Nghiên cứu thực trạng và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh tại xã thủy phù, thị xã hương thủy, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LÊ KIM THANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƢỞNG ĐẾN TỶ SỐ GIỚI TÍNH KHI SINH TẠI XÃ THỦY
PHÙ, THỊ XÃ HƢƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2011
Luận văn tốt nghiệp cử nhân y khoa
Ngƣời hƣớng dẫn Luận văn:
ThS.GVC Hoàng Đình Huề
Huế, 2012
PGD (Pre-implantation Genetic Diagnosis)
Chẩn đoán tiền mang thai
QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng
SRB (Sex Ratio at Birth) Tỷ số giới tính khi sinh
TC – CĐ – ĐH Trung cấp, Cao đẳng, Đại học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TĐTDS Tổng điều tra dân số
TP Thành phố
TSGTKS Tỷ số giới tính khi sinh
UBND Ủy ban nhân dân
UNFPA (United Nations Population Fund)
Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tỷ số giới tính khi sinh tại châu Á 3
1.2. Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam 5
1.2.1. Báo động đỏ mất cân bằng giới tính ở miền Trung 7
1.3. Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh 7
1.3.1. Chính sách của Nhà nước về giảm sinh 7
1.3.2. Các yếu tố kinh tế xã hội và phong tục tập quán 9
1.4. Hệ quả của sự chênh lệch giới tính 10
1.5. Một số giải pháp khẩn thiết 11
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Đối tượng nghiên cứu 14

3.4.1. Mong muốn giới tính của con trước khi sinh 23
3.4.2. Lý do các bà mẹ muốn sinh con lần này 24
3.4.3. Biết giới tính thai khi mang thai và cách để biết 25
3.4.4. Thời gian đi siêu âm và mục đích đi siêu âm 25
3.4.5. Một số vấn đề liên quan tới việc siêu âm xác định giới tính 26
3.4.6. Ý định của các bà mẹ nếu siêu âm giới tính thai nhi không theo
mong muốn và quan niệm đối với việc phá thai 27
3.4.7. Sinh con theo ý muốn và cách thực hiện. 27
3.4.8. Hiểu biết của bà mẹ về Pháp lệnh dân số 28
3.5. Kết quả nghiên cứu định tính 28
Chƣơng 4. BÀN LUẬN 30
4.1. Bàn luận về tỷ số giới tính khi sinh 30
4.2. Bàn luận về các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ số giới tính khi sinh 30
4.3. Bàn luận về hậu quả xã hội 35
4.4. Bàn luận về các giải pháp 36
KẾT LUẬN 38
1. Một số đặc trưng cá nhân của các bà mẹ 38
2. Tỷ số giới tính khi sinh 38
3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh 38
4. Kết quả nghiên cứu định tính 39
KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Mặc dù đã trải qua bốn thập kỷ với các chính sách xã hội nhằm làm
giảm sự bất bình đẳng về giới và làm giảm ảnh hưởng của tập quán quan hệ
gia trưởng, mong muốn có con trai vẫn tiếp tục điều khiển quá trình xây dựng
gia đình tại Việt Nam.
Dưới tác động của Chính sách Nhà nước về giảm sinh, tư tưởng trọng
nam khinh nữ cùng với sự hỗ trợ của các dịch vụ siêu âm, nạo phá thai, các kĩ
thuật lựa chọn giới tính khi sinh đã góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng
mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam. Hậu quả của mất cân bằng giới
2
tính khi sinh sẽ gây nên các bất ổn về xã hội như nhiều thanh niên sẽ không
có khả năng kết hôn, di cư bất hợp pháp vì mục đích hôn nhân, buôn bán phụ
nữ và gia tăng tỷ lệ người hoạt động tình dục đồng tính [6].
Tại Việt Nam, mới chỉ có một vài nghiên cứu về vấn đề này là trong
các cuộc Tổng điều tra dân số và các cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số
vào ngày 01/4 hàng năm.
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, theo báo cáo năm 2010 thì tỷ số giới tính khi
sinh khá cao (110/100) [24], tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu
về nội dung này.
Do vậy để tìm hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng và xác định một số yếu tố ảnh
hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh tại xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011” với mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ số giới tính khi sinh tại xã Thủy Phù, thị xã Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011.
2. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh
tại xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011.
3

gái…Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính vẫn đang là một vấn đề
nhức nhối ở các nước này [22].
4
Tỷ số giới tính khi sinh tại Trung Quốc là 118,08 bé trai trên 100 bé gái
gái vào năm 2010, cao hơn những tiêu chuẩn nhân khẩu học dao động từ 103-
107 bé trai trên 100 bé gái. Số lượng các nam thanh niên dưới 19 tuổi đã vượt
23,77 triệu so với các bé nữ ở cùng nhóm tuổi [17].
Tại Ấn Độ trong vòng 20 năm qua tỷ lệ trẻ em gái đã sụt giảm mạnh
trước sự xuất hiện của công nghệ siêu âm, chọc ối, và chẩn đoán tiền mang
thai (PGD) điều này đã làm cho tỷ lệ giới tính tại Ấn Độ tăng đáng kể, nhất là
tại các bang miền Bắc Ấn Độ (như Punab) TSGTKS là 139 [6].
Bảng 1.1. Tỷ số giới tính khi sinh ở một số quốc gia 2004-2009 [15]
Quốc gia/vùng
TSGTKS
Giai đoạn
Loại số liệu
Albania
113,6
2007
Đăng kí sinh
Armenia
115,8
2008
Đăng kí sinh
Azerbaizan
117,2
2007

106,4
2008
Đăng kí sinh
Một số tỉnh tại Trung Quốc có tỷ số giới tính khi sinh rất cao: Giang
Tây (137,1); An Huy (132,2); Thiểm Tây (132,1). Năm 2008, tỷ số giới tính
khi sinh tại Hàn Quốc đã trở về mức sinh học bình thường (106,4).
5
1.2. Tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam
Theo báo cáo của TS Dương Quốc Trọng (Tổng cục trưởng Tổng cục
DS-KHHGĐ). Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam bắt đầu gia tăng vào
khoảng đầu những năm 2000, (sau các nước ở châu Á như Trung Quốc, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Azerbaijan, Armenia khoảng 20 năm), trùng với việc nở rộ
các dịch vụ siêu âm, mở rộng các dịch vụ hành nghề y tế tư nhân cùng với
việc nạo phá thai thuận lợi. Tuy muộn hơn nhưng tốc độ gia tăng TSGTKS
của Việt Nam lại hết sức nhanh chóng. Từ 105 năm 1979, tăng lên 110 năm
2006, 111 năm 2007, năm 2008 đã tới mức 112,1; năm 2009 là 110,5 và thời
điểm 01/4/2010 là 111,2. Trong khi các nước nói trên tốc độ gia tăng
TSGTKS khoảng 0,4 - 0,5 điểm phần trăm thì trong mấy năm vừa qua, tốc độ
gia tăng TSGTKS của Việt Nam lên tới khoảng 1 điểm phần trăm [24].
TSGTKS đã cao ngay trong lần sinh đầu tiên 110,2, điều này hiếm
khi được ghi nhận ở các quốc gia khác. Đặc biệt ở lần sinh thứ 3 trở lên
(chiếm khoảng 16% tổng số trẻ được sinh ra) TSGTKS là 115,5. Khu vực
Đồng bằng sông Hồng (nơi có TSGTKS cao nhất cả nước), TSGTKS đã tăng
vọt từ mức 110 trong lần sinh thứ nhất và lần sinh thứ hai, lên tới 152 trong
lần sinh thứ 3 trở lên [2].
Theo nhiều nghiên cứu, TSGTKS cao ở những tỉnh xung quanh các
thành phố lớn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong đó cao nhất là các

110,0
111,6
Số liệu cho thấy trước năm 2004, tỷ số giới tính khi sinh biến động
ngẫu nhiên trong khoảng 106-109/100, không theo một xu hướng rõ ràng.
Tuy nhiên tỷ số giới tính tăng lên dần từ năm 2004 và đạt 111,6 năm 2006 (số
liệu điều tra 01/4/2007) [20].
Bảng 1.3. Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) theo vùng, 2006-2008 [14]
Vùng
ĐTBĐDS 2006
ĐTBĐDS 2007
ĐTBĐDS 2008
Cả nƣớc
109,8
111,6
112,1
Thành thị
109,0
112,7
114,2
Nông thôn
110,0
111,3
111,4
ĐB Sông Hồng
107,9
111,1
117,7
Đông Bắc
121,9
109,7

Hòa Bình (116,3); Hải Phòng (115,3); Quảng Ngãi (115,1); Quảng Ninh
(115,0) [9].
7
Vấn đề mất cân bằng TSGTKS trở nên "nóng" và thực sự thu hút sự chú ý
của các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận xã hội từ năm 2006 [24].
1.2.1. Báo động đỏ mất cân bằng giới tính ở miền Trung
Theo thống kê năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh Nghệ An là 118
bé trai/100 bé gái; năm 2010 tỷ lệ đó tăng đột biến lên 123 bé trai/100 bé gái [7].
Tại tỉnh Hà Tĩnh, năm 2010 tỷ số giới tính là 115 bé trai/100 bé gái. Tỷ
lệ này vượt quá xa theo quy luật sinh sản tự nhiên hiện nay và cao hơn bình
quân của cả nước [7].
Nếu như năm 2007, chỉ có 6 trong số 14 huyện của tỉnh Quảng Ngãi
mất cân bằng giới tính khi sinh, thì đến nay, 12 huyện này đã có số nam sinh
ra nhiều hơn nữ, trong đó 3 địa phương cao nhất là Lý Sơn (cứ 100 bé gái có
đến 160 bé trai), kế đến là Bình Sơn và TP Quảng Ngãi (theo khảo sát của Chi
cục dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh) [5].
Theo thống kê tại Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi năm 2010, có hơn 11.000
trẻ sinh ra đời tại đây. Trong đó, cứ 100 bé gái sinh ra thì có đến 124 bé trai ra đời,
tỷ lệ nam/nữ là 124/100, cao hơn mức trung bình cả nước là 110/100 [5].
Tại Tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo năm 2010 cho thấy tỷ số giới tính
khi sinh là khá cao (110/100) [28], theo một nghiên cứu tại khoa sản Trung
tâm y tế huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế năm 2010, thì tỷ số giới tính khi
sinh tại đây là 125,3/100 [12]. Một số xã có tỷ số giới tính khi sinh ở mức
bình thường đó là xã Thủy Phù năm 2010 (97,2/100) [23], xã Hương Hồ năm
2010 (89/100) [18].
1.3. Nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh
1.3.1. Chính sách của Nhà nƣớc về giảm sinh

nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng” [30].
Trong Điều 10 đã không ghi rõ mỗi gia đình được sinh bao nhiêu con. Chính
vì vậy, các cặp vợ chồng đã cố tình hiểu sai và sinh con theo ý muốn của
mình mà không tuân theo quy định của Chính Phủ về sinh 1 hoặc 2 con. Năm
2010 Chính Phủ đã ban hành Nghị định sửa đổi điều 10 trong Pháp lệnh dân
số, trong đó quy định rõ đối tượng nào được sinh con thứ 3 trở lên [4].
9
1.3.2. Các yếu tố kinh tế xã hội và phong tục tập quán
- Nguyên nhân chính vẫn là quan niệm trọng nam, khinh nữ của những
bậc cha mẹ. Phần lớn những người này lại chịu áp lực từ chính những bậc phụ
huynh của mình, cần có con trai để nối dõi tông đường và thờ cúng sau này.
Tâm lý ưa thích con trai bắt nguồn từ những qui tắc của chế độ phụ hệ và tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt mà hiện nay vẫn còn rất phổ biến ở
Việt Nam. Theo những qui tắc đó, con trai có vai trò và trách nhiệm tiếp nối
dòng dõi gia đình, chăm sóc cha mẹ khi tuổi già, duy trì tài sản và tiếp tục sự
nghiệp của gia đình. Vì thế, nhiều phụ nữ, khi mang thai đến tháng thứ 4, thứ
5, nếu kết quả siêu âm là con gái, họ sẵn sàng phá bỏ để đợi lần sau, bất chấp
đạo đức, hậu quả lâu dài về sức khỏe và xã hội. Cũng có nhiều phụ nữ ở các
vùng nông thôn không có khả năng tiếp cận dịch vụ chẩn đoán giới tính thai
nhi sớm, nên vô tư sinh tiếp con thứ 4, thứ 5 cho đến khi có con trai mới chịu
dừng [8].
- Với mong muốn có con trai, nhiều cặp vợ chồng áp dụng theo sách
vở hoặc đến các bác sĩ tư để được tư vấn, hướng dẫn về chế độ ăn uống, sinh
hoạt sao cho có kết quả. Tất cả những phương pháp này đều chưa được một
nghiên cứu chính thức nào khẳng định nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên ở vài
người đã khiến không ít các cặp vợ chồng tin tưởng và làm theo. Báo chí từng
phản ánh, rất nhiều cặp vợ chồng làm theo chỉ dẫn của bác sĩ, sách vở nhưng

thiếu lao động, có nơi lại thừa lao động, từ đó dẫn đến sự di dân kéo về các
tỉnh, thành phố lớn [34].
Thứ hai là sự chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh sẽ dẫn đến tình trạng
thừa nam, thiếu nữ, cùng với xu hướng lấy chồng ngoại ở nhiều tỉnh miền
Tây, nạn buôn phụ nữ sang Trung Quốc ở các tỉnh phía Bắc… trong tương lai
có thể Việt Nam sẽ phải “nhập khẩu cô dâu”, kéo theo việc gia tăng của tội
phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em gái hay phụ nữ kết hôn sớm, thậm chí bỏ học
giữa chừng và tệ nạn mại dâm [34].
11
Thứ ba là sự mất cân bằng giới tính sẽ làm thay đổi cơ cấu dân số trong
lương lai; thiếu hụt phụ nữ ở độ tuổi lập gia đình dẫn đến một tỷ lệ nam giới
sẽ phải trì hoãn việc xây dựng gia đình, đặc biệt là nam giới nghèo, vị thế xã
hội thấp; cấu trúc gia đình thay đổi đáng kể (một số nam giới có thể phải lựa
chọn hay rơi vào tình trạng sống độc thân); gia tăng tội phạm liên quan đến
lạm dụng tình dục; tình trạng khan hiếm phụ nữ sẽ cản trở việc nâng cao địa
vị của họ trong xã hội [34].
1.5. Một số giải pháp khẩn thiết
Để đảm bảo sự phát triển bền vững theo quy luật tự nhiên và hạn chế sự
mất cân bằng giới tính khi sinh, theo chúng tôi cần triển khai đồng bộ các giải
pháp sau đây:
- Trước hết, cần tổ chức khảo sát, điều tra, đánh giá lại tình trạng mất
cân bằng về giới tính của trẻ sơ sinh, qua đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này [9].
- Cấp Ủy, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh quán triệt và kiểm tra
việc thực hiện quy định tại khoản 2, điều 7 của Pháp lệnh dân số về việc sinh
con thứ ba; quy định nghiêm và chặt chẽ hơn nữa trong việc công bố giới tính
thai nhi tại các bệnh viện cũng như phòng khám tư, xử nghiêm các Đảng viên,

giới tính khi sinh. Mục tiêu của Đề án là từng bước khống chế tốc độ gia tăng
mất cân bằng, tiến tới ổn định cân bằng giới tính khi sinh. Theo đó, tăng
cường cung cấp thông tin về giới và mất cân bằng giới tính khi sinh cho người
dân, trước hết là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, những người cung
cấp dịch vụ siêu âm và dịch vụ nạo phá thai, những người có uy tín trong
cộng đồng nhằm hạn chế các hành vi không phù hợp với sinh đẻ theo quy luật
tự nhiên. Thực thi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về các nội dung liên quan
đến giới tính khi sinh. Khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái trong học
tập, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phát triển sản xuất [8], [16].
13
Nhưng có lẽ, trước khi có các chính sách, đối tượng cần được "giác
ngộ" mạnh mẽ chính là những người cao tuổi trong xã hội và đối tượng tiềm
năng là vị thành niên và thanh niên. Bởi chỉ khi họ hiểu, chia sẻ, cảm thông
với người phụ nữ, thì gánh nặng sinh con trai theo ý muốn mới có thể "giảm
tải" tốt nhất và tình trạng mất cân bằng giới tính. Ngoài ra, cũng cần có chính
sách nâng cao phúc lợi, bảo hiểm xã hội cho người cao tuổi, đặc biệt, những
người chỉ sinh con gái, từ đó giải tỏa tâm lý cha mẹ về già phải sống dựa vào
con trai [16].
14
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


yếu tố liên quan, thiết kế nghiên cứu định tính thăm dò một số yếu tố nhằm
giải thích cho kết quả định lượng.
2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu [27], [29]
- Nghiên cứu được tiến hành tại xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
- Tổng diện tích:
- Đơn vị hành chính:
- Dân số:
- Mật độ:
34,27 km
2
.
12 thôn.
11.569 người
338 người/ km
2

- Vị trí địa lý: Là xã thuộc vùng đồng bằng nằm phía Nam Thị xã
Hương Thủy, cạnh Sân bay và Khu công nghiệp Phú Bài.
+ Phía Đông giáp sông Đại Giang, xã Vinh Thái (huyện Phú Vang).
+ Phía Tây giáp với xã Phú Sơn.
+ Phía Nam giáp với xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc).
+ Phía Bắc giáp với phường Phú Bài, xã Thủy Tân.
- Tình hình kinh tế xã Thủy Phù: Chủ yếu là chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản 93,8 ha. Nông nghiệp với trồng lúa 1293,6 ha và lâm nghiệp với diện
tích rừng trồng 970,41 ha. Ngoài ra lao động trẻ tại địa bàn xã làm công nhân
tại Khu CN Phú Bài hoặc vào phía Nam làm lao động phổ thông. Phát triển
ngành nghề, dịch vụ tại xã là duy trì các ngành nghề sẵn có.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu

- Tỷ số giới tính khi sinh.
- Mong muốn giới tính của con trước khi sinh.
17
- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con trai.
- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con gái.
- Lý do các bà mẹ mong muốn sinh con nào cũng được.
- Biết giới tính khi mang thai và cách để biết.
- Ý kiến của bà mẹ về chi phí siêu âm xác định giới tính thai nhi,
ảnh hưởng của siêu âm, tiếp cận dịch vụ siêu âm, quá trình siêu âm.
- Thời gian đi siêu âm và mục đích đi siêu âm.
- Hiểu biết về Pháp lệnh dân số.
- Biết cách sinh con theo ý muốn và cách thực hiện.
- Ý định của bà mẹ khi siêu âm giới tính thai không theo ý muốn.
- Quan niệm của bà mẹ đối với việc phá thai.
2.6.2. Nghiên cứu định tính
- Mục đích, quá trình siêu âm và thái độ cán bộ y tế khi siêu âm.
- Lý do và yếu tố tác động đến việc sinh con thứ ba trở lên.
- Khó khăn về kinh tế, khả năng đáp ứng nhu cầu của các con.
2.6.3. Cách đánh giá thu thập thông tin
- Trực tiếp đến Trạm y tế xã, dựa vào hồ sơ ghi chép thu thập tất cả
thông tin liên quan đến các bà mẹ và trẻ sinh ra sống trong năm 2011.
- Đối với phiếu thu thập thông tin trực tiếp: Chọn câu trả lời cho là
đúng nhất, đánh giá khoanh tròn trực tiếp vào số ở đầu câu trả lời.
- Ghi rõ thông tin trả lời vào câu hỏi có phần gạch chấm.
- Phiếu số đánh theo thứ tự từ 001 trở lên.
- Tuổi được xếp làm 5 nhóm tuổi và cách nhau 5 năm [18].
< 20, 20-24, 25-29, 30-34, ≥35
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Một số đặc trƣng cá nhân của các bà mẹ
3.1.1. Phân bố nhóm tuổi của các bà mẹ
Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi của các bà mẹ
STT
Nhóm tuổi
Số lƣợng
Tỷ lệ %
1
Dưới 20
1
0,5
2
20 – 24
35
18,1
3
25 – 29
84
43,6
4
30 – 34
45
23,3
5
Trên 34


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status