NGUYỄN CHÍ MẠNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TỪ THỰC TIỄN
GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ
QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
2014 - 2016
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: NGUYỄN CHÍ MẠN
HÀ NỘI – 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TỪ THỰC TIỄN
GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ
TỈNH QUẢNG NINH
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, học viên xin cảm ơn PGS.TS.NGUYỄN
THỊ NGA đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ học viên trong quá trình học tập, nghiên
cứu khoa học và hoàn thành Luận văn.
Học viên xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn Luật Đất Đai, các thầy
cô giảng dạy tại Viện Đại học Mở Hà Nội đã giúp đỡ học viên trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài học viên luôn nhận được
sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình.
Học viên xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Nguyễn Chí Mạnh
4
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN ................................................................................. 14
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn ........................................................................................ 14
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân ....................... 14
1.1.2. Khái niệm tài sản chung là QSDĐ của vợ chồng trong hôn nhân ....... 16
1.1.3. Khái niệm tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn................................................................................................................... 18
1.1.4. Phân loại tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn xuất hiện thường xuyên tại địa bàn ......................................................... 23
đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng hợp pháp của vợ và chồng trong hôn
nhân ................................................................................................................ 53
2.2. Một số hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh
chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn ........................... 56
2.2.1. Vướng mắc về nhận thức và áp dụng pháp luật.................................... 56
2.2.2. Vấn đề định giá tài sản tranh chấp ...................................................... 60
2.2.3. Xác định tài sản của vợ chồng trong thực tế ....................................... 63
2.2.4. Vấn đề thủ tục tố tụng ........................................................................... 67
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
KHI VỢ CHỒNG LY HÔN........................................................................... 71
3.1. Một số giải pháp hoàn thiện nội dung các quy định của pháp luật về
phân chia quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng khi ly hôn ............ 71
3.2. Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về tài
sản của vợ chồng khi ly hôn trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng
Ninh................................................................................................................. 73
3.2.1. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xét xử ......................................... 74
3.2.2. Tăng cường hiệu lực thi hành của bản án ............................................ 79
6
3.2.3. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho công dân ................................... 80
3.2.4. Tăng cường công tác phối hợp, liên thông thông tin giữa các cơ quan
quản lý ............................................................................................................. 81
3.2.5. Tăng cường các hoạt động bảo đảm bình đẳng giới ............................. 81
7
PHẦN MỞ ĐẦU
việc giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn chưa đúng pháp
luật, chưa xác đáng, chưa phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ sở
hữu… do đó chưa bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự.
Hiện nay cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly
hôn có tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn
tạo ra rất nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng. Một trong
những vấn đề người ta quan tâm nhất, không chỉ những cặp vợ chồng ly hôn
mà hầu hết mỗi người trong xã hội đó là vấn đề tranh chấp đất đai. Giá trị “tấc
đất tấc vàng” càng khiến cho người ta quan tâm hơn. Việc chấm dứt hôn nhân
đa phần sẽ kéo theo những vướng mắc của việc chia quyền sử dụng đất.
Những năm gần đây, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên đời
sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được đảm bảo và nâng
cao. Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến nhiều người sống
buông thả, coi trọng vật chất, tình cảm giữa mọi người với nhau không còn
mặn mà, được coi trọng như trước. Giá trị tài sản lớn và sự coi trọng vật chất
làm cho những tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các vụ án ly hôn
có tính quyết liệt, căng thẳng hơn, nên việc giải quyết cũng gặp nhiều khó
khăn.
Là một huyện có mức sống trung bình so với cả nước song Quảng Yên
cũng chịu sự ảnh hưởng chung của xã hội. Những năm gần đây, số lượng các
vụ tranh chấp về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng tăng nhanh về số lượng,
phức tạp về nội dung, nhiều vụ tranh chấp rất gay gắt, khiếu nại kéo dài gây
nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham
gia tố tụng. Hầu hết các vụ án đều được giải quyết trong thời hạn luật định, thấu
tình đạt lý, khách quan, được sự đồng tình của người dân. Tuy nhiên, thực tiễn
giải quyết vấn đề tài sản khi ly hôn trong các vụ án hôn nhân gia đình còn gặp
nhiều vướng mắc, bất cập do có nhiều quan điểm nhận thức, đánh giá khác
nhau nên vẫn còn một số vụ án bị cấp trên cải sửa, hủy dẫn đến vụ án phải xét
xử lại nhiều lần. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng phải kể đến các quy định của
quyền, lợi chính đáng của các đương sự trong vụ án giải quyết chia tài sản
chung vợ chồng.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự, Luật HN&GĐ năm 2014, Luật đất đai năm 2013, Luật nhà ở năm 2014
và một số văn bản khác có liên quan về quy trình, thủ tục tố tụng giải quyết cá
11
tranh chấp về chia tài sản chung của vợ, chồng là quyền sử dụng đất; các căn cứ
pháp luật về nội dung để giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật giải quyết các
tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua thực tiễn xét xử
tại toà án thông qua các vụ án cụ thể. Đề tài chỉ nghiên cứu giải quyết các tranh
chấp về quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn, còn những tranh chấp về
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc các tranh chấp về tài
sản riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn không được nghiên cứu trong đề tài
này.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Các quy định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc phân chia quyền sử
dụng đất của vợ chồng ky ly hôn
- Các vụ án cụ thể mà toà án đã xét xử giải quyết tranh chấp về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
- Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành toà án.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện nghiên cứu này, tác giả dự kiến sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin;
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp
tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn
- Chương 2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn tại tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên và các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án về tranh chấp tài sản khi
vợ chồng ly hôn
- Chương 3. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
PHẦN NỘI DUNG
13
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về tranh chấp tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân
Trong quá trình vợ chồng chung sống, ngoài tình cảm thì giữa vợ chồng
còn cần có tài sản chung để duy trì hôn nhân, đây được coi là một trong những
điều kiện không thể thiếu để duy trì mối quan hệ vợ, chồng.
Tài sản theo nghĩa Từ điển tiếng Việt là của cải, vật chất dùng vào mục
đích sản xuất và tiêu dùng, theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015
thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất
động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài
sản hình thành trong tương lai.”.
Có thể thấy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra do
lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu thập hợp pháp khác của
vợ chồng tỏng thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng
cho chung và những tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng
đất của vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Khác
với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời
kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp
lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản
chung, thừa kế, tặng cho...)
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình đã xác định thời điểm hình thành và
nguồn gốc phát sinh tài sản chung của vợ chồng. Kể từ sau khi kết hôn, những
tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ chồng, tài sản mà vợ
chồng mua sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc sở hữu chung hợp
nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ chồng ít
hay nhiều, có lao động trực tiếp hay không. Quan điểm này đã được cha ông ta
ghi nhận qua câu nói “Của chồng công vợ”, tài sản chung của vợ chồng không
nhất thiết do hai vợ chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau. Tài sản
chung có thể chỉ do vợ, hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này
15
thể hiện sự gắn kết “Như hai mà một” của quan hệ hôn nhân... Đây là điểm khác
biệt của tài sản chung vợ chồng so với các tài sản chung theo phần khác.
Tình hợp nhất trong việc sở hữu tài sản chung của vợ chồng còn được thể hiện
khi vợ, chồng chưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của
mỗi người. Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia
của Tòa án thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác
định. Đây là điểm khác biệt đặc trưng của tài sản chung vợ, chồng so với các tài
sản chung theo phần.
Mặc khác, pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ ngang nhau của vợ chồng
coi quyền sử dụng đất là một loại tài sản thay thế quyền sở hữu đất đai đã “trả
lại” giá trị vốn có của đất đai và làm cho đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc
biệt tham gia vào lưu thông thị trường, thay đổi về cơ bản việc giao đất bằng các
biện pháp hành chính (thị trường sơ cấp), chuyển sang việc cung ứng đất đai chủ
yếu bằng cơ chế thị trường, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất
xã hội chủ nghĩa, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiểm và có hiệu quả. Mục đích của
việc tách quyền sử dụng khỏi quyền sở hữu đất đai là nhằm duy trì đất đai thuộc
sở hữu toàn dân trong điều kiện kinh tế thị trường, song lại gắn bó chặt chẽ
người lao động với đất đai, đảm bảo cho việc sử dụng đất được thực hiện thuận
tiện nhất, phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo của người sử dụng đất trong
việc khai thác có hiệu quả những lợi ích của đất đai.
Việc chuyển giao quyền sử dụng đất hay nói cách khác là việc xác lập
chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất được thực hiện bằng các hình thức sau:
- Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
- Nhận chuyển nhượng từ chủ thể khác thông qua các hình thức giao
dịch dân sự như: mua bán, tặng cho, nhận thừa kế, trao đổi…
Vậy, quyền sử dụng đất với tư cách là tài sản chung của vợ chông được
hiểu thế nào? Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2015 thì
"Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.".
Như vậy, có thể hiểu quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng được sở hữu
sau khi kết hôn trừ trường hợp việc sở hữu đó được thực hiện dưới hình thức
thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc sử dụng tài sản riêng để giao dịch mua
17
quyền sử dụng đất, thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng. Theo đó,
quyền sử dụng đất chung của vợ chồng bao gồm:
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng mua bằng thu nhập do lao động, hoạt
nhau”1.
Theo Luật đất đai năm 2003: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất
đai”2. Khái niệm bày được Luật đất đai 2013 tiếp tục ghi nhận tại khoản 24 Điều
3.
Theo Giáo trình Luật đất đai của Đại học Huế: “Tranh chấp đất đai: Đó là
các mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể sử dụng đất khi họ cho rằng các quyền
và lợi ích hợp pháp về quyền sử dụng đất của mình bị xâm hại”3
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Tranh
chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và
nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai”4.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn,
xung đột về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất phát sinh giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Qua định nghĩa trên, các dạng tranh chấp sau đây có thể được hiểu là
tranh chấp đất đai:5
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với
nhau về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó. Trong
dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất;
tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly
hôn, thừa kế; tranh chấp để đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà
không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng
vùng kinh tế mới…); tranh chấp liên quan đến giấy chưng nhận quyền sử dụng
đất. Các tranh chấp đất đai liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
như: Tranh chấp về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ; (ii) Tranh chấp
1
Nguyễn Như Ý (chủ biên): Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2001, tr 808.
Khoản 26 Điều 4 Luật đất đai 2003
3
cuộc sống. Vây ly hôn là gì? Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 thì "Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.". Hay nói cách khác, ly hôn là
sự chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật. Sau khi kết hôn vì những lý do
nhất định, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng mâu thuẫn, quan điểm
sống không thể dung hòa, đời sống chung không thể kéo dài làm ảnh hưởng đến
các thành viên khác trong gia đình và ảnh hưởng đến việc nuôi dạy giáo dục con
cái. Vì thế, ly hôn là giải pháp cho cả hai bên để mỗi bên tự tìm hạnh phúc cho
mình. Qua đó, bảo đảm quyền tự do, bình đẳng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân mỗi người theo quy định của pháp luật.
20
Có thể thấy, việc ly hôn làm chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý
và do đó nó cũng kéo theo các hệ quả pháp lý đi kèm, bao gồm: phân chia tài
sản chung, quyền và nghĩa vụ đối với con cái… Trong đó việc phân chia tài sản
chung là vấn đề thường nảy sinh tranh chấp đặc biệt đối với những tài sản chung
có giá trị lớn như quyền sử dụng đất.
Qua các phân tích trên có thể thấy tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng
đất sau khi ly hôn thuộc nhóm tranh chấp đất đai về quyền sử dụng đất, theo đó
các bên tranh chấp về việc xác lập chủ sử dụng đối với mảnh đất hoặc một phần
của mảnh đất. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về tranh chấp quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn như sau: 6
Tranh chấp quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn là tranh chấp về việc
xác lập sở hữu giữa vợ chồng và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đối với quyền sử dụng đất được một trong hai bên hoặc cả hai bên coi là
tài sản chung của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân của họ chấm dứt.
Theo đó, các tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn chủ yếu là các nội dung sau đây:
- Tranh chấp về việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay tài
nhận tiền không có khả năng thiết lập một tài sản mới để an cư lạc nghiệp, họ
tranh chấp để dành quyền được sở hữu, sử dụng và khai thác đối với quyền sử
dụng đất đó mà không muốn chia về giá trị quyền sử đất (bằng tiền).
- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với người thứ ba. Đây
cũng là dạng tranh chấp phổ biến, diễn ra thường xuyên và chiếm tỉ lệ lớn khi vợ
chồng ly hôn. Theo đó, quyền sử dụng đất được xác lập trong thời kỳ hôn nhân,
song quyền sử dụng đất đó lại có nguồn gốc hình thành từ nguồn vốn vay của
một chủ thể thứ ba. Khi ly hôn, chồng hoặc vợ không thừa nhận nghĩa vụ phải
trả khoản vay đó cho bên thứ ba từ quyền sử dụng đất chia khi ly hôn. Đối với
tranh chấp dạng này, nếu giấy tờ vay nợ được xác lập rõ ràng, thỏa thuận cụ thể
về mục đích vay là để mua nhà đất, thời hạn vay phát sinh trước và trong khoảng
thời gian xác lập quyền sử dụng đất, giấy tờ ghi nợ xác nhận rõ nghĩa vụ chung
của vợ chồng về việc trả nợ khoản vay thì việc giải quyết không có nhiều phức
tạp. Tuy nhiên, sẽ thực sự phức tạp và khó khăn, vướng mắc cho các Thẩm phán
khi khoản vay đó không có giấy tờ hoặc giấy tờ không ghi nhận rõ các nội dung
như đã đề cập ở trên, điều đáng nói hơn là một trong hai vợ chồng phủ nhận
khoản vay được hình thành từ việc xác lập quyền sử dụng đất, phủ nhận trách
nhiệm nghĩa vụ dân sự đối với người thứ ba. Trong trường hợp không có giấy tờ
gì về khoản vay đối với người thứ ba để minh chứng thì vợ hoặc chồng phủ
22
nhận khoản vay đó và phủ nhận trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay
bằng nguồn tài sản là quyền sử dụng đất khi ly hôn.
1.1.4. Phân loại tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ
chồng ly hôn
- Quyền sử dụng đất tạo lập trước thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung
của vợ chồng: Đây là tranh chấp xảy ra khi một trong hai bên vợ hoặc chồng đã
xác lập quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất trước khi kết hôn. Tuy nhiên,
trong quá trình chung sống, khối tài sản riêng này do các sự kiện khác nhau dẫn
chứng cứ để xác định cụ thể mức độ đóng góp của mỗi bên.
- Tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc là lấn, chiếm, mở rộng diện
tích trên đất của cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ. Khi ly hôn, hoặc vợ, hoặc
chồng cho rằng, đất đó là của cha mẹ, vợ chồng chỉ là ở cùng nên không được
xác định là tài sản của vợ chồng, vì vậy, không thể chia quyền sử dụng đất cho
vợ chồng mà phải trả về cho bố mẹ. Trong trường hợp khác lại cho rằng, phần
lấn chiếm ra khỏi phạm vi ranh giới đất của cha mẹ của chồng hoặc của, đã xây
nhà ở và vợ chồng ăn ở, sinh hoạt trên đất lấn chiếm, nay ly hôn thì đó là tài sản
chung của vợ và chồng nên phải chia tài sản song hoặc vợ, hoặc chồng (thường
là người có bố mẹ ở cùng) không đồng ý chia với lý do đất đó có nguồn gốc lấn
chiếm nhưng trên nên đất của cha mẹ nên đó là tài sản của cha mẹ nên không là
tài sản của vợ chồng nên không chia, có chăng chỉa thanh toán công sức đóng
góp trong quá trình sinh sống trên đất đó.
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không cùng chủ sở hữu và sử dụng
hợp pháp của vợ và chồng trong hôn nhân. Đây là tranh chấp có nguyên nhân
phát sinh do trong thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng đã thực hiện chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho người thứ ba nhưng không có sự đồng ý của phía bên kia
nên sau khi ly hôn khi tiến hành phân chia quyền sử dụng đất là tài sản chung đã
bị chuyển nhượng sẽ nảy sinh tranh chấp giữa vợ chồng. Đặc điểm của tranh
chấp này là quyền sử dụng đất không còn đứng tên vợ và chồng mà bị chuyển
nhượng cho người khác. Để giải quyết tranh châp này thông thường đòi hỏi tòa
án phải xác minh tính hợp pháp của việc chuyển nhượng, xác định lỗi của các
bên, đồng thời xử lý tài sản một cách hợp lý để bảo đảm quyền lợi của các bên
bao gồm cả bên nhận chuyển nhượng,
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển
24
nhượng quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án chia tài
sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn