Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A.LỜI NÓI ĐẦU
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hôn nhân gia đình cho thấy gắn liền
với việc giải quyết các quan hệ nhân thân là các quan hệ về tài sản của vợ chồng
mà cụ thể là việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng… Có thể
nói, trong vụ kiện ly hôn có yêu cầu chia tài sản là nhà, đất luôn là loại việc
thường xảy ra tranh chấp gay gắt. Mặc dù, đã trải qua nhiều cấp xét xử nhưng
các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại kéo dài. Nghiên cứu về Luật hôn nhân gia
đình hiện hành cùng với các văn bản hướng dẫn của ngành Toà án chúng ta có
thể thấy có các quy định cụ thể và rõ ràng là căn cứ cho việc giải quyết các tranh
chấp đến vấn đề tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, trong thực tế việc áp dụng các
quy định này tại các cấp Toà án vẫn là một vấn đề khá khó khăn, phức tạp và
còn tồn tại nhiều quan điểm đánh giá rất khác nhau.
Trong Bộ Luật Dân Sự Bắc Kỳ (1931) và Bộ Dân Luật Trung Kỳ (1936)
cho phép vợ chồng khi kết hôn được thoả thuận về nội dung của các quan hệ tài
sản nhưng các thoả thuận đó không được đi ngược lại nguyên tắc chồng là người
đứng đầu gia đình, là chủ khối tài sản của gia đình (Điều 104- Bộ Dân Luật Bắc
Kỳ; Điều 102 - Bộ Dân Luật Trung Kỳ). Người vợ goá mà kết hôn với người
khác sẽ mất quyền gia trưởng, phải đi khỏi gia đình, chỉ được mang theo tài sản
riêng và chỉ có quyền nhận một phần khối tài sản chung của vợ chồng nếu chồng
không có con (Điều 360- Dân Luật Bắc Kỳ; Điều 369 - Dân Luật Trung Kỳ).
Nếu không có tài sản riêng thì vợ goá kết hôn lại có thể được hội đồng gia tộc
bên chồng cấp cho một ít tài sản thuộc khối tài sản chung, tuỳ theo công sức
đóng góp của người vợ vào khối tài sản chung ấy (Điều 359 - Bộ Dân Luật
Trung Kỳ).
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã được Quốc hội khoá X thông qua
ngày 9/6/2000 tại Điều 27: "Quy định quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được
sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng thì chỉ là tài sản chung của

trên 365 ngày, trồng một lần cho thu hoạch trong nhiều năm và phải trải qua một
thời kỳ xây dựng cơ bản như: cao su, chè, cà phê, cam, quýt, cọ, dừa…
- Đất trồng cỏ: là đất sử dụng vào việc trồng cỏ để phục vụ việc chăn nuôi
gia súc như: bò, trâu..,
- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất chuyên dùng để nuôi trồng
thuỷ sản như: cá, tôm, cua và vừa nuôi trồng thuỷ sản vừa trồng trọt như với một
số loại cây như: đước, tràm…. Nhưng nuôi trồng thuỷ sản vẫn là mục đích chính
1.2. Đất lâm nghiệp:
Đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất làm nông nghiệp gồm
có: đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lâm nghiệp như: trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên nuôi
dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp
Như vậy, đất lâm nghiệp còn được hiểu là đất có rừng và đất không có rừng
được sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.
1.3. Đất ở:
Đất ở là đất trên đó là nơi cư trú của các cá nhân hộ gia đình và cộng đồng
con người. Đất này chiếm phần lớn trong và là thành phần lớn trong khu dân cư.
Đất ở bao gồm:
- Đất ở đô thị: được hiểu là đất để làm nhà, nơi cư trú của cá nhân, của hộ
gia đình, các khu trung cư và các công trình phục vụ đời sống, sinh hoạt của
người dân đô thị.
- Đất ở nông thôn: là đất của các hộ gia đình, cá nhân gồm đất để làm nhà ở
và các công trình phục vụ cho đời sống của gia đình. Như vậy khái niệm đất của
hộ gia đình ở nông thôn còn gọi là " đất thổ cư" gồm nền nhà, sân phơi, nhà
bếp… Ngoài ra còn có các loại đất để khai thác đá, cát làm đồ gốm nói chung là
làm vật liệu xây dựng.
2. Xác định tài sản chung, tài sản riêng là quyền sử dụng đất của vợ chồng
theo Luật Hôn nhân và Gia đình

trực tiếp (lao động sản xuất, tiền lương,....) hoặc gián tiếp thông qua các giao
dịch dân sự (buôn bán, đầu tư tìm kiếm lợi nhuận….). Hoa lợi, lợi tức có được
từ tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng cũng được coi là tài sản chung,
là thu nhập có được trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, tài sản chung của vợ
chồng là "thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập
hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ hoặc chồng
được thừa kế chung hoặc được tặng chung…." như vậy căn cứ vào nguồn gốc tài
sản và căn cứ pháp lý thời kỳ hôn nhân luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Những tài sản có nguồn gốc hợp pháp phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đều là
tài sản chung của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng còn là những tài sản
riêng của vợ chồng đã thoả htuận là tài sản chung. Điều này có thể hiểu: có
những tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng là do vợ hoặc chồng có được
trước khi kết hôn, được thừa kế, được tặng cho riêng về nguyên tắc là tài sản
riêng, tuy nhiên những tài sản này sẽ trở thành tài sản chung vợ chồng nếu như
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong thời kỳ hôn nhân có thoả thuận coi tài sản riêng là tài sản chung của vợ
chồng. Tài sản chung của vợ chồng còn là những tài sản mà khi xảy ra tranh
chấp không đủ căn cứ xác định là tài sản riêng của mỗi người.
Ngoài ra, phải xác định những tài sản do vợ, chồng tạo ra thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác mà mỗi
bên vợ, chồng có được kể từ khi vợ hcồng có đơn yêu cầu ly hôn được Toà án
thụ lý giải quyết. Những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác mà mỗi bên vợ,
chồng tạo ra trong thời gian giải quyết ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật điều trị
coi là tài sản chung và tài sản riêng của mỗi người theo quyết định của pháp luật
giống như trong thời kỳ hôn nhân.
Tất cả những tài sản nêu trên đều là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên,
trên thực tế. khi vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm yêu thương, gắn bó
trong vợ chồng đã hết, trước khi ly hôn, vợ hoặc chồng thường có hành vi phân

bình thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần
tài sản nào là của chồng trong một khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi có sự
phân chia tài sản chung của vợ chồng thì mới xác định được phần tài sản của
từng người trong khối tài sản chung đó.
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng được xác lập trong thời gian chung
sống như vợ chồng.
Theo Nghị quyết 35/2000/ NĐ - QH ngày 9/6/2000
Nghị định 77/2001/NĐ - CP của Chính phủ ngày 22/10/2001
Nghị quyết 02/2000/NQ - HĐTP của Toà án nhân dân tối cao ngày
23/12/2000
Theo các văn bản này thì những quyết định, những trường hợp nam nữ
chung sống với nhau vợ chồng mà chưa đăng ký kết hôn trước ngày Luật hôn
nhân 2000 có hiệu lực (1/1/2000) được giải quyết
- Đối với trường hợp Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987
(ngày luật 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai
bên có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của
luật 2000 để giải quyết.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng được xác lập họ mới thực hiện đăng
ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ
bước đầu chung sống như vợ chồng) chứ không phải chỉ được công nhận kể từ
ngày đăng ký kết hôn. (có thể hiểu đây là trường hợp đặc biệt theo nghị quyết
35/2000/ NĐ - QH ngày 9/6/2000 thì trường hợp này được "khuyến khích" đăng
ký kết hôn, sau khi luật hôn nhân năm 2000 có hiệu lực, có đăng ký kết hôn
hoặc không thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận trước pháp luật).
Đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 mà
có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với
nhau như vợ chồng thì theo quy định tại điểm b Khoản 3 - Nghị quyết 35 thì họ
có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn 2 năm kể từ ngày 1/1/2001 đến

kết hôn) mà có đủ điều kiện đăng ký kết hôn trong 2 năm, để hợp thức hoá quan
hệ vợ chồng của họ trước pháp luật (từ ngày 1/1/2001 đến 1/1/2003) nếu trong
thời gian này dù họ có đăng ký kết hôn hoặc không thì quan hệ vợ chồng của họ
vẫn được công nhận và phát sinh quan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ chung
sống với nhau như vợ chồng chứ không phải là từ ngày họ đăng ký kết hôn.
Nếu sau 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn theo thủ tục luật định thì
pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ. Nếu sau ngày 1/1/2003
mà họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập từ ngày
đăng ký kết hôn chứ không phải từ ngày chung sống với nhau như vợ chồng.
2.1.2. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất của vợ chồng
có sau khi kết hôn. Theo quy định của Bộ Luật dân sự và pháp luật về đất đai,
quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản có tính chất đặc thù. Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ
chức, các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (Điều 17, 18 Hiến pháp năm 1992), cá
nhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế
quyền sử dụng đất. Vợ chồng chỉ có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao
đất hoặc cho thuê đất, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn
thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Đối với quyền sử dụng đất vợ chồng
không có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu như đối với các tài sản khác
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
(không có quyền cho mượn, tặng cho, tiêu huỷ…). Đồng thời khi thực hiện
quyền sử dụng đất vợ chồng phải chịu những điều kiện chặt chẽ được quy định
trong pháp luật về hình thức, thời hạn, thực hiện quyền và mục đích sử dụng.
Quyền sử dụng đất thông thường là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu
nhập chính cho vợ chồng, xuất phát từ tính đặc thù, tầm quan trọng và vị trí đặc
biệt của quyền sử dụng đất trong đời sống gia đình. Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 đã có những quy định riêng, cụ thể để làm rõ chế độ pháp lý về loại

quyền sử dụng đất mà người vợ được giao.
Tuy nhiên, để tránh mâu thuẫn với quy định trong Luật đất đai sửa đổi năm
1998 được sử dụng đất phải đảm bảo đúng mục đích luật định thì sẽ không bị
Nhà nước thu hồi. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định đối với loại
đất gắn liền với mục đích sử dụng, nếu được Nhà nước giao cho vợ chồng thì
bắt buộc chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất đó. Nhưng nếu khi ly hôn người
không có đăng ký sở hữu đất đảm bảo đúng mục đích luật định thì không được
chia đất mà chỉ được tính phần giá trị của mình ra bằng tiền để được thanh toán.
2.2. Tài sản riêng
2.2.1. Tài sản riêng của vợ chồng (Điều 32 - Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000)
Trên cơ sở việc ghi nhận quyền sở hữu riêng của công dân tại Điều 58 hiến
pháp năm 1992, kế thừa và phát triển các quy định về tài sản riêng của vợ chồng
trong hôn nhân và gia đình năm 1986. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã
quy định quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng cụ thể hơn, tạo cơ sở
pháp lý thống nhất trong thực tế áp dụng Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 đã ghi nhận với tính chất chắc chắn khẳng định vợ chồng có
quyền có tài sản riêng.
Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cụ thể căn cứ xác
lập tài sản riêng của vợ chồng rộng hơn, cụ thể hơn, theo đó tài sản riêng của vợ
chồng gồm:
Tài sản riêng mà mỗi người có được trước khi kết hôn: đó có thể là thu
nhập do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp của bản thân mỗi
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
người: Tài sản riêng này cũng có thể do vợ, chồng được tặng cho, thừa kế. Tài
sản được thừa kế, được tặng cho riêng từng thời kỳ hôn nhân, phần tài sản này
nếu vợ hoặc chồng không tự nguyện nhập vào khối tài sản chung thì đương
nhiên vẫn là tài sản riêng của mỗi người.
Tài sản riêng mà vợ, chồng được chia từ tài sản chung của vợ chồng trong

đối với tài sản này trừ khi họ có thoả thuận nhập quyền sở hữu đất vào khối tài
sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao; quyền sử dụng đất được cho thuê;
quyền sử dụng đất được chuyển đổi; quyền sử dụng đất được thừa kế; quyền sử
dụng đất được chuyển nhượng; quyển sử dụng đất được thế chấp. Nhìn chung,
chế độ tài sản chung của vợ chồng về quyền sử dụng đất trong Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 đã tôn trọng và bảo vệ lợi ích cá nhân của vợ chồng, trên cơ
sở đó đảm bảo các lợi ích chung của gia đình, xã hội. Đây là yếu tố quan trọng
để đảm bảo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Tóm lại, quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn. Trong thực
tế, người chồng thường nắm giữ toàn bộ tài sản của gia đình và đứng tên trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất có
được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung đối với vợ chồng có ý nghĩa đảm bảo
sự bình đẳng của vợ chồng trong quan hệ về tài sản. Vấn đề chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi ly hôn là nhà cửa, quyền sử
dụng đất… rất phức tạp do các giấy tờ pháp lý liên quan cho nên quyền sử dụng
đất chỉ đứng tên một người và việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung
hoặc riêng để đảm bảo hành vi chính đáng đối với mỗi người là rất khó khăn.
Việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định một cách rõ ràng cụ thể về
quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được khi kết hôn, phải thoả thuận là tài sản
chung, hoặc là tài sản riêng với vợ chồng là cơ sở pháp lý cần thiết cho vấn đề
giải quyết tranh chấp khi chia tài sản chung của vợ chồng.
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status