BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠI HỌC
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
VŨ THỊ THU THỦY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI THỊ HUYỀN
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sỹ luật kinh tế đề tài
“ Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn giải quyết của Tòa án
nhân dân tỉnh Hải Dương ” là do tôi thực hiện trên cơ sở hướng dẫn khoa học của
TS. Giảng viên Bùi Thị Huyền
Các số liệu, kết quả, ví dụ trong Luận văn đảm bảo độ chính xác và tin cậy.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng đươc ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả
Vũ Thị Thu Thủy
LỜI CẢM ƠN
MỞ
ĐẦU……………………………………………………………………1
Chương1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất……………........7
1.1.1. Khái niệm thừa kế……………….……… ……………………....7
1.1.2. Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất………………………..… 9
1.1.3. Khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất…..…………..10
1.1.4. Các dạng tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất………………..11
1.2. Khái niệm và cơ sở quy định việc giải quyết tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất tại Tòa án………………………………………….……...11
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án....11
1.2.2. Cơ sở của quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử
dụng đất tại Tòa án……………………………………………………….…..14
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất tại Tòa án……………………………………………...…15
1.4. Sơ lược hình thành và phát triển của pháp luật về giải quyết thừa
kế quyền sử dụng đất tại Việt Nam…………………………………………..19
1.4.1. Thời kỳ từ năm 1945 đến trước năm 1980………………….….20
1.4.2. Thời kỳ từ năm 1980 đến năm 2003……………………….…. .21
1.4.3. Giai đoạn 2004 đến nay…………………………………….…..22
Chương 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN.
2.1 Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại toà án cấp sơ thẩm……24
2.1.1.Thụ lý vụ án………………………………….……………….....24
2.1.2.Chuẩn bị xét xử vụ án………………………………………......40
BLDS:
Bộ luật dân sự.
BTP:
Bộ tư pháp.
BTC:
Bộ tài chính.
CP:
Chính phủ.
BLDS:
Bộ luật dân sự.
HĐXX:
Hội đồng xét xử.
HĐTP:
Hội đồng thẩm phán.
QSDĐ:
TW
Trung ương.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn lực
và là thành phần quan trọng của môi trường sống có ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội
liên quan đến mọi người, mọi cơ quan, tổ chức, được nhà nước hết sức quan tâm.
Hiến pháp và Luật đất đai qua các thời kỳ đều khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân với rất nhiều quyền năng của người sử dụng đất. Chính vì ý nghĩa quan trọng của
đất đai, và các quyền của người sử dụng đất pháp luật cho phép nên trong đời sống
xã hội đã phát sinh nhiều loại tranh chấp đất đai, tranh chấp về thừa kế quyền sử
dụng đất.
Thừa kế quyền sử dụng đất là một quyền cơ bản của người sử dụng đất và
quyền thừa kế là quyền của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Đây là quyền
thể hiện rất rõ tính chất tự do ý chí, tự do định đoạt của chủ thể khi tham gia quan hệ
pháp luật dân sự về tài sản nói chung, quan hệ thừa kế nói riêng. Đặc biệt trong
trường hợp di sản là quyền sử dụng đất thì vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất còn
phải tuân thủ theo các chính sách đất đai của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay, các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất diễn ra ngày càng
nhiều với tính chất phức tạp, kéo dài chính vì thế thừa kế quyền sử dụng đất là một
vấn đề thời sự liên quan đến từng cá nhân, từng gia đình bởi quyền sử dụng đất là
một tài sản có giá trị lớn, các vấn đề thừa kế chủ yếu là liên quan đến đất giữa những
người có quan hệ gần gũi với nhau. Vì vậy, nếu giải quyết không dứt điểm, không
phù hợp sẽ gây mất đoàn kết trong gia đình, anh em từ đó ảnh hưởng tới trật tự xã
hội. Việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án góp phần giải
quyết chấm dứt mâu thuẫn giữa các đồng thừa kế. Chính vì thế việc nghiên cứu các
chung có nhiều luận văn cử nhân, cao học đã đề cập đến, nhưng nghiên cứu về giải
quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất trong phạm vi của một tỉnh thì chưa
được quan tâm chú ý. Những công trình nghiên cứu và giáo trình giảng dạy liên quan
đề cập đến như:
-“ Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của
Tiến sỹ Phùng Trung Tập, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2004.
-“ Một số vấn đề về thời hiệu thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” của
thạc sỹ Nguyễn Hải An.
2
Giáo trình luật tố tụng dân sự, Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công An
nhân dân, Hà Nội năm 2007
Giáo trình kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự. Trường đào tạo các chức
danh tư pháp Nhà xuất bản Công An nhân dân, Hà Nội năm 2004.
Sổ tay thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao năm 2009.
Tuy nhiên với những đề tài và các bài viết trên tác giả nghiên cứu tập chung
những vấn đề cơ bản chung nhất về thừa kế và về tố tụng. Trong khi đó vấn đề giải
quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án qua thực tiễn tại tỉnh Hải
Dương chưa từng được nghiên cứu dưới luận văn thạc sỹ. Vì vậy học viên chọn đề
tài “ Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn giải quyết của Tòa án
nhân dân tỉnh Hải Dương” là một đề tài chỉ nghiên cứu về tố tụng, qua đó thấy
được tiến trình giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án.
Vì vậy, khẳng định nghiên cứu đề tài này là đòi hỏi khách quan, cấp thiết,
vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn quan trọng.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tập trung nghiên cứu giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử
dụng đất theo pháp luật tố tụng dân sự. Qua đó chỉ ra được giải quyết tranh chấp thừa kế
đất đai mà nghiên cứu giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất gồm đất ở,
đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm là di sản thừa kế, đối tượng tài sản
được giải quyết trong tranh chấp thừa kế. Thuật ngữ “ Quyền sử dụng đất” sử dụng
trong phạm vi luận văn này được hiểu bao gồm ba loại đất nói trên.
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thừa
kế quyền sử dụng đất tại Tòa án cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê Nin là chủ nghĩa duy vật lịch sự, duy vật biện chứng; Tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư
pháp. Bên cạnh đó luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: So
sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng cùng được sử dụng có chọn lọc để
bình luận trong quá trình nghiên cứu.
4
Một số vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng mà Tòa án 2 cấp thuộc hệ
thống TAND tỉnh Hải Dương đã giải quyết được sử dụng có chọn lọc để nghiên cứu.
Các số liệu của TAND tỉnh Hải Dương được tham khảo để việc nghiên cứu toàn diện
và sâu sắc hơn.
7. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn có những điểm mới và đóng góp sau đây:
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một
cách tương đối hệ thống và toàn diện vấn đề: Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
tại Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm bằng các quy định Việt Nam, qua đó, bổ sung
thêm vào kho tàng lý luận của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, luật kinh tế. Góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Về thực tiễn: Qua nghiên cứu “ Tranh chấp về thừa kế về quyền sử dụng
đất từ thực tiễn giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” luận văn đã phân
tích khái quát tình hình thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng để rút ra
TRANH CHẤP THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
1.1.1. Khái niệm thừa kế.
Thừa kế là một phạm trù kinh tế có tính lịch sử xuất hiện đồng thời với quan
hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản
và quyền sở hữu tài sản của người đã chết cho người thừa kế là cá nhân còn sống, tổ
chức có quyền thừa kế. Người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản được
hưởng theo di chúc hoặc theo trình tự hàng thừa kế. Trong thời kỳ đầu của chế độ
cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào
địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc. Chế độ mẫu hệ với địa vị chủ đạo của
người phụ nữ đã tạo điều kiện cho việc thừa kế tài sản của các con và những người
quan hệ huyết thống của người mẹ. Nghiên cứu về thừa kế, Ph. Ăngghen viết trong
tác phẩm: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước: “theo chế độ
mẫu quyền nghĩa là chừng nào huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế
nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết. Tài sản
phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực
tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất nghĩa là
trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ”. [11,tr.79]
Như vậy sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc của thời kỳ cộng sản nguyên thủy
thừa kế được hình thành theo tập quán thị tộc. Theo đó tài sản của thị tộc do người mẹ quản
lý, khi người mẹ chết thì di sản được chuyển dịch cho những người thân thích trong thị tộc
7
và tài sản của thị tộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác, đây là hình thức thừa kế đầu
tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm duy trì cuộc sống chung cho thị tộc.
Thừa kế theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phát triển của
việc thừa kế tài sản theo huyết tộc.
vùng miền thậm trí việc chia di sản còn theo truyền thống dòng tộc. Con cháu trong
gia đình được hưởng di sản từ ông bà, cha mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên.
Hiện nay thừa kế là một quan hệ pháp luật được pháp luật điều chỉnh trong Bộ luật
dân sự 2005 và các văn bản pháp luật liên quan, trong đó các chủ thể của quan hệ
này có quyền nghĩa vụ nhất định. Người có tài sản trước khi chết có quyền định đoạt
tài sản của mình cho người khác, và những người này có quyền nhận hoặc không
nhận di sản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.1.2. Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất.
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, cho đến nay quyền của
người sử dụng đất không ngừng được phát triển. Từ chỗ người sử dụng đất chỉ có quyền
khai thác công dụng của đất đai, không có quyền mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế
chấp, thừa kế quyền sử dụng đất. Tóm lại người sử dụng đất không được pháp luật cho phép
thực hiện các giao dịch dân sự về đất đai. Hiến pháp năm 1992, Luật Đất đai năm 1993 và
Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời thì Nhà nước đã thừa nhận người sử dụng đất có 5 quyền,
Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời, Nhà nước đã thừa nhận người sử dụng đất có 10 quyền
Luật đất đai 2013 và trong tương lai các hạn chế về quyền sử dụng đất sẽ ngày càng ít đi.
Quyền năng của người quản lý, sử dụng đất hợp pháp sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn,
thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ thể và cùng quản lý khai thác đất đai có hiệu quả.
Trong các quyền năng của người sử dụng đất thì quyền thừa kế quyền sử dụng
đất có vị trí đặc biệt. Do tính chất đặc thù của loại tài sản này nên Bộ luật dân sự năm
1995 có quy định thừa kế quyền sử dụng đất thành 1 chương riêng nhưng Bộ luật dân
sự năm 2005 không còn quy định chế độ pháp lý riêng biệt về thừa kế quyền sử dụng
đất. Tuy nhiên khi giải quyết thừa kế quyền sử dụng đất thì phải vận dụng cả các quy
định Luật đất đai để giải quyết vụ việc sao cho phù hợp.
Theo quy định Điều 733 BLDS 2005: thừa kế quyền sử dụng đất được hiểu là
việc dịch chuyển quyền sử dụng đất của người chết cho người khác còn sống, cho tổ
9
-
Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất (thực chất là tranh
chấp quyền sử dụng đất hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị người khác
chiếm giữ, tranh chấp mốc giới, tranh chấp lối đi);
-
Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại
quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất
-
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất;
-
Tranh chấp quyền sử dụng đất trong các vụ án hôn nhân gia đình.
Còn tranh chấp về quyền sử dụng đất theo nghĩa hẹp chỉ bao hàm tranh chấp
về việc ai là người có quyền sử dụng đất.
Tranh chấp quyền sử dụng đất là một dạng tranh chấp dân sự, là mâu thuẫn,
bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng đối với đất đai khi
thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đất đai.
Khái niệm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là những mâu thuẫn xung
đột về quyền và lợi ích của những người được thừa kế, hoặc những người có quyền
liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất.
1.1.4. Các dạng tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.
vụ về tài sản do người chết để lại theo trình tự thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự
quy định. Vì vậy việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án có
đặc trưng riêng như sau:
Thứ nhất: Đặc trưng về thẩm quyền giải quyết.
Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất là nên việc xác định thẩm quyền giải
quyết tranh chấp thừa kế theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nếu có tranh
chấp về thừa kế quyền sử dụng đất thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Ngoài Tòa án ra thì không có cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
thừa kế quyền sử dụng đất, đây là đặc thù về thẩm quyền hoàn toàn khác với các
tranh chấp có liên quan đến đất đai. UBND hoặc văn phòng công chứng không có
thẩm quyền giải quyết mà chỉ có thẩm quyền công nhận, công chứng thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, đây không phải là cơ quan giải quyết
12
tranh chấp mà chỉ là hành vi pháp lý công nhận hoặc công chứng một sự kiện pháp
lý dựa trên cơ sở thống nhất thỏa thuận của các bên liên quan trong quan hệ pháp
luật đó.
Thứ 2: Đặc trưng về áp dụng pháp luật để giải quyết.
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là một loại tranh chấp dân sự vì vậy khi giải
quyết phải căn cứ vào:
-Các quy định Luật nội dung về vấn đề thừa kế: được quy đinh trong BLDS, quy định
của Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình, Luật nuôi con nuôi,
- Pháp luật tố tụng: quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết thì áp dụng Bộ luật
tố tụng dân sự để xem xét giải quyết.
Khi giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án cần phải nghiên cứu một
cách toàn diện đầy đủ và thống nhất các văn bản pháp luật liên quan việc áp dụng pháp luật đầy
đủ quyết định chất lượng của việc giải quyết án.
Thứ 3: Đặc trưng về trình tự thủ tục giải quyết
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đầy đủ tránh đưa thiếu người tham gia tố tụng khi giải
quyết vụ án Thẩm phán phải căn cứ vào lý lịch cá nhân người để lại di sản, tình trang hôn nhân,
chứng nhận kết hôn…. là cơ sở để xác định diện hàng thừa kế.
1.2.2. Cơ sở của quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng
đất tại Tòa án.
Xây dựng các quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất tại
Tòa án là cũng giống như xây dựng văn bản pháp luật nói chung thể hiện đặc trưng:
Tính thống nhất, tính quy tắc chung, hiệu lực văn bản và tính phù hợp. Đây là những
cơ sở khoa học để xây dựng văn bản pháp luật đạt hiệu quả cao trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội. Các quy định về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
tại Tòa án được xây dựng trên các cơ sở khoa học sau:
Xuất phát từ vị trí vai trò chức năng nhiệm vụ của Tòa án nhân dân thì Tòa án
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, nhiệm vụ của Thẩm phán được quy định
trong Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án nhân dân trong đó có nhiệm vụ xét xử. Xuất
phát từ quyền công dân được quy định trong Hiến pháp.
14
Xuất phát đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung đó là: sự bình
đẳng về quyền nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật khi tham gia tố
tụng. Các quan hệ tranh chấp dân sự hình thành trên cơ sở mâu thuẫn về lợi ích cá
nhân giữa các đương sự với nhau trong cuộc sống nên các chủ thể trong mối quan hệ
tranh chấp có quyền thỏa thuận hòa giải với nhau và được công nhận nếu thỏa thuận
đó là sự tự nguyện của các bên và không trái pháp luật. Vì vậy cần khuyến khích và
tạo điều kiện để các bên hòa giải với nhau khi giải quyết tranh chấp.
Việc giải quyết tranh chấp thừa kế là quyền sử dụng đất cũng như giải quyết
tranh chấp dân sự nói chung về thủ tục thì Tòa án khi giải quyết phải áp dụng các
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn để thi hành để giải
quyết, về luật nội dung thì áp dụng Luật đất đai, Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân gia
sử dụng đất nên tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất còn phải chịu sự điều chỉnh
của Luật đất đai có hiệu lực tại thời điểm mở thừa kế; và tranh chấp về thừa kế là
tranh chấp của những những người liên quan trong quan hệ huyết thống nên phải xác
định quan hệ hôn nhân, lý lịch cá nhân của người của người để lại di sản thì phải áp
dụng Luật hôn nhân gia đình để xem xét xác định những người được hưởng di sản.
Việc xác định chính xác văn bản pháp luật nội dung không chỉ có ý nghĩ quyết định
về đường lối giải quyết mà còn ảnh hưởng đến vấn đề như xác định quan hệ pháp
luật.
Về trình tự thủ tục khi giải quyết tranh chấp thì trước năm 2005 thì Tòa án
giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án thừa kế nói riêng thì giải quyết theo Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tuy nhiên Pháp lệnh này hết hiệu lực từ ngày
1/1/2005 do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được Quốc hội ban hành có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/1/2005 đến nay thì áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi
bổ sung năm 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012.
Bộ luật tố tụng dân sự ra đời năm 2004 là sự tổng kết có kế thừa các quy định
của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động. Bộ luật tố tụng dân
sự ra đời đã xây dựng những quy định chung, mang tính tổng quát đã tạo hành lang
pháp lý cho hoạt động xét xử của Tòa án. Bộ luật tố tụng dân sự là phương tiện để
16
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực dân
sự. Về cơ bản Bộ luật tố tụng dân sự có nhiều quy định mới tiến bộ bảo đảm tính
thống nhất và đồng bộ trong việc giải quyết vụ án dân sự. Đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế.
Những quy định của pháp luật nội dung như Luật đất đai, Luật hôn nhân gia
đình, có tính chất chuyên biệt – ngành. Hệ thống pháp luật của Việt Nam đang trong
giai đoạn hoàn thiện, văn bản hướng dẫn pháp luật chậm ban hành, có văn bản còn
này.
Thứ ba: Trình độ hiểu biết pháp luật của đương sự:
Những vụ án về thừa kế đa số là các tranh chấp về chia tài sản là quyền sử
dụng đất nên thường là vụ án hết sức phức tạp vì giá trị tài sản tranh chấp các bên
đương sự thường căng thẳng để bản thân họ được lợi hơn vì nên việc giải quyết gặp
nhiều khó khăn. Nếu các bên đương sự hợp tác có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của
Tòa án, cung cấp tài liệu chứng cứ, trình bày quan điểm nguyện vọng, thực hiện đầy
đủ quyền nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc
giải quyết sẽ thuận lợi đồng thời đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Tuy nhiên đương sự trong các vụ án tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
thường là có đương sự hiểu biết hạn chế về pháp luật, thái độ khi tham gia tố tụng
không tích cực không có hợp tác, phần lớn đương sự này là bị đơn, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn. Đương sự này họ thường chống đối như:
không viết tự khai; khai không trung thực; không nhận giấy triệu tập; không đến Tòa
án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án; không cung cấp tài liệu chứng cứ; cản trở
hoặc không cho thẩm định, định giá tài sản, không cung cấp địa chỉ của những người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan… những thái độ, hành động của đương sự như vậy
đã ảnh hưởng đến thời hạn, chất lượng giải quyết vụ án. Trên thực tế có nhiều vụ án
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất do các đương sự chống đối không cho thẩm
định, định gía tài sản nên không thể xác định mốc cõi đất, buổi định giá phải hoãn
nhiều lần, nếu có thẩm định, định giá được thì chỉ có thể ở bên ngoài quan sát và lập
biên bản mặc dù biết làm vậy là không chính xác và khách quan nhưng không còn
cách nào lựa chọn mà vẫn phải tiến hành.
18