VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU DUNG
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TÌNH HÌNH TỘI VI PHẠM QUY
ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 62 38 01 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại Học Viện Khoa Học xã Hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hồ Sỹ Sơn
Phản biện 1: .........................................................................................................
.................................................................................................
Phản biện 2: .........................................................................................................
.....................................................................................................
án tiến sĩ nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa
bàn thành phố Hải Phòng. Trong khi đó, hiệu quả phòng, chống tình
hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó không thể không nói đến yếu tố
“địa lý học” của tình hình tội phạm này. Vì vậy, một công trình nghiên
cứu tội phạm học ở tầm luận án tiến sĩ xuất phát từ nhiều yếu tố, nhất là
yếu tố “địa lý học của tình hình tội phạm” phân tích tình hình tội vi
2
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa
bàn thành phố, nguyên nhân và điều kiện cũng như dự báo tình hình tội
này trong tương lai để đề xuất các giải pháp phòng ngừa có hiệu quả là
nhu cầu của cuộc sống. Từ những phân tích khái quát trên đây, có thể
khẳng định rằng đề tài luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành tội phạm
học và phòng ngừa tội phạm “Đấu tranh phòng, chống tình hình tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa
bàn thành phố Hải Phòng” có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn to lớn.
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu: Luận án đề xuất hệ thống các giải pháp
phòng, chống có hiệu quả tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông này trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo pháp luật hình
sự Việt Nam. Mô tả, phân tích, đánh giá về nguyên nhân, điều kiện của
tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ trong 10 năm (2005 - 2014) trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về tội phạm học của
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
Luận án làm rõ tình hình cũng như nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất được các giải pháp
phòng, chống có tính khả thi và có hiệu quả cao.
VI. Ý nghĩa của Luận án
Về mặt khoa học: Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận
về phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ; có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy,
4
học tập và nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực tội phạm học và khoa
học luật hình sự.
Về mặt thực tiễn: Nội dung của luận án là cơ sở cho các cơ quan
lập pháp xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự
chưa hoàn thiện về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ; các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân xây dựng và áp
dụng các giải pháp phòng, chống có hiệu quả tình hình tội nói trên trên
địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.
VII. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận án gồm 4 chương, các tiết.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Công trình nghiên cứu ở ngoài nước:
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu được công bố mà trong
quá trình thực hiện đề tài luận án này, tác giả đã tham khảo và chia ra
nhóm các quốc gia như sau:
Ở Mỹ: Chương trình “State of New Jesey: Light Safety Camera
công phu mang tính chất đa ngành, liên ngành y học – xã hội học hướng
vào lý giải nguyên nhân của tai nạn giao thông và xây dựng các giải
pháp khắc phục. Cũng như nước Mỹ, nước Pháp là quốc gia phát triển
có hệ thống đường sá tốt do đó để giải quyết những vấn đề về giao thông
trong hệ thống quốc lộ, cao tốc…quốc gia này đặc biệt quan tâm tới việc
đảm bảo tốc độ, kiểm soát tốc độ để đưa ra những biện pháp xử lý vi
phạm giao thông một cách hiệu quả từ đó giảm thiểu, khắc phục ùn tắc
vốn là một trong những nguyên nhân có thể gây tai nạn.
Tại Châu Á: Trong số những công trình nghiên cứu đã được công
bố, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của tác giả Gururaj. G có tựa đề
“Alcohol and road traffic injuries in South Asia challenges for
prevention”, tạm dịch là “Rượu và tai nạn giao thông đường bộ ở Nam
6
Á: thách thức đối với công tác phòng, chống”, được ông thực hiện dựa
theo nguồn (số liệu) của Viện Sức khỏe tâm thần và khoa học thần kinh
Bangalore, Ấn Độ. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng tăng cường thực hiện các
giải pháp cụ thể, trong đó có giải pháp tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và
dễ hiểu trong nhân dân về tai nạn giao thông đường bộ ở Ấn độ và các
bước ngăn chặn “Steps to be taken for Preventing road accidents in
India”.
Một trong những công trình nghiên cứu được tác giả luận án này
khảo cứu là công trình “Traffic injuries: a new agenda for child health”
tạm dịch là “Tai nạn giao thông: một chương trình nghị sự mới cho sức
khỏe trẻ em” của các tác giả Qureshi AF, Bose A, Anjum QRoad thuộc
Trường Cao đẳng Bác sĩ và bác sĩ phẫu thuật Pakistan, Karachi, Pakistan.
Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra hệ thống các biện
pháp hạn chế các trường hợp trẻ em tử vong do tai nạn giao thông
đường bộ và phương pháp tạo ra một môi trường an toàn cho trẻ em khi
trong bài viết “China’s road traffic accidents in the first half of 2009”
(Tai nạn giao thông đường bộ của Trung Quốc trong nửa đầu năm 2009)
đăng ngày 20/7/2009. Những giải pháp này đã giúp Trung Quốc giảm
đáng kể số vụ tai nạn giao thông cũng như xử lý ngay những điểm ùn tắc
đem lại hiệu quả trong công tác phòng ngừa tai nạn.
Nghiên cứu tình hình tai nạn giao thông ở một số quốc gia ở Tây
Thái Bình Dương, Đông Nam Á và Châu Á, Gérard Lautrédou người
đứng đầu Hội Chữ thập đỏ Pháp tại Việt Nam đã cho công bố trên Tạp
chí quốc tế Hội chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế bài viết“Road
safety is no accident” (tạm dịch là An toàn giao thông là không tai nạn),
trong đó ông nhận xét và đánh giá một cách tổng thể tình hình tai nạn
giao thông tại một số quốc gia ở Tây Thái Bình Dương, Đông Nam Á và
Châu Á phân tích nguyên nhân và điều kiện của nó, trên cơ sở đó đề
xuất những biện pháp mà mỗi quốc gia cần triển khai để kiềm chế tai
8
nạn giao thông cho phù hợp với đặc điểm về văn hoá, địa lý tự nhiên của
mỗi quốc gia.
Từ những nội dung khái quát của những công trình nghiên cứu ở
một số nước trên thế giới mà tác giả luận án này có tham khảo, phục vụ
cho việc nghiên cứu đề tài luận án của mình. Kết quả nghiên cứu cho
thấy giao thông cũng như an toàn giao thông là một trong những mối
quan tâm hàng đầu, chiến lược phát triển gắn với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Các khu vực, châu lục đều có những đặc
điểm tự nhiên, văn hóa xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng và sự phát triển kinh
tế ở mức độ khác nhau do đó mỗi quốc gia đều đưa ra nhiều giải pháp
mang tính đặc thù để kiềm chế tai nạn giao thông. Các quốc gia này
cũng đưa ra những phương hướng phòng ngừa tội phạm về giao thông
có kết hợp để vừa phù hợp với đặc điểm của quốc gia mình vừa đảm bảo
giải pháp” của tác giả Quách Ngọc Tuấn, bảo vệ thành công năm 2004
tại Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Đấu tranh phòng,
chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, bảo vệ
thành công năm 2010 tại Viện Nhà nước và pháp luật... Những luận văn
thạc sĩ luật học nghiên cứu tội vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ dưới góc độ tội phạm học trên đây đều gắn
việc nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội phạm, các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm (cụ thể) với
địa bàn nhất định, do vậy cung cấp cho tác giả chẳng những những kiến
thức cơ bản về tội phạm học mà còn cả cách tiếp cận thực tiễn của vấn
đề nghiên cứu, cho phép tác giả luận nhìn nhận tính đa dạng, phức tạp,
nhiều tầng nấc, cấp độ của tình hình tội phạm vốn được quyết định bởi
nguyên nhân và điều kiện của nó. Nội dung đó cũng rất phong phú, đa
dạng, nhiều cấp độ cung cấp cái nhìn sát thực tính quyết định về mặt xã
10
hội của các giải pháp phòng ngừa tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông trên địa bàn cụ thể.
- Bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành nghiên
cứu tội phạm dưới góc độ tội phạm học mà tác giả luận án tham khảo,
như: “Bàn về nguyên nhân của tình hình tội phạm”của tác giả Trần Hữu
Tráng, đăng trên Tạp chí Luật học, số 11 năm 2010; “Tác động của kinh
tế thị trường đến tình hình tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở nước ta”
cũng của tác giả Trần Hữu Tráng, đăng trên Tạp chí Luật học, số 1 năm
2010; “Cơ chế hành vi phạm tội cơ sở để xác định nguyên nhân và biện
pháp phòng ngừa tội phạm” của tác giả Phạm Văn Tỉnh đăng trên Tạp
chí Kiểm sát, số 1 năm 1996; “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình
tội phạm ở nước ta hiện nay – Mô hình lý luận”của tác giả Phạm Văn
nhân dân, số 6 năm 2005; “Một số vấn đề về định tội và định khung tăng
nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ” của tác giả Huỳnh Quốc Hùng công bố trên Tạp chí
Tòa án nhân dân số 9 năm 2007; Đề tài cấp bộ “Các giải pháp phòng
ngừa tai nạn giao thông ở Việt Nam hiện nay” do Trương Quốc Giao
làm chủ nhiệm năm 2004... Bằng các cách tiếp cận khác nhau, các công
trình nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự đều hướng
vào làm rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạm nói chung và của tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói
riêng, qua lăng kính định tội danh và quyết định hình phạt trong thực
tiễn xét xử để tìm ra những thiếu sót, hạn chế của pháp luật quy định xử
lý đối những dạng vi phạm trong tội danh này từ đó đề xuất những
phương hướng giải pháp hoàn thiện về mặt khoa học pháp lý và hệ
thống các văn bản hướng dẫn thi hành sao cho đồng bộ, thống nhất dễ
dàng áp dụng trong thực tiễn.
Những công trình nghiên cứu được khảo cứu trên đây, như đã
nhấn mạnh, đã đánh giá thực trạng tai nạn giao thông và những giải
12
pháp để kiềm chế tai nạn ở phạm vi địa phương, quốc gia và châu lục.
Việc khảo cứu những công trình nghiên cứu đó, như đã nhấn mạnh,
chẳng những cho thấy bức tranh toàn cảnh về những vấn đề liên quan
đến đề tài luận án này đã được nghiên cứu một cách thấu đáo, được
nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ cần được bổ sung mà còn đặt ra những
vấn đề cần được nghiên cứu. Đối với địa bàn cụ thể, nói ở đây là thành
phố Hải Phòng, việc đánh giá tình hình vi phạm giao thông nói chung và
tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ nói riêng; việc xác định nguyên nhân và điều kiện của chúng
cũng như việc xây dựng biện pháp phòng ngừa chúng phải phù hợp với
công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Có
thể thấy nội hàm của khái niệm tội phạm đã được mở rộng về chủ thể
của tội phạm, về khách thể bảo vệ của Bộ luật hình sự. Tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại
Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, nay trong Điều 260 BLHS năm
2015 có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 được mang tên là Tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ. Theo Điều 260 BLHS năm
2015 “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về
an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây,
thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Như
vậy, theo Điều 260 trên đây phạm vi chủ thể của tội này đã được mở
rộng, điều này phù hợp với bản chất của tội phạm, khắc phục được
những bất cập hạn chế của pháp luật hình sự về tội đang nghiên cứu. Dĩ
nhiên, điều đó cho phép xử lý có hiệu quả hơn những hành vi vi phạm
về an toàn giao thông đường bộ mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm.
Theo lôgic của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng thì khái niệm tội
cụ thể nào đó cũng phải hàm chứa các dấu hiệu nói trên. Tuy nhiên, do
đặc điểm của tội cụ thể mà cách quy định có khác nhau. Từ nội hàm của
quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 và tại khoản 1 Điều 8
BLHS năm 2015; Điều 202 BLHS năm 1999 và Điều 260 BLHS năm
2015, có thể xây dựng khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ, theo đó: “Tội vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định tại trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ, thuộc một trong các trường hợp mà Bộ luật
hình sự quy định là tội phạm”.
Khái niệm trên đây về tội vi phạm quy định về điều khiển phương
năm 2014 là 787 vụ với 817 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội danh này, tính
tròn số trung bình mỗi năm toàn thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm
15
78,7 vụ với 82 bị cáo phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ. Qua số liệu thấy tình hình tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hải Phòng biến
động không đều.
ii. Mức độ tổng quan tương đối: Theo kết quả tính toán từ số liệu
thống kê ta có 4,0% về số vụ và 2,96% về số bị cáo phạm tội vi phạm
quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã bị xét xử.
Như vậy, xét về tỷ lệ số vụ và số bị cáo phạm tội đã bị xét xử, mức độ
của tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng là không cao.
iii. Mức độ tổng quan so sánh
* So sánh trên bình diện quốc gia:
Thành phố Hải Phòng có 787 số vụ với 817 bị cáo so với 47.167
vụ án với 48.786 bị cáo/63 tỉnh thành được thống kê về tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (chiếm tỷ lệ 1,66%
số vụ và chiếm tỷ lệ 1,67% số bị cáo so với tổng số cả nước).
* So sánh với một số tỉnh, thành phố: trong số 3 tỉnh, thành phố
tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ ở một số địa danh có vị trí địa lý gần Hải Phòng như: Hải
Dương, Quảng Ninh. Qua nghiên cứu và phân tích thấy rằng tình hình
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
trên địa bàn thành phố Hải Phòng so với các tỉnh, thành phố nói trên ở
mức độ cao hơn nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng giảm
dần.
2.2.1.2. Diễn biến (động thái) của tình hình tội vi phạm quy định
bộ diễn ra phức tạp. Sở dĩ, các tháng (1, 2, 3, 4) nằm trong dịp tết âm
lịch; các (7, 9) là tháng học sinh tập trung khai giảng, tháng chuẩn bị kết
thúc năm học và thi đại học.
17
v. Cơ cấu xét theo mức độ hậu quả xảy ra: Trong 787 vụ án đã xét
xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ với số người chết là 826 người, đây là số đã được cơ quan Công an,
Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết theo con đường tố tụng. Như vậy, còn
số người chết do tai nạn giao thông đường bộ không khởi tố hình sự
hoặc đã khởi tố nhưng không bắt được đối tượng gây án nằm trong con
số người chết là 933 người, tỷ lệ người chết trong trường hợp này chiếm
tỷ lệ cao nhất, tỷ lệ tội phạm ẩn cũng nằm trong số này.
vi. Cơ cấu xét theo độ tuổi của người phạm tội
Độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi, chiếm 65%, ở vào độ tuổi từ 30 đến 45
tuổi chiếm 23%, từ 45 tuổi trở lên chiếm 7% và dưới 18 tuổi chiếm 5%.
Như vậy, nhóm người từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất và duy trì
đều trong 10 năm từ năm 2005 đến năm 2014.
vii. Cơ cấu xét theo giới tính của người phạm tội
Nam giới chiếm tuyệt đại đa số chiếm tỷ lệ 97%, trong khi người
phạm tội này là nữ giới chỉ chiếm tỷ lệ 3%.
viii. Cơ cấu xét theo nghề nghiệp, thành phần xã hội
Tổng số 817 bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ có 7 trường hợp tái phạm, 10
người phạm tội là lưu manh chuyên nghiệp; 15 người phạm tội là sinh
viên; 3 người phạm tội là cán bộ, công chức, viên chức, 1 người phạm
tội là Đảng viên, 3 người là cán bộ lãnh đạo cấp huyện trở lên, 2 người
là cán bộ cấp xã phường. Đối với những người có thành phần xã hội
phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ
năm 2005 đến năm 2014.
2.2.2.1. Phần ẩn của tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng do
nguyên nhân chủ quan (tội phạm ẩn nhân tạo).
19
Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến ẩn của tình hình
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
trên địa bàn thành phố Hải Phòng là sự phối kết hợp giữa Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc giải quyết các vụ án vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đôi khi còn chưa
tốt, chưa tạo ra sự đồng thuận trong quá trình giải quyết vụ án. Điều đó
làm tỷ lệ ẩn của tình hình tội phạm này còn rất cao.
2.2.2.2. Phần ẩn của tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng do
nguyên nhân khách quan (tội phạm ẩn tự nhiên).
*Tội phạm ẩn khách quan có lý do ẩn từ phía chủ thể của hành vi
phạm tội
Tỷ lệ tái phạm đối với tội phạm này thấp. Điều đó có nguyên
nhân từ yếu tố cấu thành của tội phạm. Là tội phạm được thực hiện do
lỗi vô ý (có thể là vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do qúa tự tin) gây tai nạn
dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tỷ lệ ẩn trong 0,84% người phạm tội lần
đầu rất khó xác định bởi lẽ khi hành vi phạm tội của họ xảy ra đã bị phát
hiện và xử lý, thì dù thời điểm trước họ có gây tai nạn dẫn đến hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng mà không bị phát hiện thì lần phạm tội này nếu
bản thân cá nhân không khai nhận thì cũng không thể xác định được.
*Tội phạm ẩn khách quan có lý do xuất phát từ phía bị hại
Khi vụ tai nạn xảy ra, do nhận thức là lỗi vô ý nên bị hại và
giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong quản lý phương tiện,
đào tạo, cấp giấy phép lái xe trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong phân làn, phân luồng
giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Những hạn chế, bất cập, thiếu sót trong quản lý kinh doanh vận
tải trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
21
- Những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong đăng kiểm xe ô tô trên
địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Những hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về an toàn
giao thông đường bộ.
- Những hạn chế, bất cập trong việc quyết định hình phạt của Tòa
án.
- Các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên - địa lý, xã hội của thành
phố Hải Phòng ảnh hưởng đến tình hình tội vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ.
3.2. Các yếu tố tiêu cực thuộc về chủ thể của tội phạm
i. Đặc điểm, dấu hiệu nhân chủng học – xã hội của người phạm
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
* Đặc điểm “địa lý học”
So sánh các số liệu trong 02 tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh với
thành phố với Hải Phòng. Tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng so
với các tỉnh, thành phố nói trên ở mức độ trung bình và trong tầm kiểm
soát và có xu hướng giảm dần. Qua số liệu trên ta thấy tính chất vùng,
miền đã ít nhiều ảnh hưởng tới hành vi tham gia giao thông tiêu cực của
người dân nơi đây. Cần nhấn mạnh rằng đặc điểm địa lý, văn hóa, kinh
đều phải trải qua quá trình xã hội hóa, tức là quá trình cá nhân nhập nội
các khuôn mẫu, chuẩn mực của pháp luật về giao thông đường bộ và
biến chúng thành những động lực thức đẩy và chi phối sự suy nghĩ, hành
động của bản thân mình trong quá trình thực hiện tương tác giao thông.
Đứng trước những hành vi lệch chuẩn khi điều khiển phương tiện tham
gia giao thông của cá nhân, thì cộng đồng xã hội phải ra sức ngăn ngừa
và kiểm soát chúng nhằm tạo ra môi trường tham gia giao thông lành
mạnh, ổn định và phát triển.
23
CHƯƠNG 4. HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP TĂNG
CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI
GIAN TỚI
4.1. Dự báo tình hình tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hải Phòng
trong thời gian tới.
- Dự báo trong những năm tới, các loại phương tiện phổ biến như
xe tô tô, xe mô tô, xe đạp điện sẽ gia tăng còn số lượng xe đạp sẽ giảm.
Tình trạng xe mô tô hết đăng kiểm nhưng chủ xe chưa tiến hành đăng
kiểm lại hoặc xe hết niên hạn sử dụng vẫn tiếp tục lưu hành. Từ những
nhận định trên đây, có thể dự báo trong những năm tới tình hình tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa
bàn thành phố Hải Phòng sẽ còn diễn biến phức tạp, số người chết và số
vụ giao thông có khả năng gia tăng. Số người bị khởi tố hình sự có độ
tuổi từ 18 đến 30 vẫn chiếm tỷ lệ cao, về giới tính số bị cáo nam vẫn
chiếm đa số.
4.2. Hệ thống các biện pháp tăng cường phòng ngừa tình hình