MỤC LỤC
•
MỤC LỤC...........................................................................................................................1
•
MỞ ĐẦU............................................................................................................................3
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................3
2. Mục đích,đối tượng,giới hạn phạm vi nghiên cứu........................................................4
3. Bố cục của đề tài...........................................................................................................4
•
CHƯƠNG
1.
MỘT
SỐ
VẤN
ĐỀ
LÍ
LUẬN
VỀ
TỘI
VI
PHẠM
QUY
ĐỊNH
VỀ
ĐIỀU
KHIỂN
•
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY VÀ
NHỮNG
VƯỚNG
MẮC,
KHÓ KHĂN.......................................................................................................................17
2.1. Sơ lược về Tòa án nhân dân Thị xã Hương Thủy,tỉnh Thừa Thiên Huế.....................17
2.2. Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy và những vướng mắc, khó
khăn................................................................................................................................17
2.2.1. Tình hình thị xã Hương Thủy,tỉnh Thừa Thiên Huế.............................................17
2.2.2. Tình hình xử lí tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ" trên địa bàn Hương Thủy-tỉnh Thừa Thiên Huế..........................................18
2.2.3. Tình hình xét xử tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy,tỉnh Thừa Thiên Huế về
tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ......................19
2.2.4. Những khó khăn trong công tác xét xử và phương hướng giải quyết,hoàn thiện
......................................................................................................................................21
2.2.4.1. Hạn chế,khó khăn..............................................................................21
2.2.4.1. Phương hướng giải quyết,hoàn thiện................................................21
•
KẾT LUẬN.........................................................................................................................23
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của nước ta chuyển sang nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đã có những bước
xử lý của tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ" trong giai đoạn những năm hiện nay để từ đó tìm ra những biện pháp,
kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội “vi phạm điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ”.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu khái niệm, các dấu hiệu
pháp lý của tội cướp giật tài ểsản, đưa ra một số biện pháp, kiến nghị hoàn
thiện các quy định tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ".
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tội "vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ" và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân
dân thị xã Hương Thủy- tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phạm vi nghiên cứu: Niên luận tiến hành thu thập và nghiên cứu số liệu
thống kê trong 03 năm, từ năm 2010 đến năm 2013 trên phạm vi thị xã
Hương Thủy- tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bằng các dữ liệu thu thập thông qua việc tham gia các phiên toà xét xử
cũng như nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, tôi đã tiến hành phân loại các tài liệu
thu thập được để hoàn thành chuyên đề.
3. Bố cục của đề tài
Bao gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về tội “vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ”
5
Chương 2: Thực tiễn xét xử tại TAND thị xã Hương Thủy – những
khó khăn và vướng mắc
Chương 3: Nhận xét, phương hướng, giải pháp hoàn thiện
9
Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi "vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ". Điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ là hành vi trực tiếp thực hiện các chức năng điều khiển sự vận
động của phương tiện giao thông đường bộ. Do đó, vi phạm quy định về
điều khiền phương tiện giao thông đường bộ là hành vi của người trực tiếp
tham gia giao thông vi phạm các quy định trực tiếp nhằm bảo đảm sự an
toàn trong hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ.
Hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ thường được biểu hiện ở những vi phạm sau đây: Vi phạm về tốc
độ (đi quá tốc độ cho phép hoặc không đúng tốc độ quy định ); chở quá
trọng tải; vượt trái phép (vượt ẩu khi chưa có điều kiện an toàn); đi không
đúng phần đường quy định. Bên cạnh những vi phạm về kỹ thuật an toàn
giao thông đường bộ nêu trên thì những hành vi vi phạm các quy định về an
toàn giao thông đường bộ còn thể hiện ở những hành vi như: Điều khiển
phương tiện giao thông vận tải đường bộ mà không có giấy phép lái xe; điều
khiển phương tiện trong khi đang say rượu hoặc say do dùng chất kích thích
mạnh khác. Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 không nêu rõ những hành vi như
thế nào là "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ", do đó, để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo Điều 202 Bộ luật hình sự
1999 thì cần phải xác định những quy định cụ thể nào bị vi phạm văn cứ vào
“Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô
thị”. Như vậy nghĩa là việc xác định hành vi vi phạm các quy định về điều
kkhiển phương tiện giao thông đường bộ không chỉ căn cứ vào các quy định
của Bộ luật Hình sự mà còn phải căn cứ vào các quy định của Luật Giao
thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn khác của cơ quan có thẩm quyền.
1.2.2.2. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội "vi phạm quy định về
Trong một cấu thành tội phạm, nếu hậu quả đã được phản ánh là một
dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan thì mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi khách quan và hậu quả cũng sẽ là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan
của cấu thành tội phạm. Do đó, việc áp dụng cấu thành tội phạm đối với tội
"vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" không
12
chỉ đòi hỏi phải xác định được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà còn phải
xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Ví dụ, theo
Điều 9 Luật giao thông đường bộ qui định qui tắc đường bộ: “Người tham
gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường,
phần đường qui định và phải chấp hành hệ thống biển báo đường bộ”.
Không tuân thủ quy định trên, Nguyễn văn B điều khiển xe ô tô đi vào phần
đường bên trái theo chiều đi của mình để đầu xe ô tô đâm vào chị A làm chị
A chết tại chỗ. Mối quan hệ nhân quả của vụ tai nạn là hành vi không chấp
hành Luật giao thông đường bộ của B, thể hiện về mặt khách quan đó là B
đã điều khiển xe ô tô đi sai quy định đâm vào chị A, hậu quả là chị A tử
vong. Hậu quả chị A tử vong nhưng đồng thời là mặt khách quan do tội
phạm gây ra.
Tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ" có cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả phải là đấu hiệu bắt buộc của
mặt khách quan. Việc xác định hậu quả có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định tội danh và quy định hình phạt. Vì vậy khi định tội, định khung hình
phạt cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả
thực tế xảy ra. Khi có một vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra thường do
một loạt các nguyên nhân và điều kiện tác động, gắn liền với nhau. Chúng
có thể là hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện giao thông, có
thể là lỗi của người bị hại, hoặc do lỗi của cả hai bên, thậm chí là do lỗi của
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cấu thành để có thể xác
định con người có thể có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Chỉ những người nào có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể
của tội phạm.
Luật Hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định như thế nào là có
năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự ( Điều 12 BLHS 1999 ) và quy định thế nào là trường hợp trong tình
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 13 BLHS 1999). Do đó
có thể hiểu rằng: Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật Hình sự
14
Việt Nam là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc
trường hợp ở trong trạng thái không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Đối với tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ", chủ thể của tội phạm là chủ thể thường. Bất kỳ người nào từ đủ
16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, trực tiếp điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ, trong đó bao gồm cả người trực tiếp điều
khiển các phương tiện thô sơ đường bộ.
Tuy không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng chỉ những người điều khiển
các phương tiện giao thông đường bộ mới là chủ thể của tội phạm này.
Khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý: Người điều khiển
phương tiện giao thông cũng là người tham gia giao thông, nhưng người
tham gia giao thông thì có thể không phải là người điều khiển phương tiện
giao thông. Đây cũng là dấu hiệu phân biệt tội phạm này với các tội vi phạm
an toàn giao thông khác.
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông gồm người điều khiển
xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Người tham gia giao thông đường bộ gồm người điều khiển, người sử
tội là không có cơ sở, do đó, thực tế tai nạn đã xảy ra trái với nhận thức, trái
với ý muốn của họ.
Vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù họ buộc phải
thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó nhưng do cẩu thả, không để ý nên
đã không thấy được. Lỗi vô ý do cẩu thả trong tội "vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ" thường được thể hiện trong những
trường hợp như người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa
được đào tạo, học tập về quy tắc an toàn giao thông đường bộ; hoặc trường
hợp người phạm tội do không quan sát biển báo giao thông.
Tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ" không có lỗi cố ý. Nếu một người cố ý sử dụng phương tiện giao thông
đường bộ để gây chết người hoặc gây thương tích cho người khác hoặc hủy
16
hoại tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng ( giết người,
cố ý gây thương tích hoặc hủy hoại tài sản ).
1.2.4.2. Động cơ và mục đích của tội "vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ"
Như phần lớn các tội khác thuộc nhóm tội Xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ, mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành của tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ".
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực
hiện hiện hành vi phạm tội cố ý. Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức
chủ quan của người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi
phạm tội. Tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ" được thực hiện với lỗi vô ý, người phạm tội hoàn toàn không
địa lý: Phía đông giáp huyện Phú Lộc; phía tây giáp Thị xã Hương Trà, phía
Nam giáp huyện Nam Đông, phía bắc giáp Thành Phố Huế và huyện Phú
Vang. Diện tích 458km2, dân số: 9,6 vạn người. Thị xã Hương Thủy có 12
đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 5 phường và 7 xã.
Nằm ở cửa ngõ phía nam thành phố Huế, Thị xã Hương Thủy có nhiều
điều kiện thuận lợi và tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội với hệ thống
giao thông thuận lợi bao gồm tuyến đường sắt Bắc- Nam chạy qua địa bàn
thị xã, hệ thống quốc lộ 1A, Đường tránh Huế, nhiều con đường liên tình,
18
sân bay quốc tế Phú Bài, hệ thống sông chảy qua thị xã tạo điều kiện thuận
lợi cho giao thông đi lại. Hương Thủy còn có các cụm tiểu thủ công nghiệp,
khu công nghiệp Phú Bài là động lực phát triển của Thị xã, bên cạnh đó
Hương Thủy còn có nhiều di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng canh nổi
tiếng. Với những tiềm năng và lợi thế sẵn có đó, thị xã hoàn toàn có điều
kiện để phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng bộ máy chính quyền vững mạnh.
Trong những nam vừa qua, nền kinh tế thị xã Hương Thủy có những bước
chuyển biến mạnh mẽ, nhu cầu đi lại của người dân rất lớn, nhiều tuyến
đường được mở rộng cũng như làm mới, kéo theo đó là nhiều vấn đề nảy
sinh trong hoạt động giao thông đường bộ. Tình hình trật tự an toàn giao
thông đường bộ cũng chính vì vậy mà trở nên phức tạp hơn.
2.2.2. Tình hình xử lí tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ" trên địa bàn Hương Thủy-tỉnh Thừa Thiên Huế
Trong những năm gần đây, toàn quốc nói chung và trên địa bàn thị xã
Hương Thủy nói riêng đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đường bộ, gây
ra những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhân
dân. Nguyên nhân gây ra tai nạn ngoài cơ sở hạ tầng giao thông còn yếu
kém ra thi nguyên nhân chủ yếu vẫn là do người dân khi tham gia vào hoạt
59
38
13
315
2011
42
26
04
127
2012
21
18
09
109
2013
Án tội “vi phạm quy định
Năm
Tổng số vụ án hình sự
điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Số vụ thụ lý: 54 vụ
Số vụ thụ lý: 11 vụ
Số vụ đã giải quyết: 50/54
Số vụ đã giải quyết: 9/11
Đạt 87,5%
Số vụ thụ lý : 56 vụ
Đạt: 95.5%
Số vụ thụ lý: 21 vụ
Số vụ đã giải quyết: 63/67
Số vụ đã giải quyết: 19/21
Đạt: 93.1%
Số vụ thụ lý: 71 vụ
Đạt: 95.8%
Số vụ thụ lý: 26
Số vụ đã giải quyết: 58/71
Số vụ đã giải quyết: 24/26
Đạt: 93.6%
Đạt: 96.1%
(Nguồn: sổ thống kê công tác xét xử của Tòa án nhân dân thị xã
Hương Thủy - Thừa Thiên Huế)
Qua các số liệu trên ta nhận thấy số vụ án được giải quyết hàng năm
ngày càng tăng, số vụ án tồn đọng ngày càng giảm. Tỷ lệ các vụ án tội “vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được giải
quyết luôn ở con số trên 80%, trong khi đặc điểm các vụ án này là rất phức
tạp và số lượng các vụ án nhiều như trên, để đạt được thành tích đó, các cán
bộ tòa án đã phải phân công 1 thẩm phán có kinh nghiệm và chuyên môn
vững chắc để có thể xử lí các vụ án đúng theo quy định của pháp luật.
22
- Nhà nước cần làm tốt hơn nữa trong công tác tuyên truyền pháp luật,
để các văn bản quy phạm pháp luật đến tận người dân, từ đó nâng cao được
trình độ dân trí nói chung, trình độ pháp luật nói riêng.
- Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền cần hoàn thiện hơn Bộ luật
hình sự 2009
- Tòa án cũng phải làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật, tăng cường
xét xử lưu động. chính việc đưa các vụ án về tội “vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ” xét xử lưu động tại địa phương là
một kênh tuyên truyền pháp luật cực kỳ có hiệu quả, vì thông qua đó người
dân có những ứng xử theo đúng quy định của pháp luật.
- Nhà nước cần tăng cường hơn nữa kinh phí cho tòa án để tòa án tăng
cường xét xử lưu động vì tòa án cấp huyện là tòa án xét xử gần dân nhất,
trực tiếp xét xử các tranh chấp và mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư.
- Nhà nước cần tăng biên cường biên chế cho tòa án cấp huyện, đặc biệt
tăng thẩm phán cho tòa án cấp huyện, ở tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy
với 09 biên chế, trong đó có 3 thẩm phán, mà 2 thẩm phán là lãnh đạo cho
nên cũng bận nhiều công việc như họp hành và lưu ban.., cho nên nó ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết của tòa án. Theo phản ánh của tòa án
hơn 5 năm nay vẫn chỉ có 3 thẩm phán trong lúc đó các mâu thuẫn phát sinh
trong cuộc sống ngày càng phức tạp, số lượng các vụ án tòa án phải giải quyết
ngày càng tăng,nhất là các vụ án về hình sự ngày càng tăng nhiều hơn cho
nên áp lực đối với các thẩm phán là rất lớn trong việc giải quyết các vụ án.
23