ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
KHÓA 2010 - 2014
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HƯƠNG THỦY - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Nguyễn Thị Thúy Hằng Lê Thanh Thọ
Lớp: K34A - Dân Sự
GVHD:
Huế, 03/2014
Để hoàn thành bài khóa luận này,
trước tiên cho em xin chân thành cảm ơn quý
thầy cô giáo đã tận tình dạy dỗ và trang bò
cho em những kiến thức cần thiết và nhiệt
tình giúp đỡ em trong suốt thời gian em học
dưới mái trường Khoa Luật - Đại học Huế. Em
xin cám ơn các cô chú Tòa án nhân dân
Thò xã Hương Thủy - Tỉnh Thừa Thiên Huế
đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em hoàn
thành bài viết. Đặc biệt em xin gởi lời cảm
ơn sâu sắc đến cô ThS. Nguyễn Thò Thúy
Hằng - người đã trực tiếp hướng dẫn em
hoàn thành bài khóa luận này.
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình làm
bài, tuy nhiên nội dung bài khóa luận này
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu
qua từng thời kỳ lịch sử 14
1.2.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam 14
1.2.2. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ Pháp thuộc 16
1.2.3. Chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống pháp luật miền
Nam nước ta trước ngày thống nhất (1954-1975) 18
1.2.4. Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ nước
ta từ Cách mạng Tháng Tám đến nay 19
1.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật hiện hành
20
1.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 20
1.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước hoặc bị
tòa án tuyên bố là đã chết 29
1.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36
Chương 2
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG TẠI TAND THỊ XÃ HƯƠNG THỦY,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 42
SVTH:
GVHD:
2.1. Tình hình giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng tại TAND Thị xã
Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế 42
2.2. Những khó khăn, tồn tại trong quá trình giải quyết chia tài sản chung của
vợ chồng 53
2.2.1. Khó khăn, vướng mắc về mặt lập pháp 53
2.2.2. Khó khăn, vướng mắc xuất phát từ thực tiễn giải quyết chia tài
sản chung của vợ chồng tại Tòa án nhân dân Thị xã Hương Thủy 63
2.2.3. Khó khăn từ nhận thức của người dân trong chia tài sản chung
của vợ chồng 66
quan trọng nhất của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên không
phải đời sống vợ chồng lúc nào cũng thuận lợi, bên cạnh đó do nhu cầu
riêng mà các bên buộc phải chia tài sản chung của vợ chồng. Xuất phát từ
đời sống xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, kế thừa
và phát triển các quy định của pháp luật trước đây mà Luật HN&GĐ năm
2000 đã quy định ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng bao
gồm: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi
một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, cùng
với sự biến đổi không ngừng của các quan hệ xã hội, quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ về chia tài sản chung của vợ chồng tỏ ra chưa phù
hợp với tình hình mới vì đã được ban hành cách đây 13 năm, điều đó làm
cản trở sự phát triển của các quan hệ đó. Điều này cũng dẫn đến một hệ
quả nữa là việc giải quyết tài sản chung của vợ chồng trên thực tế xảy ra
nhiều vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng. Chính
vì vậy đòi hỏi phải nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và đầy đủ về
các quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng nhằm góp
SVTH:
7
GVHD:
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn
đó, tác giả đã chọn đề tài “Chia tài sản chung của vợ chồng- Thực tiễn
giải quyết tại Tòa án nhân dân Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên
Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:
Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng,
tìm hiểu thực tế áp dụng giải quyết chế độ tài sản chung của vợ chồng trong
hoạt động giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng tại TAND
Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
luật, các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng gia đình Việt
Nam ấm no, hạnh phúc, văn minh.
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như
phân tích, tổng hợp, lôgic, lịch sử, sử dụng kết quả thống kê,… nhằm làm
sảng tỏ các vấn đề trong nội dung khóa luận.
5. Cơ cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của khóa luận bao gồm 02 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chia tài sản chung của
vợ chồng.
Chương 2: Thực tiễn giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng tại
TAND Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế. Một số kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng.
SVTH:
9
GVHD:
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA
TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Để tìm hiểu khái niệm tài sản chung của vợ chồng thì trước hết phải
tìm hiểu khái niệm tài sản bởi tài sản chung của vợ chồng cũng là một loại
tài sản theo pháp luật dân sự, vì vậy nghiên cứu vấn đề tài sản chung của
vợ chồng cũng đặt trong chế định tài sản nói chung. Theo quy định của
Điều 163 BLDS 2005 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản”.
mơ hồ và khó định lượng, bên cạnh đó việc sở hữu tài sản chung của vợ
chồng không chỉ nhằm đảm bảo nhu cầu chung của gia đình mà còn nhằm
để thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Từ những phân tích trên, tác giả xin mạnh dạn đưa ra định nghĩa về tài
sản chung của vợ chồng như sau: Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do
pháp luật quy định hoặc do vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung của vợ
chồng; vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó nhằm
đảm bảo nhu cầu của gia đình hoặc thực hiện nghĩa vụ chung của vợ
chồng một cách bình đẳng.
1.1.2. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
Trong quan hệ hôn nhân gia đình, đặc biệt trong tư tưởng người Á
Đông thì khi xác lập quan hệ vợ chồng, người ta chỉ quan tâm đến yếu tố
tình cảm, còn vấn đề tài sản thì ít được đề cập đến, vì vậy bình thường, tài
sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất - phần quyền sở hữu của
vợ, chồng không được xác định trước. Tuy nhiên, khi tình cảm vợ chồng
không còn, hoặc khi một bên chết trước, lúc này vấn đề chia tài sản chung
SVTH:
11
GVHD:
được đặt ra. Mặt khác, khi vợ, chồng chết, việc chia tài sản chung của vợ
chồng còn nhằm đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế theo quy định
của pháp luật thừa kế và để vợ, chồng còn sống có thể thực hiện đầy đủ
quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Bên cạnh đó, thực tiễn phát triển đòi hỏi phải có một cơ chế hợp lý,
vừa tạo điều kiện cho vợ, chồng đầu tư kinh doanh; thực hiện các nghĩa vụ
tài sản khác, vừa đảm bảo sự ổn định, phát triển của gia đình cũng là một
trong những cơ sở để nhà làm luật xây dựng các trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng. Khi đem chia, khối tài sản chung được phân, tách
thành từng phần (tính theo hiện vật hoặc giá trị) để vợ, chồng có quyền sở
hữu riêng.
quy định, không được chia tài sản chung của vợ chồng chỉ vì ý thích cá nhân.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có ba trường hợp chia tài
sản chung của vợ chồng là khi một bên chết hoặc bị tuyên bố là đã chết, khi ly
hôn hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ ba, cơ chế phân chia tài sản chung của vợ chồng rất đặc biệt
Nói cơ chế phân chia này rất đặc biệt bởi vì đối với các loại tài sản
chung khác, khi phân chia thì căn cứ vào vốn góp của mỗi bên vào tài sản
chung để phân chia nhưng đối với tài sản chung của vợ chồng khi phân
chia ở Tòa án thì việc chia tài sản chung bắt đầu bằng việc chia đôi, việc
tính toán công sức đóng góp của mỗi bên chỉ mang tính chất ước lượng
tương đối chứ không thể tính toán số học một cách tuyệt đối như đối với
các hình thức đóng góp ở các hình thức sở hữu chung theo phần. Đặc biệt
khi vợ hoặc chồng chết thì tài sản chung được chia đôi chứ không tính đến
công sức đóng góp của mỗi bên. Cơ chế phân chia này chỉ xuất hiện duy
nhất trong chia tài sản chung của vợ chồng.
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc chia tài sản chung của vợ chồng
Trong quan hệ vợ chồng, yếu tố tình cảm thường được đưa lên vị trí
hàng đầu, không có sự phân biệt rạch ròi nguồn gốc tài sản và tài sản của
SVTH:
13
GVHD:
ai, nhưng cuộc sống gia đình không tránh khỏi việc phát sinh các mâu
thuẫn, bất đồng quan điểm trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản
chung. Trong khi đó việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân thì không
cần có sự nhất trí, sự bằng lòng của nhau, chính vì vậy mà việc chia tài sản
chung sẽ là một giải pháp để loại bỏ các mâu thuẫn trong quản lí, sử dụng
và định đoạt tài sản.
Việc chia tài sản chung là một giải pháp cho các cặp vợ chồng có tuổi
vì lý do nào đó mà có mẫu thuẫn sâu sắc về tình cảm, nhưng lại không dám
ra Tòa ly hôn do sợ điều tiếng của dư luận, sợ mất hòa khí gia đình, sợ con
độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ này là chế độ cộng đồng
toàn sản với nội dung là tất cả các tài sản có trước và trong thời kỳ hôn
nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ
chồng với thành phần bao gồm các động sản (Quốc Triều hình luật gọi là
phù vật) và bất động sản (điền sản). Trong đó điền sản được coi là tài sản
chủ yếu, có ý nghĩa thiêng liêng. Với quan điểm đó thì Quốc Triều hình
luật và Hoàng Việt luật lệ đều quy định thành phần khối tài sản chung của
vợ chồng bao gồm ba loại:
Một là, phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia
đình chồng).
Hai là, thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình).
Ba là, tần tảo điền sản (tài sản do vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn
nhân).
Tất cả những tài sản trên đều do sự quản lý và định đoạt của người
chồng. Tuy nhiên pháp luật thời Lê và tục lệ cũng dành cho người vợ được
tham gia vào việc quản lý tài sản của gia đình. Điều 373, 374 Quốc Triều
hình luật quy định khi phân chia tài sản gia đình do ly hôn, người vợ được
lấy lại số tài sản riêng do bố mẹ cho làm của hồi môn và chia tài sản trong
số tài sản mà hai người làm ra trong thời kỳ hôn nhân thành hai phần bằng
nhau cho hai người.
SVTH:
15
GVHD:
Quốc Triều hình luật cũng quy định khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản
đều được chia đôi mỗi người một phần. Đây được xem là những quy định rất
tiến bộ, thể hiện tính nhân đạo và tính dân tộc nếu đặt trong hoàn cảnh lịch sử
hồi bấy giờ khi mà người vợ trong nhiều trường hợp vẫn được đặt ngang hàng
với người chồng. Chính vì vậy mà nhà sử học Phan Huy Chú dã coi pháp luật
thời Lê là “mẫu mực để trị nước, khuôn phép để buộc dân”, còn Giáo sư
Oliverôldman, chủ nhiệm khoa Luật Đông Á (Đại học Haward) cho rằng:
tiết (không tái giá) thì tài sản chung vẫn giữ nguyên. Khi ấy người vợ góa
được thay chồng quản lý tài sản chung. Khi người vợ chết trước thi một
mình người chồng trở thành chủ sở hữu tất cả tài sản chung, kể cả kỷ phần
của vợ nữa.
Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Dân
luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ đều quy định nếu có lập hôn khế thì chia
theo các điều khoản trong đó, nếu không có thì chia như sau:
+ Trường hợp vợ chồng không có con chung, tài sản được chia đôi sau
khi các bên lấy lại tài sản thuộc tài sản riêng của mình.
+ Trường hợp vợ chồng có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ
chồng sẽ không được chia theo nguyên tắc chia đôi mà người vợ chỉ được
chia một phần trong tài sản chung tuỳ theo kỷ phần mà người vợ đã đóng
góp. Nếu “phạm gian” mà ly hôn thì phần mà người vợ được chia sẽ bị bớt
đi một nửa. Nếu người vợ ly hôn mà không có con thì sẽ được lấy lại kỷ
phần của mình và một nửa tài sản chung.
Trong bộ Dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng
tạo sản, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của người chồng.
Do đó không đặt ra vấn đề chia tài sản.
Như vậy chế độ hôn nhân của nước ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ
pháp lý của giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình.
Thời kỳ này quyền lợi của người phụ nữ, người vợ hầu như không đươc
pháp luật xem xét, coi trọng.
SVTH:
17
GVHD:
1.2.3. Chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống pháp luật
miền Nam nước ta trước ngày thống nhất (1954-1975)
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nước ta tạm thời bị
chia cắt làm hai miền theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở miền Bắc tiến hành xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam đế quốc Mỹ thay chân Pháp tiến hành
hoà ra đời. Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà
nước ta vẫn chú trọng tới việc soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm
củng cố và bảo vệ thành quả của cách mạng.
Năm 1950 Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân
gia đình là: Sắc lệnh số 97-SL và sắc lệnh số 159-SL. Sắc lệnh vẫn duy trì
các trường hợp chia tài sản chung của luật cũ, tuy nhiên việc quy định về vấn
đề chia tài sản còn rất chung chung, sắc lệnh chưa quy định rõ về cách thức
chia, nguyên tắc chia cũng như hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung.
Ở thời kỳ này Nhà nước ta chưa ban hành BLDS mới, thay vào đó là
việc duy trì áp dụng Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ trên cơ sở có
chọn lọc các yếu tố tiến bộ, xóa bỏ các quy định hủ tục, lạc hậu. Mà theo
các bộ Dân luật này quy định, chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ
cộng đồng toàn sản. Do đó việc Sắc luật chỉ quy định các trường hợp chia
mà chưa dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn áp dụng nguyên tắc chia đôi.
Năm 1959, lần đầu tiên Luật HN&GĐ được ra đời, hay còn gọi là Đạo
luật số 13. Theo Luật HN&GĐ năm 1959 tài sản chung của vợ chồng là tài
sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trước và sau khi kết
hôn đều là tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận tài sản riêng.
Luật quy định hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là: chia tài
sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước và chia khi ly hôn.
Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước
thì sẽ chia như khi ly hôn. Còn khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự
đóng góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của
gia đình.
SVTH:
19
GVHD:
Luật HN&GĐ năm 1959 đã khắc phục được những hạn chế của hai
sắc lệnh khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. Đồng
thời khẳng định được bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp
cũ thì ly thân được hiểu là trường hợp vợ chồng sống cách biệt nhau trong
một thời gian nhất định và tài sản của vợ chồng được thực hiện theo chế độ
biệt sản. Nghĩa là phần tài sản của mỗi người được chia trong khối tài sản
chung và mọi tài sản mà mỗi bên tạo ra khi sống ly thân là tài sản riêng của
mỗi người. Theo Ph.Angghen, ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo và được
giải quyết dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng. Nhà làm luật tư sản cho rằng ly
thân là một giải pháp nhằm giải tỏa xung đột trong quan hệ vợ, chồng; mặt
khác, thời hạn mà vợ chồng ly thân do Tòa án quyết định sẽ tạo cơ hội để
vợ chồng suy xét lại, nhằm hàn gắn mâu thuẫn giữa vợ chồng, vợ chồng
chung sống đoàn tụ không phải ly hôn [18, tr.50]. Như vậy có thể hiểu chia
tài sản khi hôn nhân tồn tại chủ yếu xuất phát từ những lý do về mặt tài sản,
còn với trường hợp ly thân bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố tình cảm.
1.3.1.1. Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000, để có thể chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân phải có những điều kiện nhất định, đó là
trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng mới có thể thỏa thuận
chia tài sản chung.
* Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng
Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó
xác định, đây cũng là hoạt động thương mại nên theo tác giả thì hoạt động
đầu tư kinh doanh riêng là hoạt động nhằm sinh lợi, do một người (vợ
hoặc chồng) bỏ vốn ra để thực hiện một trong các công đoạn của quá trình
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng đầu tư
kinh doanh riêng xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do của cá nhân, nếu
SVTH:
21
GVHD:
một trong hai vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài
tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc
nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Việc thực hiện nghĩa
vụ dân sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người (vợ hoặc
chồng) phải thực hiện còn người kia (chồng hoặc vợ) không phải liên đới
thực hiện. Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này chỉ nhằm để thực hiện
đúng nghĩa vụ phải thực hiện, chứ có mục đích nhằm để phát sinh lợi (vì
nếu nhằm để phát sinh lợi thì sẽ thuộc trường hợp chia để đầu tư kinh
doanh riêng). Nghĩa vụ dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực hiện
nghĩa vụ phát sinh do giao dịch do một bên thực hiện trước thời kì hôn
nhân hoặc không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như: trước
khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, người vợ hoặc người chồng đó đã
vay nợ sử dụng vào nhu cầu riêng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi
trái pháp luật gây ra, nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng người khác,… Nếu
tài sản riêng không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận được
về việc lấy tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ riêng cho một bên thì vợ,
chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để người
vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng
nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của mình một cách độc lập mà không
làm ảnh hưởng tới quyền lợi của phía bên kia.
Có quan điểm cho rằng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng phát sinh có
thể là nghĩa vụ dân sự riêng trong tương lai [19, tr.26-27]. Tuy nhiên quan
điểm này chưa được kiểm chứng bởi hiện tại chưa có quy định nào đề cập
đến vấn đề này.
Luật chỉ dự liệu trường hợp chia tài sản để thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng chứ không hề dự liệu việc chia tài sản để thực hiện trách nhiệm hình
sự hay trách nhiệm hành chính với hình phạt tiền nên nếu trên thực tế xảy
ra những trường hợp này thì vẫn không được chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân mặc dù nó vẫn là “nghĩa vụ”.
SVTH:
23
SVTH:
24
GVHD:
việc chia tài sản chung và cả về cách chia, thì trong quan hệ giữa vợ và
chồng, vấn đề chính đáng hay không chính đáng của lý do chia tài sản
không được đặt ra; bởi như ta đã thấy, sự thoả thuận giữa vợ và chồng về
việc chia tài sản chung không chịu sự giám sát của Toà án, trừ trường hợp
có đơn yêu cầu của một người thứ ba về việc ngăn chặn việc chia tài sản
chung nhằm trốn tránh việc thực hiện những nghĩa vụ tài sản của bản thân
vợ hoặc chồng. Nói cách khác, vấn đề có hay không có lý do chính đáng
chỉ được đặt ra một khi giữa vợ và chồng không có sự nhất trí, đồng thuận
về việc chia hay không chia tài sản chung. Thậm chí có tác giả cho rằng
quy định về sự hiện hữu của một lý do chính đáng trở nên thừa, chỉ nên quy
định lý do chính đáng khác cho trường hợp vợ chồng không tự thỏa thuận
được về chia tài sản chung của vợ chồng [11, tr.46].
1.3.1.2. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
Theo nguyên tắc quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm
2000 thì việc chia tài sản chung được tiến hành theo cách thức ưu tiên thỏa
thuận, nếu không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia.
* Nguyên tắc tự thỏa thuận của vợ chồng
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản
chung, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vợ chồng có thể tự thỏa thuận
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc chia là hoàn toàn tự do, có
thể chia hết tài sản, chia một phần tài sản, chia cho hai bên có tài sản như
nhau, chia cho một bên tất cả tài sản hiện có, miễn là việc chia đó không
nhằm để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản, nếu việc chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài
sản thì sẽ không được pháp luật công nhận. Cụ thể hóa vấn đề này, Điều 11
Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết