MỤC LỤC
Mục lục
A. LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
2
3
4
I.
4
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Ly hôn là gì?
2. Nguyên tắc chia quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ chồng ly
hôn.
4
4
3. Chia quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn.
4
4. Chia quyền sử dụng nhà ở khi vợ chồng ly hôn.
6
1
Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội mà
trong đó kết hợp hài hòa lợi ích của công dân và nhà nước cũng như của xã
hội. Một thực trạng cho thấy, trong những năm vừa qua, các vụ ly hôn gia
tăng một cách đột biến, án kiện các vụ ly hôn không chỉ tăng lên về số lượng
mà còn đa dạng, phức tạp về nội dung tranh chấp, trong đó các vụ tranh chấp
chủ yếu diễn ra xoay quanh việc sở hữu quyền sử dụng đất và nhà ở khi vợ,
chồng ly hôn. Điều đó đòi hỏi tòa án phải có cách giải quyết chính xác, vừa
hợp lý vừa hợp tình, tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra do việc chia
không đúng không hợp lý.
Nhằm có cách hiểu sâu sắc và nắm vững những quy định về chia quyền
sử dụng đất, nhà ở của vợ, chồng khi ly hôn theo bộ Luật Hôn nhân và Gia
đình Việt Nam năm 2000, em xin chọn đề tài: “ Chia quyền sử dụng đất và
nhà ở của vợ chồng khi ly hôn – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm bài
tập học kì của mình.
B. NỘI DUNG
I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2
1. Ly hôn là gì?
Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do tòa án công nhận hoặc quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng.
Nếu kết hôn là một hiện tượng bình thường nhằm xác lập mối quan hệ
vợ chồng thì ly hôn lại là một hiện tượng bất bình thường, nó là mặt trái của
“1. Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực
hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả
hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia
3
theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án
giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng
đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần
giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần
quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm
a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng,
đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật này;
d) Việc chia quyền sử dụng đối với các loại đất khác được thực hiện theo quy
định của pháp luật về đất đai và pháp luật dân sự.
3. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà không có quyền
sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có
quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết
theo quy định tại Điều 96 của Luật này” (Điều 97 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2000).
Thực tế, trong quá trình giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai của vợ
chồng khi ly hôn gặp rất nhiều bất cập gây khó khăn cho tòa án và việc hưởng
quyền lợi của các bên. Để giải quyết các bất cập này, và thống nhất trong quá
vợ, chồng đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê) và được quy định cụ thể
tại các Khoản 1, 2, 3 Điều 25 Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 03/10/2001.
• Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng được chuyển nhượng,
chuyển đổi, thừa kế chung, nhận thế chấp (Điều 26):
“1. Khi ly hôn, việc chia quyền sử dụng đất do vợ chồng được chuyển đổi,
chuyển nhượng, thừa kế chung được thực hiện theo quy định tại Điều 95 của
Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Trong trường hợp vợ chồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất của người
thứ ba thì khi ly hôn, quyền nhận thế chấp đất cũng thuộc khối tài sản chung
của vợ chồng và được chia theo quy định tại Điều 95 của Luật Hôn nhân và
gia đình.”
• Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng giao chung với hộ gia đình :
Theo Điều 27 quy định: “sau khi kết hôn, phần quyền sử dụng đất của
vợ hoặc chồng và của con không tiếp tục sống chung với hộ gia đình được
tách ra và chia theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 97 của Luật Hôn nhân
và gia đình.”
Như vậy, nhìn một cách tổng quan ta có thể thấy việc chia quyền sử
dụng đất của vợ chồng khi ly hôn trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 đã có được những điểm khả quan, đạt hiệu quả tốt hơn so với các bộ luật
trước đây, mặc dù vẫn còn gặp một số vấn đề nan giải trong chia tài sản nói
chung và chia quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn nói riêng.
Chính vì vậy đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải nỗ lực
hơn nữa trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật
một cách đồng bộ, cụ thể và hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc xác định giá trị
tài sản.
4. Chia quyền sử dụng nhà ở khi vợ chồng ly hôn.
• Chia quyền sử dụng nhà thuộc sở hữu chung của vợ chồng:
Cũng như quyền sử dụng đất thì nhà là một loại tài sản có giá trị thực tế
và giá trị sử dụng rất lớn, chủ yếu trong khối tài sản chung của vợ chồng.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt nghiệm trọng sau khi ly hôn mà vợ chồng vẫn ở
chung nhà (có thể là được ngăn đôi hoặc vợ ở tầng trên, chồng ở tầng dưới),
mà sau khi ly hôn do những mâu thuẫn đã xảy ra trong thời kỳ hôn nhân họ
vẫn còn để bụng, họ thù ghét nhau điều này sẽ gây ra những bất tiện cho cuộc
sống của cả hai người trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong đời tư của
mỗi người. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà
ngôi nhà đó không thể chia được (do diện tích quá nhỏ, do cấu trúc ngôi nhà
không thể chia được...) thì bên được tiếp tục sử dụng ngôi nhà phải sử dụng
nhà ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị ngôi nhà mà họ được hưởng.
Nếu giá trị ngôi nhà nhiều hơn giá trị tài sản được chia thì bên sở hữu ngôi
nhà phải thanh toán cho bên kia phần giá trị mà họ được hưởng, theo mức giá
thị trường ở địa phương nơi họ đang sinh sống vào thời điểm diễn ra xét xử.
Các trường hợp này cần phải nhấn mạnh ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính
đáng của người vợ và con chưa thành niên, hoặc con đã trưởng thành nhưng
mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có tài sản
để tự nuôi mình. Trên thực tế khi giải quyết các trường hợp này gặp rất nhiều
khó khăn khi áp dụng các quy định của pháp luật, gây thiệt thòi đặc biệt là
phụ nữ.
6
• Chia quyền sử dụng nhà thuộc sở hữu riêng của một bên:
Theo Điều 99 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Trong
trường hợp nhà thuộc sở hữu riêng của một bên đã được đưa vào sử dụng
chung thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà,
nhưng phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị nhà, căn cứ vào công sức
bảo dưỡng, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa nhà”.
Như vậy, nhà ở có thể là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng, có
thể là tài sản riêng của vợ, chồng hay nhà đó thuộc quyền sở hữu của người
khác hoặc nhà nước mà vợ chồng khi kết hôn đã thuê của nhà nước để sủ
nhau về phần diện tích mà mỗi bên được thuê và làm lại hợp đồng với chủ sở
hữu nhà.
7
2. Trong trường hợp thời hạn thuê đang còn mà chủ sở hữu nhà chỉ đồng ý
cho một bên được tiếp tục thuê nhà, thì các bên thoả thuận về việc một bên
được tiếp tục thuê.
3. Trong trường hợp nhà ở thuê đã nâng cấp, sửa chữa cải tạo, xây dựng
thêm diện tích gắn liền với nhà thuê và được sự đồng ý của chủ sở hữu nhà,
thì bên tiếp tục ở phải thanh toán cho bên kia phần giá trị nhà đã nâng cấp,
sửa chữa, cải tạo, xây dựng thêm mà bên đó được hưởng vào thời điểm chia
tài sản khi ly hôn.
4. Trong trường hợp xây dựng thêm diện tích nhà độc lập với diện tích thuê
và được sự đồng ý của chủ nhà, các bên đã thanh toán tiền sử dụng đất cho
chủ nhà, thì việc chia nhà ở đó thực hiện theo quy định tại Điều 95 của Luật
Hôn nhân và gia đình”( Điều 29 Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 03/10/2001).
• Trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên:
“1. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng
đã đưa vào sử dụng chung, thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng
của chủ sở hữu nhà, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Bên vợ hoặc
chồng sở hữu nhà có nghĩa vụ hỗ trợ cho bên kia tìm chỗ ở mới, nếu bên kia
có khó khăn và không thể tự tìm được chỗ ở mới. Bên chưa có chỗ ở được lưu
cư trong thời hạn 6 tháng để tìm chỗ ở khác.
2. Trong trường hợp nhà ở đó đã được xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa,
cải tạo, thì chủ sở hữu nhà phải thanh toán cho bên kia phần giá trị nhà đã
xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa, cải tạo mà bên đó được hưởng vào thời
điểm chia tài sản khi ly hôn” (Điều 30 Nghị định số 70/NĐ-CP ngày
03/10/2000).
II.
chị Anh giá trị phần tài sản mà chị đã tu bổ, sửa chữa, cải tạo ngôi nhà và lưu
cư ở nhà anh Công trong vòng 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp
luật, để chị có thể ổn định cuộc sống, tìm chỗ ở mới.
b. Ví dụ 2:
Chị Lê Thị Oanh và anh Trần Văn Quảng cùng quê ở Vĩnh Tường, Vĩnh
Phúc kết hôn với nhau từ năm 1980 và đã có hai con gái. Trong gia đình, chị
Oanh là người cáng đáng vấn đề tài chính, vợ chồng chị buôn bán phụ tùng xe
máy, dành dụm được một khoản tiền lớn để mua căn nhà tại phố Minh Khai,
Hà Nội và mở một cửa hàng bán buôn phụ tùng xe máy ngay giữa trung tâm
thành phố. Vào đầu năm 2000, chị Oanh bán căn nhà ở Minh Khai và mua
một biệt thự rộng 200m2 tại khu đô thị mới Linh Đàm trị giá 3 tỷ. Sau khi
chứng kiến tận mắt anh Quảng bồ bịch và có con riêng, hơn nữa còn chửi rủa
đánh đập mình, chị Oanh đã quyết định ly dị chồng.
Khi Tòa án giải quyết về vấn đề phân chia tài sản, anh Quảng một mực
khăng khăng nhận ngôi nhà và cửa hàng là tài sản riêng và anh ta có giấy tờ
chứng minh quyền sở hữu những tài sản đó. Chị Oanh mới bất ngờ nhận ra
chỉ vì quá tin chồng mà tất cả mọi tài sản từ nhà xưởng, đất đai, cửa hàng đều
đứng để chồng đứng tên, ngoại trừ chiếc xe máy mới mua còn đứng tên chị.
Chị khóc thảm thiết kể về những năm tháng khó khăn, chắt chiu, kham khổ
dựng lên cơ nghiệp ngày hôm nay mà chỉ do không có chứng cớ nào chứng
minh đó là tài sản của chung thì chị sẽ mất trắng. Sau đó, chị Oanh đưa ra
chứng cứ về giấy nộp tiền cho công ty nhà đất là do người vợ đi nộp. Nhờ có
chứng cứ này Tòa án đã căn cứ vào Điều 98 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, công nhận căn biệt thự đó là tài sản chung và chia cho mỗi vợ chồng
một nửa giá trị. Còn cửa hàng buôn bán phụ tùng xe máy thì thuộc về người
chồng do không có chứng cứ chứng minh đó là tài sản chung. Mỗi tháng,
người chồng còn chu cấp cho vợ một số tiền để nuôi dưỡng hai con cho đến
khi chúng 19 tuổi. Phiên tòa kết thúc, người vợ ra về với nỗi đau vì sự thiếu
hiểu biết và quá cả tin của mình. Nhưng như lời chị nói với Ban hội thẩm, chị
vẫn còn tài sản quý nhất là hai đứa con và nhất định chị sẽ xây dựng lại cuộc
180m2 đất nói trên vẫn thuộc quyền sử dụng của chị Loan và anh Rư, là tài
sản chung của anh chị, anh Rư sẽ phải chịu trách nhiệm đối với số tiền mà
anh đã nhận của anh Sáng. Căn cứ vào điểm a, Khoản 2, Điều 97 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 và căn cứ vào tình hình thực tế của hai bên, xét
thấy chị Loan có như cầu thiết yếu hơn về việc sử dụng đất nên Hội đồng xét
xử đã xem xét và quyết định giao toàn bộ quyền sử dụng đất chung của vợ
chồng cho chị Loan sử dụng và đồng thời cũng yêu cầu chị Loan phải thực
hiện nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch phần tài sản của anh Rư bằng ½ giá
trị quyền sử dụng đất.
2. Các biện pháp nhằm hoàn thiện việc chia quyền sử dụng đất và
nhà ở khi vợ chồng ly hôn.
Thứ nhất, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, cơ quan xét xử:
Thực tế cho thấy các bản án xét xử của cấp sơ thẩm còn phạm phải
nhiều sai lầm, dẫn đến việc bản án phải đến cấp phúc thẩm mới xử đúng.
10
Chính vì vậy, chúng ta cần mở nhiều lớp đào tạo nghiệp vụ để nâng cao năng
lực, đồng thời giúp cho các cán bộ trẻ có dịp cọ sát, học hỏi tích lũy kinh
nghiệm, trao đổi kinh nghiệm giữa các cán bộ. Tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra xét xử ở các Tòa án huyện, kịp thời giải quyết những khó khăn
vướng mắc còn tồn tại. Chú trọng đến hoạt động xét xử, chuyên môn, thẩm
quyềncủa các Tòa án nhân dân cấp huyện. Mở các cuộc thi về giải quyết tranh
chấp quyền sở hữu đất và nhà ở.
Thứ hai, nâng cao hiểu biết về pháp luật của người dân:
Tuyền truyền, phổ biến, giáo dục, đặc biệt là các huyện vùng sâu vùng
xa, các tổ chức, đoàn thể, cơ quan...
Thứ ba, Nhà nước cần có các quy định cụ thể hơn về đường lối giải
quyết các vấn đề tranh chấp về quyền sử dụng đất và nhà ở khi ly hôn...
Đặc biệt trong trường hợp người phụ nữ về làm dâu (thậm chí là vợ
Danh mục tài liệu tham khảo:
12
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Hôn nhân và Gia đình Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế, Giáo trình luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.
3. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
13