pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em - thực tiễn tại thị xã hương thủy, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
KHÓA 2010 - 2014
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM - THỰC TIỄN
TẠI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Nguyễn Thị Lê Huyền Phạm Thị Diệu Thúy
Lớp: K34AB - Dân Sự
Huế, 03/2014


GVHD: 
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn
các thầy cô giáo Khoa Luật- Đại học Huế đã
tận tình giảng dạy cho em những kiến thức bổ
ích, đó chính là nền tảng cơ bản, làm hành
trang vô cùng quý giá trong việc học tập,
nghiên cứu cũng như trong công việc sau này
của em.
Đặc biệt, với tấm lòng biết ơn sâu sắc,
em xin trân trọng cảm ơn cô giáo, Thạc só
Nguyễn Thò Lê Huyền, người đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn cho em hoàn thành được khóa
luận tốt nghiệp này. Trong thời gian làm khóa
luận, em đã tìm hiểu về lý thuyết, thực tiễn
cùng với những kiến thức đã được học, và
sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thò Lê Huyền,

SVTH: 

GVHD: 
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là cái nôi của xã hội, là môi trường giáo dục và phát triển đầu tiên của
con người. Gia đình là nơi hình thành nhân cách của mỗi con người. Chính vì vậy ai
cũng mong mình được sống trong một gia đình tràn đầy yêu thương, đùm bọc lẫn
nhau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, bạo lực gia đình đã và đang trở thành một
trong những nguyên nhân làm cho gia đình mất đi ý nghĩa vốn có ban đầu của nó.
Bạo lực gia đình đã có từ rất lâu trong đời sống gia đình, nhưng hiện nay đang
trở thành một vấn đề nhức nhối khiến dư luận xã hội phải đặc biệt quan tâm. Bạo
lực gia đình không chỉ tác động trực tiếp đến sức khoẻ, tinh thần của người phụ nữ,
nam giới mà còn gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ em. Điều 27 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 chỉ rõ “cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng,
giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất,
trí tuệ, đạo đức”. Một thực tế đáng buồn hiện nay là ngày càng có nhiều bậc cha mẹ
ngược đãi, bạo hành con cái; cha mẹ lạm dụng quyền làm cha làm mẹ của mình, coi
việc đánh mắng con, sử dụng bạo lực là phương pháp giáo dục con hiệu quả và thiết
thực. Đây là nhận thức sai lầm, khi cha mẹ lạm dụng những hình thức kỷ luật,
những hành vi bạo lực trong việc giáo dục con em mình, thì khi đó, gia đình đã
không thực sự là tổ ấm, là nơi ấm áp, bình yên nhất cho các em. Hơn thế nữa, sử
dụng bạo lực còn vi phạm quyền trẻ em nghiêm trọng và không mang lại hiệu quả
tích cực trong quá trình giáo dục và hình thành nhân cách của trẻ. Số liệu khảo sát
điều tra xã hội học trên toàn quốc cho biết: Bạo lực gia đình ảnh hưởng đến sự phát
triển nhân cách của trẻ chiếm 91,0%, gây tổn hại về sức khỏe, thể chất: 87,5%,
gâytổn thương về tâm lý, tinh thần: 89,4%, gây tan vỡ gia đình: 89,7% và làm rối
loạn trật tự, an toàn xã hội: 89%.[18]
Đối với vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc
phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp
và gián tiếp liên quan như: Hiến pháp năm 1992; Luật Hôn nhân và gia đình năm

tiễn để từ đó đưa ra được các giải pháp khắc phục có hiệu quả.
Để đạt được mục đích trên, tác giả sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể sau:
6
SVTH: 

GVHD: 
Thứ nhất, tác giả giải quyết một số vấn đề lý luận chung về bạo lực gia đình và
pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình.
Thứ hai, tác giả nghiên cứu các quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực
gia đình để chỉ ra những hạn chế trong quy định của pháp luật về vấn đề này.
Thứ ba, tác giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng chống bạo lực
gia đình tại địa bàn Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó rút ra những
nguyên nhân và hậu quả của vấn đề bạo lực gia đình đối với trẻ em.
Thứ tư, trên cơ sở chỉ ra những vướng mắc trong quy định của pháp luật,
những bất cập trong việc áp dụng pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình cũng
như việc làm rõ nguyên nhân của chúng, tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể để
khắc phục những vấn đề trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em và thực tiễn áp dụng
pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em tại Thị xã Hương Thủy,
tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đề tài “Pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em - thực tiễn tại
Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế” tập trung nghiên cứu những quy định
của pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 đối với trẻ em, có xem xét
tới các quy định có liên quan trong các văn bản pháp luật khác và tập trung tại địa
bàn Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn từ năm 2010 - 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên

GVHD: 
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm trẻ em
Để tìm hiểu về pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì trước
hết chúng ta cần hiểu như thế nào được gọi là trẻ em. Người ta thường sử dụng cụm
từ “trẻ em”, “trẻ con” hay “trẻ thơ” để chỉ những người ở một độ tuổi nhất định
trong giai đoạn đầu của con người. Ở góc độ khoa học, trẻ em được định nghĩa tuỳ
theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, như trong triết học, trẻ em được xem
xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội nên ở mọi thời đại, tương
lai của quốc gia, dân tộc đều tuỳ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em. Đối với chuyên ngành xã hội học, trẻ em được xác định là người có vị thế, vai
trò xã hội khác với người lớn, vì vậy, cần được xã hội quan tâm, tạo điều kiện sinh
trưởng, nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc phát triển thành người lớn. Trong tâm lý học,
khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân
cách con người. Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận
theo độ tuổi. Điều này có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ
em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định.
Trẻ em, theo cách hiểu thông thường là những đứa trẻ nhỏ, chưa trưởng thành.
Trong hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em. Tuy nhiên, có
một số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi nhưng ở văn bản này gọi
là trẻ em, ở văn bản khác đã thành… người lớn, dẫn đến những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình thực hiện.
Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được sử dụng tương đối thống nhất và
áp dụng độ tuổi của trẻ em là dưới mười tám tuổi. Bên cạnh đó, trong các Công ước
quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền trẻ em (năm 1924), Tuyên bố của
9
SVTH: 

10
SVTH: 

GVHD: 
sóc và giáo dục trẻ em để tạo nên sự thống nhất trong áp dụng pháp luật. Do đó, các
cơ quan chức năng cần rà soát, hệ thống hóa các văn bản luật, đề xuất một độ tuổi
thống nhất để sử dụng các thuật ngữ pháp lý cho phù hợp. Có thể theo phương án,
một luật sửa nhiều luật, cụ thể là Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật
liên quan đến độ tuổi của trẻ em.
Bên cạnh đó, việc quy định độ tuổi của trẻ em dưới mười sáu tuổi vẫn có nhiều
ý kiến khác nhau, trong đó đa số đều tán thành quan điểm nâng độ tuổi của trẻ em
đến dưới mười tám tuổi. Đến thời điểm này, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội) vẫn đang tiếp tục xin ý kiến các chuyên gia pháp
luật, nhà nghiên cứu về tâm - sinh lý lứa tuổi và đặc biệt là lấy ý kiến của trẻ em và
người dân về việc nâng độ tuổi của trẻ em lên dưới mười tám tuổi. Việc quy định
nâng độ tuổi của trẻ em vừa phù hợp với luật pháp quốc tế, vừa tránh được việc phải
sử dụng nhiều khái niệm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đồng thời việc quy
định độ tuổi này cũng đã phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Tạo cho trẻ em trở thành công dân trưởng thành, tham gia đầy
đủ hơn vào đời sống xã hội [17].
Từ những phân tích trên, tác giả xin mạnh dạn đưa ra khái niệm trẻ em như
sau: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười tám tuổi”. Khái niệm này phần nào
có thể bao hàm được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các ngành luật thuộc
hệ thống pháp luật quốc gia, cũng phù hợp với tâm sinh lý của người Việt Nam hiện
nay vì người dưới mười tám tuổi chưa phát triển đầy đủ về sức khoẻ và nhận thức,
chưa đủ các điều kiện cần thiết để trở thành người thành niên nên đòi hỏi cần có sự
quan tâm đặc biệt, cần có sự bảo vệ, chăm sóc của gia đình và xã hội nhiều hơn để
tạo đà cho các em phát triển đầy đủ, trở thành người có ích cho xã hội, tránh rơi vào
các tệ nạn hoặc vi phạm pháp luật; tạo ra sự thống nhất quản lý xã hội bằng pháp
luật đối với mọi người dân, không tạo ra “khoảng trống” trong việc bảo vệ, chăm

Nhóm ba, nhóm hành vi bạo lực về kinh tế: bao gồm chiếm đoạt, huỷ hoại, đập
phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong
gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng ép thành viên gia
12
SVTH: 

GVHD: 
đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát
thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.
Nhóm bốn, nhóm hành vi bạo lực về tình dục: gồm có hành vi cưỡng ép quan
hệ tình dục, kích dục,…
Mỗi nhóm bạo lực có thể được thể hiện ở nhiều hành vi khác nhau. Những
hành vi đó được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
năm 2007, bao gồm:
“- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ,
tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản
riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia
đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ
thuộc về tài chính;

sợ hãi, lo lắng ngay trong chính gia đình của mình, đó là bạo lực gia đình và các em
là nạn nhân trực tiếp của nó. Nhiều gia đình có những biện pháp giáo dục thô bạo và
những hành vi trừng phạt trẻ diễn ra có thể để lại những hậu quả lâu dài theo suốt
cuộc đời của trẻ nhỏ.
Như vậy, bạo lực gia đình đối với trẻ em là những hành vi bạo hành thể chất,
tinh thần do một thành viên lớn tuổi trong gia đình thực hiện mà nạn nhân là trẻ em.
14
SVTH: 

GVHD: 
Đối với trẻ em, có hai hình thức bạo lực chính đó là bạo hành về thể xác và về tinh
thần.
Thứ nhất, bạo lực thể xác: Bạo lực thể xác đối với trẻ em như: đánh đập, gây
tổn thương, bỏ đói, đầu độc, không chăm sóc về mặt y tế, không đảm bảo an toàn
sinh hoạt nhất là đối với trẻ em dưới ba tuổi. Bạo lực về mặt thân thể cũng có nhiều
mức độ khác nhau:
- Mức độ nhẹ: Ngắt hoặc véo làm cho đau, hậu quả để lại là những vết bầm
tím, vệt hằn trên da.
- Mức độ vừa: Giật mạnh, kéo, lắc hoặc rứt tóc. Cha mẹ dùng tay, chân (đánh
đấm) hay kết hợp sử dụng các dụng cụ nhỏ như roi, que, thước kẻ, cán chổi Hậu
quả là làm giảm vận động, trẻ khó hoặc không viết, đi lại bình thường trong một
khoảng thời gian ngắn.
- Mức độ mạnh: cha mẹ sử dụng những dụng cụ to như thanh củi, thắt lưng da,
thanh sắt và gây ra các hậu quả như làm gãy xương và hoặc thương tích bên trong,
làm tàn tật và hoặc biến dạng vĩnh viễn.
- Mức độ cao nhất và cũng để lại hậu quả lớn nhất đó là hành vi giết người.
Thứ hai, bạo lực tinh thần: Bạo lực về tinh thần bao gồm những lời nói, thái độ,
hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hay nhiều thành viên làm tổn thương tới
nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một hay nhiều thành viên khác. Bạo lực tinh
thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, sở thích riêng

đình, tư vấn, hoà giải phù hợp với truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam.
Đây là nguyên tắc chủ đạo trong phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và
phòng chống bạo lực đối với trẻ em nói riêng bởi nhiều lý do. Xuất phát từ thực tế
quan hệ trong gia đình thường mang tính khép kín, với các thành viên gia đình cũng
như những người xung quanh, việc trong gia đình thì người ngoài ít có cơ hội xen
vào. Vì thế, những vụ việc bạo hành gia đình thường khó phát hiện, khi bị phát hiện
cũng khó xử lý bởi tâm lý e ngại của nạn nhân và cả những người biết chuyện, và
16
SVTH: 

GVHD: 
thậm chí nếu xử lý rồi thì khả năng tái diễn cũng rất cao vì để tìm ra biện pháp ngăn
chặn phù hợp là không dễ. Các quy định pháp luật khó vươn tới từng gia đình, bởi
nhận thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế, sự can thiệp thô bạo của pháp
luật có thể dẫn tới phá hủy các mối quan hệ giữa các thành viên gia đình. Chính vì
vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn, hoà giải trong vấn đề này là
rất quan trọng, góp phần định hướng hành vi của mỗi người: trẻ em được trang bị
kiến thức để tự bảo vệ; người có thể có hành vi bạo lực thì nhận thức được tính chất,
hậu quả của hành vi để tự kiềm chế tốt hơn; những người xung quanh biết được
trách nhiệm tham gia phòng chống bạo lực gia đình và có ứng xử phù hợp.
Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi xảy ra
để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội. Riêng trong lĩnh
vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì việc phòng ngừa càng có ý
nghĩa quan trọng. Bởi vì hành vi bạo lực nếu xảy ra thì ít nhiều đã gây ra những tổn
thương nhất định cho trẻ, làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ, ảnh hưởng
đến mối liên kết trong gia đình. Mặt khác, những quan hệ gia đình luôn mang tính
gắn kết, một khi hành vi bạo lực bị phát hiện và đưa ra xử lí thì rất khó hàn gắn
được. Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động phòng, chống bạo
lực gia đình đối với trẻ em.

Thứ tư, phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ
quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em.
Bạo lực gia đình đối với trẻ em từ lâu đã không còn là vấn đề của mỗi gia đình
mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã hội. Do đó việc phòng, chống bạo
lực gia đình đối với trẻ em là trách nhiệm chung của cộng đồng chứ không chỉ là
của nhà nước và những người có liên quan. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống bạo
lực gia đình vốn gặp nhiều khó khăn khi triển khai trên thực tế, nên rất cần sự quan
tâm phối hợp của tất cả các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, hiện nay không có
nhiều chủ thể tích cực tham gia công tác này do nhận thức không đúng tầm quan
trọng, ý nghĩa của nó. Việc quy định nguyên tắc này một lần nữa khẳng định tầm
quan trọng cũng như sự cần thiết của việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân,
18
SVTH: 

GVHD: 
gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với
trẻ em.
1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phòng chống bạo lực gia đình
1.2.2.1. Quyền, nghĩa vụ của trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình
Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại
Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, bao gồm:
“1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng,
nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo
vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác
theo quy định của Luật này;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu. Do tính chất
rất nhạy cảm của tội phạm cũng như mối quan hệ đặc biệt của các chủ thể, pháp luật
không đặt ra nghĩa vụ của nạn nhân trong việc phòng chống bạo lực gia đình hay tố
giác người có hành vi bạo lực. Điều này hoàn toàn hợp lý. Pháp luật quy định nghĩa
vụ cung cấp thông tin của nạn nhân vì hành vi bạo lực dù diễn ra trong gia đình
nhưng lại ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn xã hội, do đó cần phải được xử
lý kịp thời; nạn nhân của bạo lực cần được bảo vệ, nhưng họ cũng cần tự bảo vệ
mình trong giới hạn nhất định, và đó có thể coi là trách nhiệm của họ với cộng đồng,
xã hội.
1.2.2.2. Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em
Người có hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em là người đã gây ra những tổn
hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho các thành viên là trẻ em trong gia đình. Trong
lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình, nghĩa vụ của họ được ghi nhận ở Điều 4
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, bao gồm:
20
SVTH: 

GVHD: 
“1. Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi
bạo lực.
2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia
đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
4. Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo
quy định của pháp luật.”
Trước hết, khi thực hiện hành vi bạo lực và bị phát hiện, người có hành vi bạo
lực gia đình phải tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay
hành vi bạo lực. Cộng đồng ở đây là chỉ chung những người biết được về hành vi,
có thể là thành viên khác trong gia đình, hành xóm, tổ dân phố, người chứng kiến…
Sự can thiệp ở đây phải là can thiệp hợp pháp, tức là chỉ được thực hiện những điều

buộc chủ thể phải thực hiện, đảm bảo hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực
gia đình.
Với những trường hợp nạn nhân bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cần
tới sự can thiệp của y tế thì người thực hiện hành bạo lực phải kịp thời đưa nạn nhân
đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ
chối. Đây tưởng chừng là điều hiển nhiên, là ứng xử bắt buộc của các thành viên gia
đình đối với nhau, nhưng lại là điều rất khó thực hiện khi một bên là chủ thể, một
bên là nạn nhân của hành vi bạo lực. Người thực hiện hành vi khi đã nhẫn tâm ra tay
thì rất khó có chuyện thương xót, lo lắng cho nạn nhân mà đưa họ đi chữa trị, chăm
sóc; hoặc có khi hành vi là bột phát, họ nhận thấy sai lầm của mình nhưng do sợ bị
phát hiện, sợ phải gánh trách nhiệm nên không dám đưa nạn nhân tới cơ sở chữa trị.
Chính vì vậy, pháp luật cần quy định đây là nghĩa vụ, bắt buộc họ phải thực hiện để
đảm bảo quyền lợi về sức khỏe cho nạn nhân. Trong trường hợp nạn nhân từ chối sự
chăm sóc của người đã gây tổn thương cho mình. Điều này là hoàn toàn phù hợp về
tâm lý và người có hành vi bạo lực cũng phải tôn trọng và thực hiện điều đó.
Phù hợp với những quy định của pháp luật dân sự, người thực hiện hành vi bạo
lực cũng phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và
theo quy định của pháp luật. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 không
22
SVTH: 

GVHD: 
nhắc tới quyền mà chỉ quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình.
Điều này trước hết có lẽ bởi vì những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật, nên họ phải chịu những trách nhiệm nhất định và không được hưởng sự bảo vệ
của pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo một khía cạnh khác
thì chúng ta có thể thấy, nghĩa vụ mà Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007
nêu lên cũng đã hàm chứa một số quyền của họ: quyền được nhận sự can thiệp hợp
pháp, quyền được thực hiện các hành động nhằm khắc phục hậu quả do hành vi của
mình gây ra. Nếu nhìn nhận một cách tổng quát, chúng ta có thể thấy rằng những

chóng cũng như tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến, mức độ của hành vi bạo lực; họ
cũng là người có khả năng thành công trong việc giáo dục, thuyết phục người có
hành vi bạo lực thay đổi hành vi bởi vì hai bên có sự hiểu biết về nhau, có mối quan
hệ thân thiết với nhau, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em.
Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy nhiều trường hợp các thành viên khác trong gia
đình đã cổ vũ, khuyến khích cho hành vi bạo lực xảy ra như: ông bà yêu cầu phải
nghiêm khắc khi dạy dỗ cháu; mẹ để mặc cha đánh con hoặc ngược lại… Những
24
SVTH: 

GVHD: 
hành động này phần nhiều không xuất phát từ ý xấu mà chỉ là do quan niệm khác
nhau của mỗi người, nhưng lại tác động rất lớn tới người thực hiện hành vi bạo lực:
họ chịu áp lực “phải” thực hiện hành vi nếu không muốn bị người nhà chê bai, khiển
trách; đồng thời khi được ủng hộ, họ càng thấy tự tin, càng cho rằng hành vi đó là
đúng đắn và cần thiết.
Chính vì vậy, pháp luật đã quy định gia đình và các thành viên gia đình phải có
những trách nhiệm, phải có sự chủ động nhất định trong phòng, chống bạo lực gia
đình: giáo dục, nhắc nhở, hòa giải mâu thuẫn giữa các thành viên, can ngăn người
có hành vi bạo lực; chăm sóc nạn nhân Đây là những việc họ hoàn toàn có khả
năng thực hiện, nhưng việc có thực hiện không, thực hiện như thế nào thì lại phụ
thuộc vào mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hoàn cảnh, Nhà nước không quy định đây là
nghĩa vụ mà chỉ là trách nhiệm của gia đình và các thành viên. Tuy nhiên, nếu có
những hành vi bị cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình thì họ phải chịu trách
nhiệm theo quy định của pháp luật. Cụ thể: một số hành vi bị pháp luật nghiêm cấm,
được quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 bao gồm:
“1. Các hành vi bạo lực gia đình quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Cưỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức người khác thực hiện hành vi bạo
lực gia đình.
3. Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status