quyền sử dụng đất của vợ chồng và việc giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng liên quan đến quyền sử dụng đất - Pdf 29

MỞ ĐẦU

Trong quan hệ hôn nhân, quyền sử dụng đất là một loại tài sản mang
tính chất đặc biệt, thường có giá trị thực tế và giá trị sử dụng lớn nhất, có
ý nghĩa nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng nên tranh chấp về
quyền sử dụng đất giữa vợ, chồng diễn ra rất phổ biến về số lượng và
phức tạp về nội dung.
Quyền sử dụng đất của vợ chồng có thể hiểu là quyền khai thác các
thuộc tính có ích từ đất nhằm thỏa mãn nhu cầu của cả vợ và chồng trong
trường hợp quyền sử dụng đất này là tài sản chung; hoặc của riêng một
bên vợ hoặc chồng nếu đó là tài sản riêng trong thời hạn giao đất, cho
thuê đất.
Các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất giữa vợ, chồng là
loại việc có nhiều khó khăn, phức tạp, Tòa án các cấp đã có nhiều cố
gắng để đạt được những tiến bộ về chất lượng xét xử và số lượng án được
giải quyết.Tuy nhiên, việc giải quyết gặp nhiều khó khăn, chậm trễ, nhiều
vụ phải xét xử nhiều lần do không có những quy định điều chỉnh một
cách cụ thể, rõ ràng.
Bài viết của em nêu ra một số những đánh giá, nhận xét và hướng
hoàn thiện về quyền sử dụng đất của vợ chồng và việc giải quyết các
tranh chấp giữa vợ chồng liên quan đến quyền sử dụng đất. Vì đây là
một vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn, nên bài làm
của em có thể còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của thày cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
1
I. Quyền sử dụng đất của vợ chồng
1. Khái niệm quyền sử dụng đất của vợ chồng :
Theo cuốn Từ điển Luật học về Luật đất đai thì : “Quyền sử dụng đất
của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân là quyền khai thác các thuộc tính có ích
từ đất nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng đất trong thời hạn giao

thuê đất.2
2. Xác định quyền sử dụng đất riêng, quyền sử dụng đất chung
của vợ chồng :
a/ Quyền sử dụng đất riêng của một bên vợ hoặc chồng :
Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ chưa phải là vợ chồng của nhau
trước pháp luật. Theo tính chất nghề nghiệp, công việc, các tài sản do họ
tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu
nhập hợp pháp khác đều thuộc quyền sở hữu của mỗi bên. Với tư cách là
công dân, họ là chủ sở hữu những tài sản mà mình có được trước khi kết
hôn. Đồng thời, xét về nguồn gốc tài sản thì những tài sản mà vợ, chồng
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân thuộc
quyền sở hữu riêng của vợ, chồng.
Theo quy định tại khoản 1 điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thì :
“Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi
kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1
Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.”
Căn cứ vào quy định trên thì quyền sử dụng đất riêng của vợ, chồng
bao gồm :
- Quyền sử dụng đất riêng mà vợ, chồng có từ trước khi kết hôn;
- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng
cho riêng trong thời kì hôn nhân;
- Quyền sử dụng đất riêng mà vợ, chồng có được khi chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và các khoản hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản đó.

nhân :
Khoản 7 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khi giải thích từ
ngữ được sử dụng trong luật đã chỉ rõ : “Thời kì hôn nhân là khoảng thời
gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày
chấm dứt hôn nhân.”
Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng
trước pháp luật. Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn
nhân(trừ những tài sản riêng của vợ ,chồng) trong đó bao gồm cả quyền
sử dụng đất đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất là một loại quyền dân sự đặc thù, vì đây là loại
quyền phụ thuộc, chịu sự chi phối bởi quyền độc lập là quyền sở hữu toàn
dân về đất đai; vợ chồng chỉ có được quyền tài sản này khi được Nhà
nước giao đất hoặc cho thuê đất; vợ chồng không có đầy đủ các quyền
năng của chủ sở hữu như đối với các tài sản khác; đồng thời, khi thực
hiện quyền sử dụng đất vợ chồng cũng phải chịu những điều kiện chặt
chẽ được quy định trong pháp luật về hình thức, thời hạn thực hiện
quyền, mục đích sử dụng...
Xuất phát từ tính đặc thù, tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của quyền
sử dụng đất trong đời sống gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
đã có những quy định riêng, cụ thể để làm rõ chế độ pháp lý về loại tài
sản này trong quan hệ giữa vợ và chồng, đây là điểm mới của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986.
Theo khoản 1 Điều 27, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi
kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp được thừa kế riêng.
Theo quy định tại Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì :
- Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hay chồng
được Nhà nước giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các
quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất
nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối; đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm,
đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở được Nhà nước giao, đất chuyên

chồng. Tuy nhiên, khi có tranh chấp, giữa vợ chồng khó chứng minh
được một số tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản
riêng của vợ hoặc chồng. Vì vậy, trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự định
đoạt tài sản của vợ chồng, giữa vợ chồng có thể thỏa thuận cho rằng
quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của
vợ, chồng. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng
đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng cũng sẽ là tài sản
chung của vợ chồng. Đồng thời tại khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và gia
đình, nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc tài sản của vợ chồng đã lần đầu
tiên được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta, do
đó trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất
mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì quyền sử
dụng đất đó là tài sản chung.

* Đăng kí quyền sử dụng đất :
5
Khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật phải
đăng kí quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi
tên cả vợ và chồng. Đây là quy định mới khẳng định sự bình đẳng của vợ
chồng trong quan hệ tài sản, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ
quyền sở hữu của vợ chồng.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì các tài sản
thuộc tài sản chung của vợ chồng khi đăng kí quyền sở hữu phải ghi tên
của cả vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 bao gồm : nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác
mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu (xe môtô, ô tô, tàu,
thuyền đánh cá…). Việc đăng kí các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu
chung của vợ chồng phải ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP được thực hiện kể từ ngày Nghị định này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status