I/ Mở đầu.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, kinh tế đang trở thành dòng chảy chủ
đạo. Hiện nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển và trở thành một chủ
đề quan trọng trong hầu hết các buổi nghị sự của các tổ chức quốc tế. Sự
phát triển thương mại quốc tế đã kéo theo sự phát triển của nhiều yếu tố
khác, một trong các nội dung đó là luật pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế. Tranh chấp thương mại quốc tế là một hiện tượng song
hành với sự gia tăng các luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu, tranh
chấp diễn ra khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã
cam kết. Có thể hiểu tranh chấp thương mại quốc tế trước hết là sự bất đồng
ý kiến, quan điểm của các bên về quyền và lợi ích mà trong đó yêu cầu hay
đòi hỏi của một bên bị bên kia từ chối hay khiếu kiện lại, tuy nhiên điểm
khác biệt với tranh chấp thông thường là đối tượng tranh chấp là các vấn đề
phát sinh từ hoạt động thương mại quốc tế, từ các chính sách thương mại của
quốc gia đi ngược lại với những cam kết quốc tế. Để giải quyết các tranh
chấp, hiện nay ngày càng có nhiều công ước quốc tế, hiệp định song phương
liên quan đến thương mại quốc tế ra đời, thậm chí còn có cả Tổ chức thương
mại thế giới WTO được xây dựng để điều chỉnh quan hệ thương mại giữa
các nước.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế duy nhất
điều hành hệ thống thương mại toàn cầu bằng các luật lệ do các nước và lãnh
thổ thành viên đàm phán và thỏa thuận, sau đó được quốc hội các nước phê
chuẩn, nhằm bảo đảm các dòng thương mại ngày càng trôi chảy, dễ dự đoán,
tự do và công bằng, góp phần xây dựng một thế giới thịnh vượng hơn, hòa
bình hơn và có trách nhiệm hơn. Để thực hiện mục tiêu bao trùm đó, WTO
có các chức năng: quản lý các hiệp định thương mại; làm diễn đàn cho các
cuộc đàm phán thương mại; giải quyết tranh chấp thương mại; kiểm điểm
1
chính sách thương mại của các quốc gia; trợ giúp các nước đang phát triển
về chính sách thương mại; hợp tác với các tổ chức quốc tế khác. Trong bài
viết này, em xin trình bày về vai trò của Tổ chức thương mại thế giới trong
23/1/1995 về việc phân biệt đối xử đối với xăng dầu nhập khẩu từ Venezuela
theo Luật Clean Air của Mỹ được sửa đổi năm 1990. Tiếp đó tháng 4/1995,
Brazil cũng đệ đơn lên DSB kiện Mỹ về vấn đề này. Theo đó, Venezuela và
Brazil cho rằng Mỹ áp dụng những quy định nghiêm ngặt về thành phần hóa
học đối với xăng dầu nhập khẩu so với xăng dầu được tinh lọc trong nội địa,
như thế là không công bằng vì xăng dầu của Mỹ cũng không đáp ứng được
tiêu chuẩn này. Điều này vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và không
thể được xem là ngoại lệ theo quy định thông thường của WTO về sức khỏe
và môi trường. Hội đồng giải quyết tranh chấp đồng ý với luận điểm của
Venezuela và Brazil. Kết quả là Mỹ đã buộc phải đồng ý sửa đổi quy định
này trong vòng 15 tháng, đến ngày 26/8/1997 thì Mỹ ban hành quy định
mới.
Một vụ kiện khác vào tháng 11/2000 liên quan đến quy định về chống
bán phá giá giữa Ấn độ và Mỹ về mặt hàng thép nhập khẩu từ Ấn độ. Theo
đó Ấn cho rằng mặt hàng lá thép của mình hợp tiêu chuẩn của Mỹ, nhưng đã
bị áp dụng quy định về thuế chống bán phá giá và thuế nhập khẩu bổ sung
do kết quả điều tra của Phòng thương mại Mỹ (DOC) là chưa phù hợp với
quy định tại Điều 6, 10 của GATT 1994, điều 1,2,3,5,6,12,15,18 và Phụ lục
số 2 của Thỏa thuận về chống bán phá giá , điều 18 của Thỏa thuận WTO.
Sau khi xem xét hội đồng giải quyết tranh chấp yêu cầu Mỹ phải đưa ra
những tiêu chuẩn tuân thủ theo những nghĩa vụ quy định tại Thỏa thuận
3
chống bán phá giá. Kết quả là các bên đã đạt được thỏa thuận bổ sung tuân
thủ các phán quyết của hội đồng, cũng như cam kết của các bên.
Ngược lại, cũng có khá nhiều vụ kiện mà nước bị kiện là nước đang
phát triển. Các vụ kiện mang mã số WT/DS54, WT/DS55 and WT/DS64 là
ví dụ. Trong đó Indonesia bị EC, Nhật và Mỹ kiện lên BSD về việc
Indonesia đã áp dụng quy định miễn giảm thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt
đối với việc nhập khẩu xe có động cơ nội địa hóa và linh kiện. Phía khởi
kiện cho rằng Indonesia vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều I, III của
Lịch sử đã cho ta những thí dụ về các tranh chấp thương mại đã trở
thành các cuộc chiến tranh. Một thí dụ cụ thể là cuộc chiến tranh thương mại
(trade war) vào năm 1930 khi các nước cạnh tranh nhau tăng hàng rào quan
thuế (trade barrier) để bảo vệ hàng hóa trong nước và trả đũa các nước khác.
Việc này làm gây khủng hoảng kinh tế (trade depression) và phát sinh ra đệ
nhị thế chiến.
Tranh chấp xuất hiện khi một nước thành viên áp dụng một biện pháp,
chính sách thương mại mà một hoặc một số thành viên khác coi là vi phạm
các quyền của họ được quy định trong các hiệp định WTO. Khi một thành
viên đưa tranh chấp ra kiện tại WTO, Hội đồng chung của WTO với vai trò
là cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) sẽ bổ nhiệm một đoàn thẩm phán có
quyền độc lập xem xét vụ kiện và đưa ra phán quyết dựa trên các hiệp định
WTO và cam kết của từng nước thành viên.
Các quy định - hiệp định của WTO về quy trình giải quyết tranh chấp
thương mại và về việc kiểm điểm chính sách là kết quả của các cuộc đàm
5