận hoặc yêu
cầu Tòa án nhân dân quyết định chia tài sản chung thì phải tuân theo điều kiện
và nguyên tắc quy định theo Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định số
126/2014/NĐ-CP nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng đối
với tài sản chung.

nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39
và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản
khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản
riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ


10

hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều
40 của Luật này”.
Về căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng, Điều 33 Luật HN&GĐ
năm 2014 quy định:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường
hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng
được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng
thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản
chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng
để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ,
chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi
là tài sản chung”.
Theo các quy định trên trước tiên, khi chia tài sản của vợ chồng ly hôn
thì tài sản riêng sẽ được giữ nguyên, vẫn thuộc quyền sở hữu của người có tài
sản riêng; còn tài sản chung của vợ chồng, về nguyên tắc sẽ được chia đôi, tuy

- Lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: việc chia tài sản
chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp
được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh
được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán
cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của
mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh
hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con
đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang
chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang
kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung,


12

Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho
người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được
phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100
triệu đồng.
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: việc
chia tài sản chung của vợ chồng cũng phụ thuộc vào lỗi của vợ hoặc chồng vi
phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không
chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét
yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
1.1.2 Khái niệm chia tài sản là nhà ở của vợ chồng khi ly hôn
Tài sản đóng một vai trò quan trọng trong đời sống vợ chồng và gia
đình; vì nó là cơ sở kinh tế nuôi sống gia đình, được Luật HN&GĐ, Bộ luật

là bất động sản.
+ Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất: Khoáng sản, cây cối
hoa màu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khai
thác, chặt cây, hay hái lượm. Nếu chúng được tách khỏi đất thì chúng trở
thành động sản. Giả sử khoáng sản, cây cối, hoa màu tuy vẫn chưa được khai
thác nhưng đã là đối tượng của hợp đồng mua bán trước, việc mua bán trước
này có làm cho khoáng sản, cây cối hoa màu trở thành động sản hay không,
cho dù nó vẫn còn ở trên đất? Luật pháp các nước đều cho rằng các tài sản
này, trong trường hợp trên, đã trở thành động sản.
+ Các động sản trở thành bất động sản vì mục đích sử dụng chúng: các
tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bất động sản.
Nhưng trong điều kiện nào thì động sản được coi là gắn liền với nhà, công
trình xây dựng? Thông thường, việc gắn một động sản vào nhà, công trình xây
dựng một mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống nhất phục vụ cho mục đích
sử dụng nhà, công trình đó, mặt khác, việc gắn động sản vào nhà, công trình
phải do người có quyền (quyền sở hữu hoặc một quyền năng khác) đối với
nhà, công trình xây dựng đó thực hiện. Hơn nữa, việc gắn liền phải mang tính
chất kiên cố, không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặc mất vẻ mỹ quan
của nhà, công trình. Ví dụ như hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng, nếu


14

được gắn vào hốc tường một cách kiên cố cũng có thể được coi là bất động
sản.
Bất động sản do pháp luật quy định: Ngoài những tài sản là bất động
sản kể trên, khi cần thiết, bằng các văn bản pháp luật cụ thể, pháp luật có thể
quy định những tài sản khác là bất động sản. Ví dụ như theo quy định của
Điều 5, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 thì quyền sử dụng đất là bất
động sản.

phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng
+ Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử
dụng chung thì khi li hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu
nhà, nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công
sức bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà (Điều 63 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014).
+ Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng không thể chia
được (do cấu trúc xây dựng hoặc để bảo đảm an toàn) thì bên được tiếp tục sử
dụng nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng. Tòa
án xem xét nhu cầu thiết yếu của vợ chồng về chỗ ở, trong đó ưu tên bảo vệ
quyền lợi của người vợ và các con chưa thành niên, hoặc đã thành niên mất
năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình, để chia. Tòa án có thể giải quyết bằng cách giao ngôi nhà cho
người vợ (chồng) sở hữu, còn người kia được chia những tài sản khác trong
khối tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp người được chia nhà ở mà giá
trị của ngôi nhà nhiều hơn giá trị tài sản mà mình được chia thì phải thanh
toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng (theo giá thị trường ở địa
phương đó vào thời điểm xét xử).
Trong thời gian từ năm 1959 đến nay, các văn bản về chia tài sản chung
vợ chồng nói chung và chia tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng
nói riêng nằm rải rác ở nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác nhau và dựa theo
nguyên tắc: “Khi chia tài sản chung vợ chồng (trong đó có nhà ở và quyền sử
dụng đất) phải xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình hình cụ thể
của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên. Khi chia tài sản phải bảo vệ
quyền lợi chính đáng của người vợ và của con chưa thành niên, đồng thời bảo
vệ lợi ích của sản xuất và lợi ích về nghề nghiệp của mỗi bên.”


16



17

Luật HN&GĐ 2014 có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2015 thay thế Luật
HN&GĐ 2000 đã sửa đổi bổ sung và quy định mới nổi bật, trong đó quy định
về phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một trong số những nội dung
đáng chú ý của Luật HN&GĐ 2014.
Thứ nhất, là về nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn,
so với luật cũ, Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sung một nguyên tắc rất quan
trọng trong việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là tính đến việc xét
lỗi của mỗi bên vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ
chồng, Theo quy định của Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BTP “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng”
ở đây được hiểu là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân
thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Trường hợp người chồng có
hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải
quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản
chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa
thành niên.
Thứ hai, quy định mới về giải quyết quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ
chồng đối với người thứ ba khi ly hôn. Vấn đề này được quy định tại Điều 60
Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, trừ trường hợp giữa vợ chồng với người
thứ ba có thỏa thuận khác, thì sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ về tài sản của
vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực. Trường hợp tranh chấp liên
quan đến trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo Điều 27, về các nghĩa vụ
chung về tài sản của vợ chồng theo Điều 37, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ,
chồng theo Điều 45 thì giải quyết theo Bộ luật dân sự.
Thứ ba, quy định mới về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn.
Đây là một trong những điểm mới nổi bật của Luật Hôn nhân gia đình năm
2014. Quyền lưu cư được hiểu một cách đơn giản có nghĩa là tiếp tục được ở,
cư trú. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn có nội dung là: Nhà ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status