Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại tòa án nhân dân thành phố sơn la - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐÀO VIỆT LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐÀO VIỆT LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103


Xã hội chủ nghĩa
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân
Thi hành án dân sự


MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 4
4. Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu đề tài................................ 5
5. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài .................................................... 6
6. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 6
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA
VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ........................................................................... 7
1.1 Khái quát chung về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn ........................................................................................................... 7
1.1.2. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng ............................... 18
1.1.3 Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ................................ 25
1.2. Nguyên tắc chung giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn ......................................................................................................... 29
1.2.1. Theo Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng ................... 30
1.2.2. Quyền sử dụng đất trong chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định . 30

Kết luận Chương 3 .......................................................................................... 73
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ly hôn là mặt trái, bất bình thường của quan hệ hôn nhân nhưng không
thể thiếu được khi hôn nhân đã tan vỡ. Bởi lẽ, ly hôn cũng là một hiện tượng
xã hội, phản ánh hiện thực xã hội. Quyền tự do hôn nhân, trong đó có quyền
tự do ly hôn là quyền nhân thân của vợ chồng, quyền con người mà pháp luật
các nước văn minh, tiến bộ ghi nhận. Trong xã hội hiện đại ngày nay, hiện
tượng ly hôn đang tăng nhanh ở các quốc gia. Theo số liệu thống kê những
năm gần đây cho thấy, tỷ lệ ly hôn hàng năm ở nhiều quốc gia luôn chiếm
25% so với kết hôn, nghĩa là cứ trong 4 cặp đôi đăng ký kết hôn thì có 1 cặp
vợ chồng ly hôn. Trước đây, nhiều người vẫn quan niệm, ly hôn thường xảy
ra ở các cặp vợ chồng trẻ nhưng cuộc sống xã hội ngày nay xuất hiện cả
những trường hợp vợ chồng chung sống với nhau đã nhiều năm. Nhiều đôi vợ
chồng già sống qua thời bao cấp thương yêu, đùm bọc, hòa thuận và đã lên
ông lên bà, con cái đã khôn lớn trưởng thành nhưng vì nhiều lý do lại khó hòa
hợp vẫn dẫn đến ly hôn. Khi vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn tình cảm thương yêu
gắn bó giữa vợ chồng không còn thì thường vợ chồng có tranh chấp gay gắt
về tiền bạc, tài sản, trong đó có tranh chấp về quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn. Tranh chấp đất đai tiếp tục là vấn đề phức tạp và ngày càng phổ
biến ở Việt Nam. Vì thế mà các quan hệ về đất đai cần có những chế định
pháp luật điều chỉnh nhằm ổn định trật tự chung trong xã hội. Đặc biệt cần
xem xét việc giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quan trọng trong
hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai và là những biện pháp để pháp

chồng khi ly hôn của Tòa án còn nhiều lúng túng, khó khăn. Vì vậy, việc tác
giả nghiên cứu về “Áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về quyền sử
dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La”
với mong muốn và mục đích góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật
nhằm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng ly hôn là rất
cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn là một
trong những vấn đề khá phổ biến trong xã hội, luôn là chủ đề được xã hội
quan tâm. Đặc biệt những năm gần đây, có nhiều tác giả nghiên cứu viết về đề
tài này:
Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu
trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật HN&GĐ Việt Nam


3

(Nguyễn Văn Cừ, luận án tiến sĩ, 2005); Xác định chế độ tài sản của vợ
chồng- một số vấn đề lý luận và thực tiễn (Nguyễn Hồng Hải, Luận văn thạc
sĩ, 2002); … Các côngtrình này hoặc có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến
nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề tài sản vợ chồng, hoặc chỉ giải quyết
một khía cạnh nhỏ trong chế định chia tài sản chung của vợ chồng.Nguyễn
Thị Ngọc Lan (2008): “Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn
theo Luật HN&GĐ năm 2000”, luận văn thạc sỹ luật học - KhoaLuật – Đại
học quốc gia Hà Nội; TS. Doãn Hồng Nhung (2009), “Pháp Luật Đất đai và
vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 23, (169) tháng 12/2009, tr. 48-50; Tác giả Hạnh Nguyên (2013), Bài viết
“Quyền về đất đai của phụ nữ sau ly hôn: vẫn thiệt đơn, thiệt kép”, Phụ nữ
Việt Nam, 44 (3779), tr.14; Tác giả Hoàng Thị Thái Hoa (2005), “Vấn đề ly
hôn – nhìn từ sự tác động của yếu tố văn hóa truyền thống”, thông tin khoa

trị quốc gia, Hà Nội); Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam (Nguyễn
Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong các cuốn sách
trên, chế định chia tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được phân tích một
cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích một cách
chuyên sâu và cụ thể.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và nội
dung pháp luật thực định về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của
vợ chồng khi ly hôn; thực tiễn thực thi pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất
của vợ chồng khi ly hôn ở TAND thành phố Sơn La. Trên cơ sở đó, kiến nghị
và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về tranh chấp
quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn nói chung và trong thời gian tới
trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng. Với mục đích như trên, các nhiệm vụ mà
Luận văn phải giải quyết là:
Thứ nhất, nghiên cứu (khái quát chung) về cơ sở lý luận tranh chấp
quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn về việc giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại TAND thành phố Sơn La.
Thứ ba, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về giải
quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn hiện nay ở nước
ta nói chung và ở TAND thành phố Sơn La.
Thứ tư, nghiên cứu, chỉ rõ những bất cập, hạn chế khi áp dụng quy định
pháp luật thực định về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn ở TAND nói chung và ở TAND thành phố Sơn La.


5

Thứ năm, đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện thực
thi pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly


6

Phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin: Phương pháp nghiên cứu
này chủ yếu là tìm kiếm, thu thập thông tin qua các tài liệu được lưu trữ trong
thư viện trường đại học Luật Hà Nội và một số cơ sở dữ liệu khác.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận; quy định
pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất của vợ chồng khi ly hôn nói chung và tại TAND thành phố Sơn La nói riêng.
Phạm vi đề tài không nghiên cứu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
đất của vợ chồng khi ly hôn có yếu tố nước ngoài.
5. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài
- Luận văn nghiên cứu làm rõ hơn cơ sở lý luận về quyền sử dụng đất là
tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp quyền
sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn tại TAND thành phố Sơn La;
- Nghiên cứu phát hiện những vướng mắc, bất cập, hạn chế trong thực
tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn tại TAND thành phố Sơn La;
- Từ đó chỉ rõ những nguyên nhân (chủ quan và khách quan) dẫn đến
những tranh chấp kéo dài, những hạn chế, vướng mắc khi áp dụng pháp luật;
theo đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật và giải
pháp cho giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn đạt
hiệu quả cao trong thực tiễn, đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay ở nước ta, cũng như đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng phát
triển của người dân hiện nay
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Lý luận cơ bản giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của

thiên chúa), bởi vì theo họ quan hệ vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý
Chúa. Khi kết hôn trở thành vợ chồng thì vợ chồng phải chung sống với nhau
suốt đời, không thể bỏ nhau được. Một số nước thì hạn chế ly hôn bằng cách
đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt hoặc quy định giải quyết ly hon
dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng mà không phản ánh được bản chất của hôn
nhân đã tan vỡ. Cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do dân
chủ của cá nhân, của vợ chồng.
Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn
chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện
nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ


8

chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly
hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu
nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung
sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó
giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải
quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là
hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình. Theo
Lê-nin: “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những
mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên
những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một
xã hội văn minh”. Nhưng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly
tán gia đình, vợ chồng, con cái. Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm
hiểu kỹ nguyên nhân và bản chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn
nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia
đình, lợi ích của nhà nước và của xã hội.
Như vậy, ly hôn chính là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,

định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định
thủ tục và căn cứ để Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của vợ chồng tại
Điều 55 và Điều 56. Theo nguyên tắc chung, dù hai vợ chồng thuận tình ly
hôn hoặc một bên vợ, chồng yêu cầu ly hôn; dù cho vợ, chồng yêu cầu ly hôn
với bất kỳ lý do nào,nếu Tòa án hòa giải không thành thì chỉ được xét xử cho
vợ chồng ly hôn khi xét thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nội dung căn cứ
ly hôn phản ánh tình trạng, bản chất của hôn nhân đã tan vỡ.
1.1.1.2. Khái niệm tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng
khi ly hôn
Theo Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự tranh giành nhau
một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào. Tranh chấp về tài sản vợ
chồng thường xảy ra chủ yếu và gần như đồng thời cùng với việc ly hôn, điều
này là hợp lý bởi lẽ khi ly hôn thì vợ chồng đã có sự sứt mẻ về tình cảm, sự
yêu thương, gắn bó “yêu nhau củ ấu cũng tròn” trong thời kỳ hôn nhân không
còn nên cùng với việc ly hôn họ sẽ có sự tranh giành, hơn thua nhau trong vấn
đề phân chia tài sản. Việc tranh chấp về chia tài sản chung có thể diễn ra cùng
với việc vợ, chồng xin ly hôn hoặc có thể diễn ra sau khi vợ chồng đã ly hôn
do thời điểm ly hôn vợ, chồng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà
để họ tự thỏa thuận nhưng sau đó họ không tự thỏa thuận được. Việc vợ


10

chồng tranh chấp về tài sản đồng thời với việc ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều
được coi là tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn là
một dạng cụ thể của tranh chấp đất đai. Vì vậy trước khi đi tìm hiểu tranh
chấp quyền sử dụng đất theo pháp luật thì chúng ta phải hiểu tranh chấp đất
đai là gì? Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 lại tiếp tục giữ nguyên

Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình
Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa
đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất”
Thứ ba, Điều 160 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về
thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“Tranh chấp đất đai trong Trường hợp các bên tranh chấp không có
GCN QSD đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các
khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì các bên tranh chấp gửi đơn đến
cơ quan hành chính để được giải quyết. Cơ quan hành chính các cấp giải
quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau:
1. Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, TP. thuộc tỉnh giải quyết đối với
tranh chấp đất đai giữa HGĐ, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau.
Trường hợp không đồng ý với QĐ giải quyết của Chủ tịch UBND
huyện, quận, thị xã, TP. thuộc tỉnh thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn
xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Chủ tịch UBND tỉnh, TP. trực thuộc
TW.; QĐ giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND tỉnh, TP. trực
thuộc TW. là QĐ giải quyết cuối cùng.
2. Chủ tịch UBND tỉnh, TP. trực thuộc TW. giải quyết đối với tranh
chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người VN định cư ở nước ngoài, tổ
chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn
giáo, người VN định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước
ngoài với HGĐ, cá nhân, cộng đồng dân cư.
Trường hợp không đồng ý với QĐ giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh,
TP. trực thuộc TW. thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn xin giải quyết
tranh chấp đất đai đến Bộ Tài nguyên và Môi trường; QĐ giải quyết tranh
chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là QĐ giải quyết
cuối cùng”


trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài
sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc
không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì


13

đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất
đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực
hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng
ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật
về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn
giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng
ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của
pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều
này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh

dựng nhà ở, làm ăn sinh sống là hết sức cần thiết. Việc phân định đâu là tài
sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ chồng tưởng chừng không quan trọng,
nhưng trong cuộc sống có thể nảy sinh rất nhiều vấn đề cần đến việc xác định
tài sản chung, riêng của vợ chồng để bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng, con cái
trong gia đình cũng như người thứ ba có liên quan.
Tuy nhiên, hiện nay, việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung,
tài sản riêng của vợ, chồng cũng gặp không ít khó khăn do đây là loại tài sản
đặc thù nên khi xác định là tài sản chung, riêng cũng có điểm riêng biệt, phức
tạp hơn so với các loại tài sản thông thường khác. Quan trọng hơn nữa là quy
định của pháp luật hiện hành về xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ,
chồng còn dễ gây ra các cách hiểu khác nhau và khó áp dụng. Chính vì vậy,
trong phạm vi luận văn, tác giả xin được đưa ra một số vấn đề khi xác định tài
sản chung, tài sản riêng là quyền sử dụng đất của vợ, chồng.


15

Thứ nhất, Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc hình thành tài
sản thì về nguyên tắc, trong thời kỳ hôn nhân, nếu vợ hoặc chồng tạo ra hay
có được những tài sản và thu nhập hợp pháp (trừ nguồn gốc là tài sản riêng)
đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 33 Luật
HN&GĐ năm 2014). Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm hoa lợi, lợi
tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân; những tài
sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung; tài sản riêng của
vợ, chồng đã tự nguyện nhập vào tài sản chung.
Thứ hai, căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo khoản1
Điều 34 Luật HN&GĐ thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng phải ghi tên cả vợ và chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên của cả hai vợ
chồng, thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, có trường hợp giấy

vợ, chồng, nếu có tranh chấp buộc họ phải chứng minh; trường hợp không
chứng minh được là tài sản riêng thì được suy đoán xác định là tài sản chung
của vợ chồng. Bên cạnh đó, đối với chủ nợ của vợ hay chồng họ cần phải xác
định tài sản riêng để kê biên đảm bảo thi hành án nhưng làm thế nào để người
đó có được chứng cứ chứng minh tài sản riêng của vợ, chồng khi mà cả hai vợ
chồng cố ý cho đó là tài sản chung. Vì vậy, trong tương lai, việc quy định ghi
tên cả hai vợ chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu hay sử dụng tài sản
chung vẫn cần được áp dụng và phải thực hiện triệt để, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc giải quyết của Tòa án, bảo đảm quyền lợi của vợ, chồng cũng như
những người khác có liên quan.
Tại Việt Nam trong những năm gần đây có các dạng tranh chấp liên
quan đến đất đai sau:
Nhóm thứ nhất: Tranh chấp xác định chủ thể có quyền sử dụng
đất. Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan
đến các giao dịch về đất đai và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Về bản
chất khi giaỉ quyết tranh chấp này tòa án phải xác định quyền sử dụng đất
thuộc về ai. Theo điển a, khoản 3 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được
sửa đổi và bổ sung năm 2011, có hiệu lực kể từ ngày 1/01/2012 thì dạng tranh
chấp này không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Các tranh chấp phổ biến trong trường hợp này là tranh chấp về ranh
giới đất liền kề, ngõ đi, cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng bị trùng diện tích, người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhưng chủ cũ đòi lại đất hoặc chủ cũ được cấp giấy chứng


17

nhận quyền sử dụng đất nhưng người sử dụng đất cho rằng việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng.
Nhóm thứ hai: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về quyền sử

18

nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ,
cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác….gắn liền
với quyền sử dụng đất đó. Tranh chấp trong trường hợp này có thể là tranh
chấp về ai là người có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thừa kế hoặc
tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản, thừa kế
hoặc tranh chấp về các hợp đồng liên quan đến tài sản gắn liền với đất.
1.1.2. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng
1.1.2.1. Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng:
Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2015 và
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết về một số
điều và biện pháp thi hành Luật HNGĐ (có hiệu lực từ ngày 15/2/2015) đã
quy định tương đối cụ thể, rõ ràng về căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ,
chồng. Theo Luật HN&GĐ, tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi
bên có từ trước khi kết hôn; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được
tặng, cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng
theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của luật HN&GĐ; tài sản phục vụ nhu
cầu thiết yếu của vợ, chồng và các tài sản khác mà theo quy định của pháp
luật là tài sản riêng của vợ, chồng.
Theo Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014, quy định:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi
kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn
nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39
và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài
sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”
Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật gồm:
- Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp
luật sở hữu trí tuệ.
- Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết

với nhân thân của vợ, chồng.
1.1.2.2. Nội dung quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng
Theo nguyên tắc chung, vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt đối với tài sản riêng của mình.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status