BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRANH CHẤP VỀ RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
GIỮA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
PHẠM TUẤN MINH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Nguyễn Thị Nga. Các nội dung nghiên cứu,
kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức
nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,
nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng
như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú
thích nguồn gốc.
Xác nhận của người hướng dẫn
Học viên ký tên
GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
SỬ DỤNG ĐẤT ............................................................................................ 5
1.1. Những vấn đề lý luận về ranh giới quyền sử dụng đất giữa các hộ gia
đình, cá nhân sử dụng đất. ........................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất ....................................... 5
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm ranh giới quyền sử dụng đất ....................... 6
1.2 Những vấn đề lý luận về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất của
hộ gia đình cá nhân. ..................................................................................... 8
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai ................................ 8
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai .............................................................. 9
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng
đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. ......................................... 11
1.2.3. Nguyên nhân phát sinh ranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất
giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. ............................................... 13
1.2.4. Ý nghĩa của phòng ngừa tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng
đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất .......................................... 18
1.3. Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp về ranh giới
quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. ............... 19
1.3.1. Những tác động và ảnh hưởng của tranh chấp về ranh giới quyền
sử dụng đất giữa các hộ gia đình, cá nhân tới đời sống và trật tự an toàn
xã hội và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc giải
quyết tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất. ....................................................................................... 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 37
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ RANH
GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA. ...... 38
2.1. Tổng quan tình hình tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất giữa
KẾT LUẬN ................................................................................................. 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 87
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang là vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến sự
phát triển kinh tế đất nước và ổn định xã hội. Nguyên nhân của các tranh chấp
như thế nào, cơ chế giải quyết tranh chấp có bảo vệ được kịp thời và chính
xác các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch hay
không là những vấn đề rất quan trọng và cần phải được thực hiện phù hợp với
các quy định của pháp luật (bao gồm cả pháp luật nội dung cũng như pháp
luật hình thức).
Vấn đề nghiên cứu tìm hiểu về các quy định pháp luật hiện hành cũng
như đi sâu vào phân tích, đánh giá những vướng mắc qua thực tiễn xét xử là
nội dung quan trọng để góp phần hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp này
hiện nay tại Tòa án, nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích tối đa của các bên khi
tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Trên địa bàn thành phố Sơn La, tình hình khởi kiện đối với tranh chấp
về đất đai mà đặc biệt là tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất ngày càng
gia tăng với tính chất và mức độ khá phức tạp. Thực tiễn giải quyết tranh chấp
tại toà án nhân dân thành phố đối với các dạng tranh chấp này cũng ngày càng
gia tăng và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tranh chấp đất đai. Tổng kết đánh giá
công tác xét xử cho thấy, dù rằng công tác đã đạt được một số thành tựu nhất
định, song cũng còn nhiều những hạn chế: án kéo dài, án phải qua nhiều cấp
xét xử...
Cơ sở pháp lí để giải quyết tranh chấp đất đai nói chung cũng như tranh
chấp ranh giới quyền sử dụng đất nói riêng là những chính sách, pháp luật về đất
đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi tương thích với từng giai đoạn
- Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất
đai, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai thành phố Sơn La. Trên cơ sở đó
chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền
2
giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật
đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai phúc đáp
các đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những
năm đầu của thế kỷ XXI.
3. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với những vấn đề lí luận và thực tiễn về tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Toà án đã có nhiều công trình nghiên
cứu như: Đề tài khoa học cấp bộ năm 2001 của Toà án nhân dân tối cao, do
Nguyễn Văn Luật làm chủ nhiệm đề tài; “Tranh chấp đất đai và thẩm quyền giải
quyết của Tòa án”, Luận văn Thạc sỹ luật học của Châu Huế (2003), Khoa Luật,
Đại học quốc gia Hà Nội; “Giải quyết tranh chấp đất đai theo Luật đất đai
2003”, Luận văn thạc sỹ luật học của Phạm Thị Hương Lan (2009), Viện Nhà
nước và Pháp luật; đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả
giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại toà án nhân dân”; “Giải
quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án từ thực tiễn tại Tp. Đà Nẵng” Luận văn
thạc sỹ luật học của Mai Thị Tú Oanh (2008); Báo cáo tham luận “Thực trạng
giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án nhân dân – Kiến nghị và giải pháp” của
TS. Nguyễn Văn Cường; chuyên khảo “Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử”
của tác giả Tưởng Duy Lượng, do Nxb. Chính trị quốc gia xuất bản năm 2008 và
tái bản có sửa chữa, bổ sung năm 2009...
Nội dung những công trình nêu trên phần nào đã làm ra những vấn đề lí
luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án. Tuy nhiên, một
giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
về ranh giới quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại
Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP
RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ
NHÂN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1. Những vấn đề lý luận về ranh giới quyền sử dụng đất giữa các
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền sử dụng đất
QSDĐ là thuật ngữ pháp lý gắn liền với hành vi sử dụng đất của con
người. Theo từ điển Luật học: "Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể
được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được
Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông
qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho
… từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất”[56]. Bản chất QSDĐ chính
là quyền khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp nhằm
làm thỏa mãn nhu cầu và lợi ích vật chất cho NSDĐ.
QSDĐ còn là một loại tài sản đặc biệt trong pháp luật Việt Nam bởi:
Pháp luật thực định ghi nhận đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu [33] xong Nhà nước thường không hoặc không thể tự mình
trực tiếp sử dụng đất. Nhà nước tiến hành giao đất, cho thuê đất cho các hộ
gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được chuyển QSDĐ theo quy
định của pháp luật. Như vậy, QSDĐ hợp pháp của cá nhân là tài sản của cá
nhân; QSDĐ hợp pháp của tổ chức là tài sản của tổ chức. Bên cạnh đó, với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất và điều kiện thực hiện
các quyền của NSDĐ.
Tóm lại, QSDĐ là những quyền năng sử dụng đất cụ thể, được pháp
luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá
trình khai thác và sử dụng.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm ranh giới quyền sử dụng đất
6
Theo Từ điển Tiếng Việt: Ranh giới là đường phân giới hạn giữa hai
bên[52]. Trong nội dung giải thích định nghĩa được nêu trong Luật đất đai
2013 quy định Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác
định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ [33]. Như vậy, ranh giới là
đường phân chia giới hạn phần diện tích đất giữa những thửa đất liền nhau.
Mà như đã nêu trên, quyền sử dụng đất là những quyền năng sử dụng đất cụ
thể, được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử
dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng. Vậy, ranh giới quyền sử dụng
đất chính là việc phân chia giới hạn quyền năng sử dụng đất cụ thể đối với
một thửa đất, quyền năng này được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện
đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng. Ranh
giới quyền sử dụng đất có một vài đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, ranh giới thửa đất được xác định trên thựa địa hoặc được mô
tả trên sơ đồ. Việc xác định ranh giới thửa đất, cơ sở để xác định ranh giới
thửa đất chính là cơ sở để xác định ranh giới quyền sử dụng đất. Có nghĩa là
việc xác định quyền sử dụng đất của chủ sở hữu hợp pháp đối với thửa đất
trong diện tích, phạm vi như thế nào được xác định dựa trên thực địa hoặc
trong hệ thống quản lí nhà nước về đất đai trong bản đồ, sơ đồ địa chính. Trên
thực tế quản lí hành chính nhà nước đối với đất đai, có một công cụ hữu hiệu
để thực hiện quản lí ranh giới thửa đất đó là giấy chứng nhận quyền sử dụng
chấp giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột. Việc giải quyết triệt để các
tranh chấp đất đai ở các xã hội phải được thực hiện bằng một cuộc cách mạng
xã hội. Ở xã hội không tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giai cấp đối kháng, tranh
chấp đất thường là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, quyền và nghĩa vụ của các
bên. Việc giải quyết tranh chấp đất đai do các bên tự tiến hành thông qua con
đường thương lượng, hòa giải hoặc do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện dựa trên việc áp dụng các quy định của pháp luật.
8
Theo từ điển tiếng Việt, tranh chấp là tranh dành nhau một cách giằng
co cái không thuộc về bên nào, là sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất
đồng, chủ yếu là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên [52]. Theo từ điển pháp
luật Việt Pháp: “Litige” - vụ tranh chấp được giải thích như sau: Người ta nói
tới vụ tranh chấp khi mà một người không được hưởng một quyền hay lợi ích
hợp pháp của mình bằng thỏa thuận và dự định đưa vụ việc ra Tòa án phân xử
[21]
Dưới góc độ pháp lí, tranh chấp đất đai lần đầu được định nghĩa tại
Luật đất đai 2003 và cũng được quy định lại tại Luật đất đai 2013 với nội
dung “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”[33]
Vậy, từ những phân tích trên có thể hiểu: tranh chấp đất đai là sự bất
đồng, mâu thuẫn hay xung đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai.
1.1.2. Phân loại tranh chấp đất đai
Trước những năm 1980, Nhà nước ta thừa nhận nhiều hình thức sở hữu
đối với đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân... Do đó ở
thời kỳ này tranh chấp đất đai bao gồm: Tranh chấp về quyền sở hữu đất đai,
quyền quản lý và sử dụng đối với đất đai. Sau Hiến pháp 1980 ra đời, Nhà
đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản
lý hoặc người sử dụng đất.
Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt
động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng,
phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích,
nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử
dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất.
Đất đai đó trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất
lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử
10
dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà cũng bao
gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử
dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức
tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng
đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn.
Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như:
Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn
kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất,
ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp
mà cũng gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử
dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các
bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp về ranh giới quyền sử
dụng đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
Như đã nêu trên, ranh giới quyền sử dụng đất chính là việc phân chia
giới hạn quyền năng sử dụng đất cụ thể đối với một thửa đất, quyền năng này
tượng của tranh chấp ranh giới QSDĐ là quyền và lợi ích phát sinh từ việc
quyền năng của chủ sử dụng đối với thửa đất hoặc giải quyết hậu quả quyền
năng này bị xâm phạm hoặc không có căn cứ để xác định phạm vi quyền năng
đối với thửa đất đó, mà không hoàn toàn là một loại tài sản hữu hình cụ thể.
Thứ ba, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất nói riêng cũng như
tranh chấp đất đai nói chung như đã phân tích không chỉ ảnh hưởng đến lợi
ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp, mà còn phát sinh gây tác động
xấu đến trật tự kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến lợi ích, hoạt động quản lý
trật tự hành chính của Nhà nước đối với đất đai. Mà đất đai còn là một trong
những lĩnh vực nhạy cảm của xã hội, bởi vậy những tranh chấp đất đai kéo
theo nhiều hệ lụy đối với các bên trong tranh chấp, xã hội và Nhà nước.
12
Trong những dạng tranh chấp đất đai phổ biến nêu trên, có thể khái
quát những dạng tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất cơ bản như sau:
Một là, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất do một hoặc cả hai bên
chiếm dụng đất của nhau. Theo đó, các chủ thể có bất động sản liền kề có
hành vi làm sai lệch ranh giới quyền sử dụng đất, chiếm dụng đất của nhau
xâm hại đến quyền sử dụng đất hợp pháp của chủ thể còn lại dẫn đến tranh
chấp ranh giới quyền sử dụng đất;
Hai là, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất do việc cản trở quyền sử
dụng đất. Theo đó, với quyền sử dụng đất chủ sử dụng đất theo quy định của
pháp luật đất đai, pháp luật dân sự còn có các quyền đối với các bất động sản
liền kề1. Và tranh chấp trong trường hợp này đó là việc hạn chế sử dụng các
bất động sản liền kề hoặc lấn chiếm xâm phạm ranh giới các mốc ranh giới
được xác định là tài sản chung của các chủ sở hữu bất động sản liền kề;
Ba là, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất do những yếu tố khách
quan tác động của tự nhiên như sự xói mòn đất, thiên tai bão lũ…dẫn đến việc
trường, trang trại. Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng
sử dụng lại kém hiệu quả. Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các
năm 1977 - 1978 và năm 1982- 1983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình
quân, "cào bằng" đã dẫn tới những xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số
lượng và mục đích sử dụng đất đai.
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế
quản lý làm cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị. Dưới góc độ kinh
tế, đất đai được coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật
cung cầu, quy luật giá trị. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không
được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài. Do vậy
Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có hiệu quả.
Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều
người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho
thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi
thực hiện một số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có
các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ.
14
Nguyên nhân chủ quan
Về cơ chế quản lý đất đai
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bị buông
lỏng, nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật.
Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân
công, phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt
chẽ, nhiều sơ hở. Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý dẫn đến việc
tranh chấp về đất thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác nhau.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ.
chế mới, một số cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở trong các chế độ, chính sách
đất đai của Nhà nước và dựa vào chức quyền để chiếm dụng đất đai trái phép,
gây bất bình trong nhân dân. Đặc biệt, ở những nơi nội bộ mất đoàn kết thì lại
lấy vấn đề đất đai làm phương tiện để đấu tranh với nhau, một số phần tử xấu
lợi dụng cơ hội này để bao chiếm đất đai hoặc kích động gây chia rẽ nội bộ và
gây mất ổn định về tình hình chính trị- xã hội, làm mất uy tín của tổ chức
Đảng và chính quyền.
Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp đất đai ở nhiều
nơi, nhiều lúc còn hữu khuynh, mất cảnh giác. Chẳng những hồ sơ đất đai không
đầy đủ, mà việc đăng ký nhân khẩu, hộ khẩu ở nông thôn cũng chưa chặt chẽ,
kẻ xấu có điều kiện để hoạt động dễ dàng. Khi phát hiện những kẻ cầm đầu,
tổ chức gây rối, kích động vi phạm pháp luật thì lúng túng trong xử lý, nương
nhẹ trong thi hành pháp luật, không tổ chức được lực lượng quần chúng cốt
cán đấu tranh với mọi biểu hiện tiêu cực, mà trái lại, để quần chúng bị bọn
xấu lôi kéo. Tổ chức Đảng và chính quyền trở thành người bị động, phải chạy
theo giải quyết những vụ việc đã xảy ra hoặc xử lý những hậu quả nặng nề.
Về đường lối chính sách, pháp luật về đất đai
16
Chính sách đất đai và các chính sách khác có liên quan đến đất đai chưa
đồng bộ, có mặt không rõ ràng và đang còn biến động. Thực tế áp dụng các
chính sách đất đai còn tùy tiện dẫn đến tình trạng: Người có khả năng sản
xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng đất, ngược lại, người có ruộng lại không có
khả năng hoặc nhu cầu sản xuất, để đất đai hoang hóa hoặc sử dụng đất kém
hiệu quả. Tình trạng người nông dân phải ra các đô thị bán sức lao động, gây
mất ổn định cơ cấu lao động sản xuất cũng có nguyên nhân từ việc thiếu đất để
sản xuất.
Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội, quản
lý nền kinh tế nhưng nếu Nhà nước chỉ ban hành pháp luật mà không có
những biện pháp bảo đảm được thực hiện thì pháp luật cũng không thể phát
huy được vai trò tác dụng của mình. Vì thế, cùng với việc ban hành pháp luật,
Nhà nước còn đảm bảo cho pháp luật được thi hành.
Việc xem xét giải quyết đất đai là một nội dung quan trọng trong hoạt
động quản lý nhà nước đối với đất đai và là nhũng biện pháp để pháp luật đất
đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết
tranh chấp đất đai, mà các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù họp với
lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người sử dung đất, cần giáo dục ý
thức pháp luật cho công dân để ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khác có
thể xảy ra. Với ý nghĩa đó thì việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải
pháp đúng cho cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ
nhân dân. Trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm hại.
Mặt khác, tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất trên thực tế số lượng tương
đối nhiều, các tranh chấp thường diễn ra giữa những chủ thể có mối quan hệ
gần gũi gắn bó là những người hàng xóm hoặc anh chị em trong gia đình
được chia đất liền kề nhau hoặc tính chất của tranh chấp mang tính lịch sử lâu
đời do đó dạng tranh chấp này khá phức tạp.
18
Bởi vậy, phòng ngừa tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất giữa
các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không chỉ là việc bảo đảm quyền lợi hợp
pháp cho các bên bị xâm hại mà còn là việc mang ý nghĩa đảm bảo trật tự xã
hội duy trì tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, làng xóm.
1.3. Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp về
ranh giới quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất.
1.3.1. Những tác động và ảnh hưởng của tranh chấp về ranh giới