i dân do nhận thức còn
hạn chế đã tạo điều kiện cho bên thứ ba lợi dụng để trục lợi, gây không ít khó khăn
cho các bên khi tham gia hợp đồng chuyển QSDĐ cũng như Nhà nước trong công
tác quản lý đất đai. Chính vì thế, việc nâng cao nhận thức pháp luật đất đai cho
người dân có ý nghĩa quan trọng, giúp họ hiểu và tôn trọng, có ý thức tự giác tuân
thủ pháp luật, góp phần hình thành nên một thị trường trao đổi, chuyển nhượng đất
lành mạnh.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
TAND huyện Mường La trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận trong công tác giải quyết, xét xử các tranh chấp đất đai về hợp đồng
chuyển QSDĐ vô hiệu. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, xét xử vẫn còn những
tồn tại hạn chế nhất định. Thông qua kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp, tác giả đã
tổng kết được những sai sót phổ biến khi TAND giải quyết tranh chấp về hợp đồng
chuyển QSDĐ vô hiệu mà đặc biệt là hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu để
từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển QSDĐ vô hiệu tại TAND trong thời
gian tới.
KẾT LUẬN
Luận văn với đề tài: “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu từ thực
tiễn giải quyết tại toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La” đã đề cập, hệ
thống những vấn đề mang tính lý luận về chuyển QSDĐ, hợp đồng chuyển QSDĐ
vô hiệu và giải quyết tranh chấp về hợp đồng chuyển QSDĐ vô hiệu tại TAND.
Trên cơ sở lý luận nền tảng đó, tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành
về hợp đồng chuyển QSDĐ vô hiệu và việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến
vấn đề này tại Toà án. Bằng kinh nghiệm, thực tiễn công tác xét xử tại TAND
huyện Mường La, tác giả trên cơ sở tập hợp các vụ án liên quan đến hợp đồng
chuyển QSDĐ vô hiệu, đặc biệt là hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ vô hiệu đã tiếp
8. Phan Thị Vân Hương (2012), “Công chứng, chứng thực trong hợp đồng
mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, Tạp chí TAND, số 6/2012;
9. Phạm Thị Hương Lan (2010), “Một số kiến nghị qua thực tiễn giải quyết
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, Tạp chí Kiểm sát, số
12/2010;
10. Nguyễn Thị Nga (2002), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thị trường
quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật, trường Đại học Luật Hà Nội;
11. Lê Đình Nghị (Chủ biên) (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập
1), Nxb Giáo dục, Hà Nội;
12. Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Nắng Mai (2012), “Một số giao dịch tư
lợi trong thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, số 3/2012;
13. Lê Sỹ Nam (2012), “Hình thức hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ và thực
tiễn giải quyết tranh chấp tại toà án”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2012;
14. Quốc hội (2003), Luật Đất đai;
15. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
16. Quốc hội (2013), Luật Đất đai;
17. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự Việt Nam;
18. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự Việt Nam;
19. Quốc hội (2014), Luật kinh doanh bất động sản;
20. Quốc hội (2014), Luật Nhà ở;
21. Quốc hội (2007), Luật thuế thu nhập cá nhân;
22. Quốc hội (2008), Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
23. Quốc hội (2008), Luật Thi hành án dân sự;
24. Toà án nhân dân Tối cao (2003), Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày
16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật
trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình;
25. Toà án nhân dân Tối cao (2004), Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày